|
Translation. Chuyển Ngữ
|
|
17-01-2013, 08:40 AM
(Bài viết đã được chỉnh sửa: 04-02-2013 10:06 AM bởi Tâm Như.)
Bài viết: #1
|
|||
|
|||
|
Translation. Chuyển Ngữ
500 VOICES & ASIA VOICE RADIO
*. Author: DAO STROM The 500 Oral History Project (by the Vietnamese American Heritage Foundation) Asian Voice Radio Last summer, I was again in Austin, Texas, attempting to make things happen with my music career. I had done a short tour in July, driving up to Chicago, stopping off at the Woody Guthrie Folk Festival in Oklahoma, down to the hot-pocket that is Houston in the middle of a Texas summer – far too many miles to play a few shows in scattered destinations in uncomfortably warm places. In light of my own endeavors at "voice" and "voicing," I encountered others also determined to make – not just their own – but the voices of others heard. In this post, I’ll focus on those others’ efforts of Voice. Back in Austin, I stayed at different friends’ houses. It was a between-places summer, hauling my son and our cat into various temporary homes to take refuge in friends’ air-conditioning. One of the places we stayed was with a woman who is one of my mother’s best friends from her Saigon days, and something of an aunt to me, who lives in a big house near Lake Travis that her husband built, even importing slabs of marble from Vietnam. The type of house that has columns at its front entrance, lion statues, a fountain. Theirs is a hard-earned opulence, a hard-won American immigrant success story. My mother’s friend is Nancy Bui, president of the Vietnamese American Heritage Foundation (VAHF), whose mission is to record and archive the stories of Vietnamese-Americans and our many varied passages to the States. (At one time, in her garage, she had stacks of boxes all containing paperwork – all the red tape and bureaucracy – involved in the sponsoring over of hundreds of thousands of Vietnamese emigres to the States; amongst these somewhere, she pointed out to me, were my own biological father’s papers – which had been arranged, wrangled, and pushed through by an organization that helped to find asylum for former political prisoners.) And though this perspective on the process may strike me as an oddly dry, mechanistic rendition of what "heroism" entails – the battles fought bureaucratically, logistically, in the invisible mazes of "the system" (both American and Vietnamese) – I recognize that it is important work. Letters written, forms filed, phone calls made, contacts and associations claimed and confirmed, in each of our cases (for those of us born in another country) there is likely somewhere a file of paperwork that documented and approved our passages to the West. VAHF’s mission is to preserve – to make an official record – of the heritage that is evidenced by such a passage, the American immigrant’s passage. The heritage – and thus the identity – being forged here is that of the Vietnamese-American: of "Americans of Vietnamese descent," as the VAHF website pointedly establishes. An identity that was in fact birthed on April 30, 1975, with the Fall of Saigon and the beginning of the South Vietnamese exodus out of Vietnam. It is the identity of those cast out of the physical geography of Vietnam, left to contend with the dialectics of identity — an amorphous identity, then, a diasporic one, with boundaries that would continue to shift and shape-shift over the following decades. The