Có thể nói một cách tóm tắt, sự phát triển của phong trào Cộng sản thế giới từ cuối thế kỷ 19 cho đến lúc sụp đổ vào cuối thế kỷ 20 đã trải qua ba giai đoạn với ba khẩu hiệu chính: Thoạt đầu, với Marx và Engels, đó là chống chủ nghĩa tư bản; với Lenin và Stalin, là chống chủ nghĩa đế quốc; với các nhà lãnh đạo sau Stalin, là chống chủ nghĩa thực dân mới.
Bàn về dân chủ, không thể không nói về dân chủ trong đảng. Lênin đã tạo ra một chế độ chuyên quyền trong đảng khi thủ tiêu phái gọi là mensevich. Chế độ xô viết toàn trị được Xtalin hoàn chỉnh ngày càng chặt chẽ, được áp dụng ráo riết ở Nga, Tàu, Việt, những người đối lập bị đàn áp, thủ tiêu. VN cũng đã thực hiện rất nghiêm chỉnh. Trong đảng quyền dân chủ của đảng viên bị thu hẹp lại thành cái mà HCM gọi là quyền phục tùng chân lý, mà chân lý bị hiểu là ý kiến của lãnh đạo!
Toàn dân có điều kiện thuận lợi hơn để thể hiện thẩm quyền lập hiến khi sống trong một nước dân chủ. Việc phát triển và thực hành các thủ tục dân chủ dễ dàng gây ảnh hưởng này, dù là gián tiếp. Ngược lại, việc thể hiện này quá khó khăn trong một đất nước toàn trị.
Theo Sieyès, quan trọng nhất là cần phân biệt hai khái niệm thẩm quyền lập hiến và thẩm quyền hiến định. Thẩm quyền lập hiến có tầm vóc chính trị quy mô và tác động việc thay đổi Hiến pháp, nên cần phải đưa ra khỏi khuôn khổ giá trị tự tại của Hiến pháp. Giới hạn này đã có trong lý thuyết, nhưng để bảo đảm hơn nửa trong thực tế thì thẩm quyền lập hiến cần phải tách biệt với thẩm quyển lập pháp. Muốn đạt mục tiêu này thì giá trị quy phạm của luật Hiến pháp phải được nâng cao. Các cơ quan hiến định và tất cả mọi quyền hiến định của các cơ quan này phải đặt dưới Hiến pháp.
Tư tưởng quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ ở trong Tuyên ngôn Độc lập mà còn được thể hiện phong phú trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài của Người, cả trên lĩnh vực lý luận và thực tiễn, là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta.
Quyền con người được coi là một trong những phát minh quan trọng nhất, vĩ đại nhất của loài người. Bạn đang nắm trong tay mình bí quyết để thay đổi cuộc sống của bạn và chấn hưng lại đất nước.
Sự phát triển của quyền lực mềm không cần phải là một trò chơi có tổng bằng không. Tất cả các nước đều được lợi nếu thấy rằng họ là những nước có sức hấp dẫn lẫn nhau. Nhưng muốn thành công thì trong chính sách, Nga và Trung Quốc phải có lời nói đi đôi với việc làm, phải có thái độ tự phê bình và giải phóng toàn bộ tài năng của những xã hội dân sự của chính họ. Đáng tiếc là chuyện này sẽ không thể xảy ra trong một sớm một chiều.
Ở Ba Lan và Hungary và, với mức độ thấp hơn, ở Czechoslovakia, chủ nghĩa dân tộc đóng vai trò chất kết dính trong các nhóm độc lập và các hoạt động quần chúng, vì nó đã truyền bá một tập giá trị được mọi người chia sẻ khi xã hội dân sự hình thành trong bối cảnh một đảng thống trị. Khác biệt trong tính cố kết của xã hội dân sự ở Nga và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ cho thấy rõ vai trò đoàn kết của ý thức về chủ nghĩa dân tộc giữa các nhóm dân cư ở các vùng lãnh thổ khác nhau.
Vì thế, các chế độ này đã quay lại các "yêu cầu tiên quyết về chức năng" của hệ thống, hay nói đơn giản hơn là quay lại dựa vào các thành tích kinh tế và chính trị. Khi mọi chuyện trở nên rõ ràng rằng tính chính đáng không thể được duy trì trên nền tảng các giá trị được chia sẻ hoặc các lợi ích chung, thì các chế độ buộc phải phát minh ra các "khế ước xã hội" mà theo đó công dân được hưởng một phần lợi từ hệ thống, [đồng thời khiến họ] phụ thuộc vào việc bảo đảm quyền lãnh đạo của đảng và việc duy trì trật tự xã hội. Đây là một chiến lược có tính toán của Kadar ở Hungary, [1] được Brezhnev của USSR [2] và Husak của Czechoslovakia sao chép lại trong những năm cuối thập kỷ 1960 và thập kỷ 1970, được giới lãnh đạo Gierek ở Ba Lan thực hiện suốt cả thập kỷ 1970. [3] Theo thuật ngữ khế ước xã hội, chế độ bảo đảm tăng dần mức sống và phong phú hóa chủng loại/số lượng hàng tiêu dùng, cung cấp phúc lợi cho công chúng, tăng lương và các biện pháp khuyến khích khác cho công nhân. Đổi lại, các cá nhân phải chấp nhận sự thống trị của đảng trên toàn xã hội, gồm cả việc họ phải rút lui khỏi các hoạt động chính trị và các hiệp hội công cộng không được nhà nước cho phép.