issue of identity is an ongoing dialogue, but I won’t go into it further here. I will focus, instead just on the endeavors of "voicing" that a couple other people I know, are shepherding; and let those "voices" speak on the topic. The first is the following: VAHF is undergoing a project to document "500 Oral Histories" of courageous, remarkable accounts of the Vietnamese-American passage. These “voices” will be documented on film and in writing, and will when completed stand as an official and readily accessible archive for future generations curious about the post-war Vietnamese-American origin story. A brief preview of the VAHF project can be viewed here in a film trailer made by Vietnamese-American filmmakers Eric and Kristine Pham: The 500 Oral History Project I think it is worth viewing and contemplating how we present the narrative of our becoming Vietnamese-American. How out of scenes of desperation and vulnerability, we can glean the positive aspects of our story: survival, the poignancy of fragility, the generosity of others, reception, new possibilities. The second endeavor of "voicing," I want to speak of has its seed here: Also last summer while I stayed at Nancy Bui’s house, I ran into a woman from Houston, An Vu Duong, who was also staying at Nancy’s house as she had come to Austin to take her bar exams to become a lawyer. I remember one evening in particular, when I came into the kitchen and An was there, and we began to talk. I told her about my work, and she told me about her work. I was struck by her energy, radiating a very certain grace and strength, and by her intelligence and convictions. We talked about our children, and about education, and the ways in which we have wanted education to be more conducive to the nurturing of their creative and unique persons, and we talked of the importance of art and the paradoxical difficulty of making a career out of art in a profit-driven society and era. Her suggestion was that it should be possible to influence consumers in such a way that they might feel just as inclined to go out and spend money on the experience of art/culture as they might to spend it on material products. Our conversation was a probing and inspiring one in which I felt myself encountering a very conscientious intellect and consciousness. I remember that the sun was going down, the light fading from the windows, and still we continued to stand there, talking about art and education and society and the futures of our children and the hope of positive changes, in the slowly darkening kitchen of the Vietnamese American Heritage Foundation founder’s home. (& it strikes me that we end up in the places we find ourselves seemingly by random, yet there is purpose to our every gesture and encounter, our conversations, the slivers of message and reminder we might inadvertently or eagerly pass between us. That we are derived out of a common but unique set of originating circumstances; and everywhere we go we inescapably carry with us the subtle mission wrought in the destiny of our identities’ origins.) Just recently, I heard from An again about her new venture. She has just launched Asian Voice Radio, based in Houston, all English-language programming from an Asian-American perspective, focusing on all things Asian-Americana. Asian Voice Radio pilots live on KREH 900AM at 7pm (Central Time) 7 days a week. There is a "Listen Live" online streaming feature easily accessible from their website. Both of these ventures of "voice" are new, and promote the furthering and further discussion of what the Vietnamese-American identity is and can be. I think they are worth giving a listen to. 500 TIẾNG NÓI VÀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH CHÂU Á
*.Nguyên bản Anh Ngữ: 500 VOICES & ASIA VOICE RADIO. Của Dao Strom *. Bản Dịch Việt Ngữ: Tâm Như Mùa hè năm ngoái, tôi lại đến Austin, Texa, dự tính hoạch định một vài điều cho sự nghiệp âm nhạc của bản thân. Lái xe làm một chuyến du lịch ngắn ngày đến Chicago vào tháng Bảy, tôi đi qua cái nóng cháy bỏng của Houston, trung tâm điểm mùa hè của Texas, dừng chân tại Lễ Hội Dân Gian Woody Guthier ở Oklahoma - cách xa hàng nhiều dặm, chỉ để trình diễn những chương trình rải rác ở những nơi không đến nỗi quá nóng. Kiểm nghiệm lại nỗ lực của chính mình, trong việc phát huy "tiếng nói" và "bày tỏ," tôi đã gặp những người cũng quyết tâm nói lên tiếng nói – không chỉ của riêng họ- , mà của cả những người họ đã từng lắng nghe. Bài viết này, tôi chú trọng đến những ai đã làm hết sức để có tiếng nói của riêng mình. Trở về Austin, tôi lưu trú tại nhà của nhiều người bạn. Di chuyển khắp nơi giữa mùa hè, đưa con trai và chú mèo ra khỏi xe, tận hưởng không khí mát lạnh của máy điều hoà tại những nơi tạm trú. Một trong những nơi chúng tôi đến ở là nhà của một phụ nữ, bạn chí thân của mẹ tôi từ những ngày còn ở Sài Gòn, tôi gọi bà là cô. Cô sống trong căn nhà rộng gần hồ Travis, căn nhà do chồng cô xây cất, có lát những phiến đá cẩm thạch nhập cảng từ Việt Nam. Tòa nhà được thiết kế với hàng cột ở ngay trước lối ra vào, có tượng sư tử, bể phun nước. Nhà của họ đầy đủ tiện nghi sang trọng, là tiền đề chứng minh cho sự thành công của người Mỹ nhập cư . Bạn của mẹ tôi, cô Nancy Bùi, chủ tịch Hiệp Hội Di Sản Việt Mỹ, người có trách nhiệm thu thập, lưu trữ những câu chuyện của người Mỹ gốc Việt, cả những thông tin khác lạ của chúng tôi ở khắp các tiểu bang. (Đã có một thời, trong garage của cô, chật cứng từng đống hộp đựng giấy tờ- tất cả đều là những hồ sơ tồn đọng vì tính phức tạp và quan liêu của các cơ quan hành chánh - liên quan đến sự bảo lãnh cho hàng trăm ngàn người Việt tị nạn ở các tiểu bang; cô đã chỉ cho tôi thấy, trong số hàng đống hồ sơ ấy, có hồ sơ của cha ruột tôi - đã được một cơ quan thảo luận, bàn cãi, thông qua để giúp tìm ra nơi tị nạn cho những cựu tù nhân chính trị. Và rồi viễn cảnh của quá trình này xâm chiếm bản thân tôi, giống như sự biểu diễn máy móc khô khan của một điều gì đó mà "chủ nghĩa anh hùng" kế thừa - sự chiến đấu chống lại chế độ giấy tờ quan liêu, tính chất dịch vụ, trong "một hệ thống" mê cung vô hình (của cả người Mỹ và người Việt) - Tôi thừa nhận đây là vấn đề quan trọng. Những văn bản, những mẫu đệ trình, các lần gọi điện thoại, địa chỉ liên lạc, các hiệp hội tuyên bố và khẳng định, cho mỗi trường hợp của chúng ta( cho những ai trong số chúng ta sinh ra ở các nước khác), giống như ở đâu đó có bản tin về thủ tục giấy tờ, chứng thực và chấp thuận các văn bản của chúng ta đối với phương Tây. Sứ mệnh của Hiệp Hội Di SảnViệt Mỹ là để bảo tồn - để thực hiện một tài liệu chính thức- cho những di sản đã được chứng minh bằng một văn bản, văn bản của người Mỹ tị nạn. Di sản này - và do đó bản sắc - hiện đang được xúc tiến, thuộc về người Mỹ Việt Nam: Nói chính xác là "người Mỹ gốc Việt," như các trang web của Hiệp Hội Di Sản Việt Mỹ đã đề ra khi thành