Các giá trị và vận động xã hội tự chủ, và vì thế các hạt giống của xã hội dân sự, hình thành trong các chế độ hậu toàn trị là kết quả của một cuộc khủng hoảng có hệ thống. Cuộc khủng hoảng này có cội rễ từ chỗ các chế độ đã không thể đạt được thành công tối thiểu trong việc thực hành các chức năng tự định của mình về thiết lập giá trị và đại diện lợi ích.
Trong khi những diễn biến nhanh chóng và phức tạp ở Trung Âu và USSR không cho phép một sự phân loại chặt chẽ, chúng tôi dựa phân tích của mình trên các xu hướng khá rõ ràng trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự ở Trung Âu và so sánh chúng với các xu hướng ở Liên Xô (cũ). Kinh nghiệm ở Trung Âu cho thấy có bốn giai đoạn trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự: tự vệ - các cá nhân và nhóm độc lập [đấu tranh] với nhà nước để bảo vệ quyền tự chủ một cách chủ động hoặc bị động; xuất hiện - các nhóm và phong trào độc lập theo đuổi các mục tiêu giới hạn trong một không gian công đã được mở rộng (kết quả của sự nhượng bộ hoặc thừa nhận của nhà nước-đảng đang trong quá trình đổi mới); động viên - các nhóm và phong trào độc lập làm xói mòn tính chính đáng của đảng-nhà nước bằng cách giới thiệu các hình thức quản lý nhà nước mới cho xã hội (khi đó đã được chính trị hóa); và được thể chế hóa - các lãnh đạo (được công chúng ủng hộ) luật hóa các luật bảo đảm tính độc lập cho các hoạt động xã hội, dẫn tới quan hệ khế ước giữa nhà nước và xã hội cuối cùng được điều chỉnh bằng các cuộc bầu cử tự do.
Một trong những góp ý tu chỉnh Hiến pháp Việt Nam là đề xuất du nhập mô hình dân chủ của nhà nước phương Tây. Dân chủ là một khái niệm luật Hiến pháp nhằm quy định hình thức cai trị, nhưng lại gắn liền với các khái niệm pháp quyền, cộng hoà và xã hội. Dù có liên hệ nhau nhưng các khái niệm này có nhiều giá trị tương đồng và dị biệt mà tiểu luận này sẽ giới thiệu những mối quan hệ lý thuyết để đối chiếu với thực tế của Hiến pháp Việt Nam.
Tất cả các nền dân chủ quyết tôn trọng và bảo vệ quyền của công dân. Nhân quyền là những giá trị phản ánh sự tôn trọng đối với cuộc sống của con người và phẩm giá con người. Dân chủ nhấn mạnh giá trị của mỗi con người. Ví dụ về các quyền con người bao gồm quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do hội họp, quyền bình đẳng và quyền được giáo dục.
Thật ra, nghĩ cho cùng, không thể phủ nhận toàn bộ trách nhiệm của Karl Marx được. Rõ ràng, quan điểm về đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của ông đã là nền tảng lý thuyết làm nảy sinh sự độc tài và tàn bạo của Lenin, Stalin và Mao Trạch Đông cũng như vô số các nhà lãnh đạo Cộng sản khác. Bởi vậy, dù có ý thức hay không, Marx cũng đã để lại nhiều đứa con tinh thần, trong đó, có nhiều kẻ có thể xem là những quái thai. Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nicolae Ceauşescu (ở Rumania) là những quái thai như thế. Và dĩ nhiên, không thể không kể đến dòng họ Kim ở Bắc Triều Tiên.
Rõ ràng rằng, Marx hôm nay ngồi trên ghế bị cáo, bởi vì người ta nhìn thấy ông chính là kẻ xúi dục về mặt tinh thần gây nên cái tai họa Cộng sản. Tuy nhiên ý tưởng cho rằng Marx chắc chắn phần nào đó là kẻ tội phạm bàn giấy, phải chịu trách nhiệm đối với những gì mà Lenin, Stalin và đồng bọn sau này có cái làm được có cái không, theo nhìn nhận của tôi xuất phát từ sự thiếu hiểu biết vừa đối với những gì Marx viết cũng như đối với quá trình lịch sử đã đưa đến sự thiết lập nên hệ thống cai trị Bolshevik.
Ngay từ chuyện luôn lạm dụng quá đáng thuật ngữ "Chủ nghĩa Marx-Lenin" đã thể hiện đó là một lớp nấm độc, một mâu thuẫn nội tại. Những khía cạnh cơ bản của triết học Marx và triết học Lenin thức tế không thể dung hòa với nhau. Điều này thể hiện không chỉ ở sự khác biệt về khái niệm xã hội hóa và nhà nước hóa.