lập. Bản sắc này căn cứ vào những dữ kiện được khai sinh kể từ ngày 30 tháng 04 năm 1975, khi Sài Gòn thất thủ, khi người miền Nam Việt Nam bắt đầu bỏ nước Việt Nam ra đi. Bản sắc này cũng dành cho những ai, về phương diện địa lý, đã đi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, họ đã từ bỏ luôn việc đối mặt với sự khẳng định đầy biện chứng (của sự nhận dạng) về bản sắc -một bản sắc vô hình, và vì, họ chỉ là một nhóm người lưu vong, sống ở nhiều biên giới sẽ tiếp tục chuyển biến, và còn mãi chuyển biến hình thái qua nhiều thập kỷ. Vấn đề bản sắc là cuộc đối thoại đang được diễn ra, nhưng trong phạm vi bài này, tôi không muốn đi quá xa.Tôi sẽ tập trung, thay vì chỉ nhắm vào nỗ lực "bày tỏ" đang được chỉ đạo, của đôi ba người nào đó mà tôi biết; hãy để "tiếng nói" của họ được phát biểu trước công chúng. Trước tiên là: Hiệp Hội Di Sản Việt Mỹ đã đang kiên trì theo đuổi dự án về tài liệu "500 Lịch Sử Truyền Khẩu," trong đó có những bằng chứng thật can đảm, đáng lưu ý về tâm tình của người Mỹ gốc Việt. Những "tuyên ngôn" này sẽ được làm thành phim, sẽ được viết thành sách, khi hoàn tất sẽ tồn tại như những tài liệu chính thức để các thế hệ đời sau dễ dàng tìm kiếm, nếu họ muốn biết nguồn gốc những câu chuyện về người Mỹ gốc Việt sau chiến tranh. Có thể xem trước bản dự thảo ngắn gọn về dự án Hiệp Hội Di Sản Việt Mỹ, qua một trích đoạn phim, được thực hiện bởi những nhà làm phim người Mỹ gốc Việt là Eric và Kristine Phạm: Đó là Dự Án Lịch Sử Truyền Khẩu. Tôi cho rằng điều này đáng quan tâm, đáng suy nghĩ để chúng ta có thể tường thuật lại, bằng cách nào đó chúng ta đã trở thành người Mỹ gốc Việt. Làm sao, ngay cả khi tuyệt vọng và bị tổn thương, chúng ta vẫn có thể ghi lại những mặt tích cực trong chuyện đời của chúng ta. Sự sống còn, sự cay đắng vì những điều bất ổn, lòng hào hiệp của người khác, sự đón tiếp, những khả năng mới. Nỗ lực thứ hai của sự "bày tỏ" ở đây, tôi muốn nhấn mạnh đến hạt giống sẵn có: Cũng trong mùa hè năm ngoái, khi ở nhà cô Nancy Bùi, tình cờ tôi gặp một phụ nữ từ Houston đến, cùng lưu trú tại đây, tên là An Vũ Dương. Cô đến Austin dự những buổi sát hạch để trở thành luật sư. Tôi còn nhớ, một buổi tối đặc biệt, khi tôi vào nhà bếp, cô An cũng đang có mặt ở đó, chúng tôi đã trò chuyện với nhau. Tôi kể cho cô nghe công việc của tôi, cô nói cho tôi biết công việc của cô. Tô bị lòng nhiệt thành của cô thu hút, một lòng nhiệt thành tràn đầy ân sủng và sức mạnh, dư đầy khôn ngoan và tin tưởng. Chúng tôi trao đổi về con cái, về giáo dục, về phương pháp chúng tôi muốn nền giáo dục nên có, để đào tạo ra những con người tài năng và kiệt xuất. Chúng tôi nói đến tầm quan trọng của nghệ thuật, sự khó khăn đầy nghịch lý khi tách rời nghề nghiệp ra khỏi nghệ thuật, một khi xã hội và thời đại đã được định hướng theo lợi nhuận. Đề nghị của cô là bằng cách nào đó, nên gây ảnh hưởng đến khách hàng, để họ cảm thấy họ có khuynh hướng đi ra ngoài mua sắm, dựa trên sự am tường của họ về nghệ thuật / văn hoá, hơn là họ chỉ bỏ tiền ra mua những sản phẩm vật chất. Cuộc trò chuyện của chúng tôi là một sự thăm dò đầy cảm hứng, tôi biết rằng tôi được gặp một người trí thức, rất có lương tâm và mẫn tiệp. Mặt trời đã tắt, ánh sáng chiếu qua các cửa sổ mờ dần. Chúng tôi vẫn đứng ở đó, trong nhà của người sáng lập Hiệp Hội Di Sản Việt Mỹ, trao đổi về nghệ thuật và giáo dục, về xã hội và tương lai của con cháu mình, về niềm hy vọng vào những thay đổi mang tính tích cực, cho đến khi góc bếp dần dần đen thẫm. ( Và nó xâm chiếm tôi vì: Chúng tôi ngẫu nhiên kết thúc ở những điều tự chúng tôi cảm nghiệm, nhưng vẫn có mục đích cho sự gặp gỡ, và trong cách biểu lộ của chúng tôi. Những cuộc hội thoại, những mẫu tin, những lần nhắn nhủ hoặc vô tình hoặc cố ý đã xảy ra giữa chúng tôi. Điều chúng tôi tìm thấy, không phải là một điều thông thường, mà là nguồn gốc duy nhất của cảnh ngộ; ở khắp nơi chúng tôi đi, chúng tôi, một cách khẩn thiết, mang theo bên mình sứ mạng tế nhị, được thui rèn vì vận mệnh cội nguồn bản sắc của chúng tôi.) Gần đây, một lần nữa tôi được biết về Cô An và công việc mới đầy liều lĩnh của cô. Cô vừa thành lập Đài Tiếng Nói Châu Á, có trụ sở tại Houston, tất cả các chương trình bằng tiếng Anh, nhìn từ quan điểm của người Mỹ gốc Á Châu, chú trọng đến những điều liên quan đến người Mỹ gốc Á Châu. Đài Tiếng Nói Châu Á phát thanh trực tiếp trên băng tần KREH900AM lúc 7 giờ tối (giờ Trung Tâm), bảy ngày một tuần. Có một "đường truyền thanh trực tiếp," dễ dàng bắt được tần sóng ngay trên trang web của họ. Cả hai hình thức phát thanh hết sức táo bạo của "tiếng nói" đều mới, đều thúc đẩy phát huy thảo luận nhiều hơn nữa, về những điều mà bản sắc của người Mỹ gốc Việt có thể có. Theo tôi, cả hai chương trình phát thanh xứng đáng được đón nghe. |
|||
|
17-01-2013, 10:18 AM
(Bài viết đã được chỉnh sửa: 04-02-2013 10:07 AM bởi Tâm Như.)
Bài viết: #2
|
|||
|
|||
|
Translation. Chuyển Ngữ
THE GENTLE ORDER OF GIRLS AND BOYS BY DAO STROM
Written by: JOE WOODWARD Writers write what they know, even when they don't mean to. They invent, imagine, sure, but in the end they must see the world (as we all must) through the milky prism of personal history. Dao Strom is no different. In the first few pages of her new book of four linked novellas, "The Gentle Order of Girls and Boys," readers quickly learn that Strom was born in Vietnam, raised in Northern California and studied at the Iowa Writers Workshop. The fingerprints of her past are on every sentence. As a result of her biography and perhaps her relative youth (she was born in 1973), she writes eloquently, in awkwardly earnest poetical sentences with the grammar of translated myth and ancient parable. This is the good and the bad of it. In Strom's first two novellas and a short story interlude, the characters are related -- sisters and a brother from the same family, but not from the same pairing of parents. They travel through their own stories, but as in real families, they understand their shared secrets differently. The characters are all young in this book, busy searching out their destinies in film schools and big cities, and each one of them comes up confused and disappointed. "The Gentle Order of Girls and Boys" begins with the story of Mary, a Vietnamese-born college student majoring in film and enamored of a white boy named Kevin. Mary meets her all-American Kevin through a loose friendship with a socially awkward Korean boy named Ping and carries on a brief affair with Kevin, the memory of which lasts years into her adulthood. Finally, the trouble with the first novella is that the main character's past is more interesting and subtly revealed than her present. Mary's present takes place over the course of a school year and is relayed to the reader through a heavy-handed narration, by a teller who puts together sentences such as, "Almost always in her mind's eye she sees him standing