Sự sám hối của Engels hình như đã muộn, học thuyết duy ác của các ông đã bị Lenine bắt cóc đưa về Nga để làm cuộc tàn sát vĩ đại con người có tên là cộng sản.
Chăm bón cái gốc kinh tế tư nhân để người dân có nhiều tiền thì hoa tự do sẽ nở!
Nói một cách nôm na hơn, đó là một phương pháp so sánh gian lận: anh chọn cái mô hình tốt đẹp nhất trong tôn giáo của anh (chỉ tồn tại trên bình diện lý tưởng) và đem đi so sánh với thực tế đầy khiếm khuyết trong tôn giáo đối phương.
Theo Kant có ba nguyên tắc cho hiến pháp cộng hoà hình thành. Một là tự do cho mọi người dân, hai là tất cả đều bị ràng buộc trong một hệ thống pháp luật và ba là tất cả được bình đẳng trước pháp luật. Hiến pháp dựa trên một kết ước nguyên thủy, một sự đồng thuận giữa người dân và nhà nước để quy định sự chung sống. Thực ra, lý thuyết về kết ước xã hội đã được Rousseau đề xuất, nhưng Kant đào sâu khiá cạnh ràng buộc khi tất cả đồng thuận trong sự chung sống này. Từ đó mà tình trạng tự nhiên sống tự do hổn loạn chấm dứt và nền tảng cho sự chung sống an hoà thành hình. Kant cho rằng hiến pháp là một quyết định thuần lý của con người nhằm tạo một cấu trúc quy phạm cho xã hội và đặc biệt nhất là tạo chính danh cho nhà lãnh đạo trong việc cai trị.
Theo Kant có ba nguyên tắc cho hiến pháp cộng hoà hình thành. Một là tự do cho mọi người dân, hai là tất cả đều bị ràng buộc trong một hệ thống pháp luật và ba là tất cả được bình đẳng trước pháp luật. Hiến pháp dựa trên một kết ước nguyên thủy, một sự đồng thuận giữa người dân và nhà nước để quy định sự chung sống. Thực ra, lý thuyết về kết ước xã hội đã được Rousseau đề xuất, nhưng Kant đào sâu khiá cạnh ràng buộc khi tất cả đồng thuận trong sự chung sống này. Từ đó mà tình trạng tự nhiên sống tự do hổn loạn chấm dứt và nền tảng cho sự chung sống an hoà thành hình. Kant cho rằng hiến pháp là một quyết định thuần lý của con người nhằm tạo một cấu trúc quy phạm cho xã hội và đặc biệt nhất là tạo chính danh cho nhà lãnh đạo trong việc cai trị.
Trước hết là bất kì đảng nào, đặc biệt là đảng cộng sản, quyền lực cũng nằm trong tay lãnh tụ hoặc các cơ quan lãnh đạo. Sự thống nhất là mệnh lệnh (đặc biệt là đối với đảng cộng sản, một đảng có kỉ luật theo kiểu nhà binh) nhất định sẽ dẫn tới việc bao cấp về tư tưởng của trung ương đối với các đảng viên thường. Nếu dưới thời Lenin tư tưởng chỉ được thống nhất sau các cuộc đấu tranh dữ dội ở các cấp cao nhất, thì Stalin bắt đầu tự mình quyết định tư tưởng nào là đúng, còn “ban lãnh đạo tập thể” hiện nay lại chỉ cần ngăn chặn không cho những tư tưởng mới xuất hiện là được.
Chúng ta tranh đấu cho nền dân chủ nhưng không lên tiếng ngăn cản các dự án trăm tỷ, nghìn tỷ liên tục được nhà nước tung ra; không khai trí để toàn dân xây dựng nền kinh tế tư nhân thì thật là xây lâu đài trên cát.
Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
Từ 80 nhà nước dân chủ những năm 1970, sau hơn 40 năm đã hình thành 149 nhà nước dân chủ/dân chủ-cộng hòa cho thấy xu thế ‘dân chủ hóa’ đang bước vào mọi ngỏ ngách các quốc gia trên thế giới.
Hiến pháp là hình ảnh thể chế của một quốc gia trong con mắt thế giới, chứ không phải văn bản lưu hành nội bộ chỉ riêng trong quốc gia đó, vì vậy để có một bản Hiến pháp được họ nhìn nhận ưu việt tiến bộ “sánh vai các cường quốc năm châu“ như ta mong muốn, điều kiện cần đầu tiên là kỹ thuật lập hiến phải tuân thủ đúng các khái niệm khoa học pháp lý phổ quát, trước và trên hết chính khái niệm “hiến pháp“.
Nhưng ở cảnh kết thúc có phần chua cay, thường được người ta nhớ nhất về chuyện không thể phân biệt được đâu là người đâu là lợn, Orwell đã tiên đoán, cũng nhưng trong những dịp khác, rằng tình bạn giả tạo bề ngoài giữa đông và tây sẽ không tồn tại được lâu sau khi chủ nghĩa phát xít bị đánh bại. Chiến tranh Lạnh, cụm từ mà chính Orwell là người đầu tiên dùng trong sách in, nhanh chóng tạo ra một bầu không khí ý thức hệ khác hẳn.