still, or she sees him about to move, or moving slowly. He had always seemed remarkably still and slow but deliberate -- economical." And later, "Attachment is a matter of the mind. ... Nature is brutal, maybe inherently flawed, too. And freedom does not have to be physical." Whether this is the candied philosophy of the character or the writer, it's hard to take. Also, Mary's present is a relentless and uninteresting parade of trolling dorms for beer parties, falling asleep in film class and making superficial documentaries about homelessness in San Francisco. Remarkably, however, the story of Mary's past is told differently, half told, really, like a good parable. It is a realistic refugee narrative -- the story of Mary's mother escaping Vietnam and coming to America on a boat with a baby in her arms. It is a story we learn later, full of delicious half lies, centered on the complex life of her mother, a far more interesting character and one of the few in the book older than 30. The second novella, "Walruses," is linked to the first through the main character Darcy, who turns out to be Mary's adopted half sister and poorer relation. Darcy is a college dropout who loves music and follows her sister to New York City. Darcy is an aimless soul whose philosophy of life is summed up in narration like this, "As she saw it, this was her biggest accomplishment to date: deciding she did not want to accomplish anything in particular there." While such flimsy philosophy accurately represents the folly of youth, it also warns the reader that little is at stake here, and that turns out mostly to be true. Strom's third and fourth novellas stand apart from the first sections of the book. In "Neighbors," a Vietnamese woman who slept with traveling businessmen for money in hotels in Ho Chi Minh City finally ends up marrying one and moving to his longtime family homestead in the suburbs of Austin, Texas. She has a child and stays home all day, isolated in a country (and the country, with a mall) she doesn't really feel at home in -- and in a marriage she doesn't believe deeply in, either. Her only relief is her child and her screwball collection of neighbors, who provide comic relief in their crazy cul-de-sac commune. "Husband, Wife," the fourth and final novella, is led by Sage, a free-living, music-playing mother of a 4-year-old son named Praxis. Sage's husband, Dalgleish, or "Dag," is living out an extended childhood of endless road trips that may or may not come to some end someday. Sage is restless and searching, but for what? Again, I'm disappointed here because there seems so little at stake. But there is a freshness to Strom's writing, a beauty in the construction of her ensemble casts -- among them is a wise Vietnamese mother, a funny fat Korean boy, an All-American hippie who travels the world, a Texan swinger, a naked intruder/recovering drug addict who reappears in his victim's apartment, and more. Strom's collection is finally a literature of displacement -- people are not where they should be. Her characters are all on the same journey -- a quest to unpack their childhoods as a way of healing a mysterious emptiness they feel. Naturally, because they are young and necessarily self-involved, they blame their parents or some others for their troubles. If only Mother had been warmer and psychologically authentic, and Father had not fallen overboard, my life would have turned out great. So, in the end, "The Gentle Order of Girls and Boys" reads like a social novel, something akin to early Bret Easton Ellis -- a book in which the characters are young and morally unattractive and do not change, a book showing us how things are without deep comment about how they should be or will be. This is something, sure, but is it enough? * Joe Woodward is the author of "Small Matters: A Year in Writing."
*. Read more: http://www.sfgate.com/cgi-bin/article.cg...z0rDJBX9DZ ![]() MÃNH LỰC DỊU DÀNG CỦA NỮ VÀ NAM - TÁC GIẢ DAO STROM
*. Nguyên bản Anh Ngữ: "The Gentle Order of Girls And Boys." Của Joe Woodward *. Bản Dịch Việt Ngữ: Tâm Như Nhà văn, viết những gì họ biết, ngay cả khi họ không liên quan đến. Họ sáng tạo, tưởng tượng, chắc chắn là như vậy, nhưng cuối cùng họ phải nhìn thế giới (như tất cả chúng ta phải nhìn) thông qua lăng kính màu mờ ảo của bối cảnh cá nhân. Dao Strom cũng không ngoại lệ. Qua những trang sách đầu tiên, trong tác phẩm "Mãnh Lực Dịu Dàng của Nữ và Nam" ( "The Gentle Order of Girls and Boys" ) gồm bốn truyện dài liên tục, người đọc nhanh chóng biết Strom sinh ra ở Việt Nam, lớn lên tại miền bắc California, theo học chương trình Hội Thảo Nhà Văn ở Iowa. Dấu vân tay quá khứ của cô hiển hiện rõ ràng trong từng câu chữ. Như điều tất yếu của tiểu sử cá nhân, và có lẽ do gần gũi với người trẻ ( Strom sinh năm 1973), cô viết như du thuyết về nỗi thao thức vụng dại của tuổi thanh xuân bằng những câu văn đầy chất thơ, bằng ngữ pháp chuyển tải sự bí ẩn cổ kính của dụ ngôn. Diễn giải sự tốt và sự xấu của từng dụ ngôn ấy. Hai truyện dài đầu tiên của Strom, gồm một truyện ngắn xen kẽ, có những nhân vật liên quan với nhau -- là chị em gái và anh trai trong nhà, nhưng không phải do cùng một cha mẹ sinh ra. Họ đi trong những chuyện riêng của đời mình, và như một cảnh nhà thật sự, họ hiểu nỗi niềm thầm kín được chia sẻ của nhau rất khác biệt. Nhân vật trong truyện, là những người trẻ, bận rộn tìm kiếm số phận riêng ở trường quay phim, ở các thành phố lớn; trong mỗi một nhân cách, đều xuất hiện nhiều bối rối, đầy thất vọng. "Mãnh Lực Dịu Dàng Của Nữ và Nam" bắt đầu với câu chuyện của Mary, nữ sinh viên Việt Nam, theo học chuyên ngành điện ảnh, say mê Kevin, chàng trai da trắng. Mary gặp Kevin, một người Mỹ chính cống nhờ quen biết xã giao với Pink, anh bạn Hàn Quốc ngốc nghếch vụng về, không khéo ăn nói. Mary có chút tư tình với Kevin, kỷ niệm này kéo dài trong suốt giai đoạn trưởng thành của cô. Cuối cùng, sự phức tạp của truyện đầu tiên là quá khứ của nhân vật chính, gợi lên những tình tiết lý thú, tinh tế hơn so với hiện tại được tiết lộ của cô. Hình ảnh Mary hiện ra trong suốt quá trình của năm học, được gửi đến người đọc bằng sự tường thuật nặng tay, bằng lời dẫn chuyện của người luôn đưa ra nhiều câu nói cùng một lúc, chẳng hạn: "Tuồng như con mắt trong tâm tưởng của cô thấy anh ấy đứng yên, hay nhận ra anh ấy đang xê dịch, hoặc là di chuyển một cách chậm rãi. Anh ấy vẫn luôn cố tình gây ấn tượng một cách từ tốn-- một cách thận trọng." Sau đó thì "Sự gắn bó là vấn đề của tâm hồn…Bản chất tàn nhẫn, có lẽ cũng là một nhược điểm cố hữu. Tự do không phải là một thể lý." Dù đây là chút triết lý đượm vị kẹo ngọt ngào của nhân vật hay của người viết, cũng khó mà chấp nhận. Hình ảnh của Mary còn là cuộc diễu hành thường xuyên chờ thời, tẻ nhạt, loay hoay quanh ký túc xá với những buổi liên hoan có men bia, ngủ gục trong lớp học làm phim, thực hiện những cuốn phim tài liệu hời hợt về sự vô gia cư ở San Francisco. Tuy nhiên, câu chuyện về quá khứ của Mary đầy ấn tượng, diễn tả hoàn toàn khác biệt, thực ra một nửa được kể giống như bài dụ ngôn tốt. Đó là lời tự thuật hiện thực của một người tỵ nạn. Câu chuyện mẹ của Mary trốn thoát khỏi Việt Nam, đến Hoa Kỳ bằng thuyền với đứa con thơ dại trên tay. Là câu chuyện mà sau đó chúng ta biết, đầy những lời nói dối nửa vời rất tuyệt, tập trung vào đời sống phức tạp của người mẹ, một nhân vật khá sinh động, và là một trong số ít nhân vật đã hơn 30 tuổi của tác phẩm. Truyện dài thứ hai "Hải Mã," liên kết với truyện dài thứ nhất bằng nhân vật chính Darcy, người hoá ra lại là em nuôi của Mary, tạo thành mối tương quan khá tẻ nhạt. Darcy là sinh viên bỏ học, người đam mê âm nhạc, theo chị cô đến thành phố New York. Darcy, một tâm hồn không có mục đích, triết lý sống đúc kết trong lời tường thuật như sau: "Lúc cô nhìn thấy nó, đó là sự thành tựu lớn lao nhất để hò hẹn: Khẳng định rằng, cô không muốn hoàn tất bất cứ điều đặc biệt nào ở đấy." Khi một triết lý mỏng giòn như vậy tiêu biểu rất chính xác cho tuổi trẻ khờ khạo, điều này cũng cảnh báo với độc giả rằng có một chút rủi ro ở đây, và hầu như chỉ để chứng tỏ đấy là sự thật. Truyện dài thứ ba và thứ tư của Strom tách biệt hẳn với phần đầu của tập truyện. Trong truyện dài "Những Người Láng Giềng," một phụ nữ Việt Nam ngủ với các doanh nhân du lịch vì tiền tại khách sạn của thành phố HCM, cuối cùng kết thúc bằng việc kết hôn với một người, sau đó chuyển đến ở với gia đình ông, một gia đình cư ngụ tại ngoại ô thành phố Austin, Texas đã lâu đời. Cô có một người con, ở nhà suốt ngày, bị cô lập trong một đất nước ( và đất nước, với thương xá) mà cô không thực sự cảm thấy là quê hương -- cô cũng không có niềm tin sâu sắc vào hôn nhân. Niềm an ủi duy nhất của cô chính là đứa con và toàn bộ hàng xóm gàn dở, những người như những bức hí họa giải sầu, cùng với sự cảm thông điên rồ không lối thoát của họ. " Chồng, Vợ," truyện dài thứ tư và cuối cùng, được dẫn nhập bằng Sage, mẹ của đứa con trai bốn tuổi tên Praxis, người sống tự do, chơi âm nhạc. Dalgleish hay là "Dag" chồng của Sage, sống mãi với tuổi thơ trong một hành trình vô tận, cuộc hành trình sẽ đến hay không thể đến để chấm dứt một điều gì đó, vào một ngày nào đó. Sage bồn chồn tìm kiếm, nhưng để làm gì? Tôi lại thấy thất vọng ở chỗ này, cơ hồ quá ít điều rủi ro. Cho dẫu là như vậy văn phong của Strom thật tươi mát, toàn bộ các nhân vật của cô được khắc họa đầy nét thẩm mỹ -- trong số những hình tượng đó có một bà mẹ Việt Nam khôn ngoan, một anh chàng Hàn Quốc béo tròn trông tức cười, một gã hippie chính cống Mỹ lang thang khắp trái đất, một tay ma mãnh người Texas, một kẻ xâm phạm trơ trẽn/ đang cai nghiện ma túy, lại thấy xuất hiện ngay trong nhà nạn nhân của hắn, và còn nhiều hình ảnh khác nữa. Toàn bộ tác phẩm của Strom, nói cho cùng, là áng văn chương về sự chuyển biến -- người ta không ở những nơi họ nên ở. Các nhân vật của cô, tất cả đều có chung một chuyến đi -- một hành động giải tỏa tuổi thơ, một phương cách chữa lành sự trống rỗng bí ẩn mà họ cảm nhận. Hiển nhiên thôi, vì họ còn trẻ, nhất thiết hay tự gây phiền nhiễu, họ oán trách cha mẹ, hoặc người nào đó vì những vấn nạn của riêng họ. Nếu như Mẹ ân cần hơn, có thái độ tâm lý đáng tín cẩn hơn, và Cha đừng thất bại khi ra nước ngoài, đời tôi chắc đã khá lắm rồi. Để rồi, cuối cùng, "Mãnh Lực Dịu Dàng của Nữ và Nam" đọc như một tiểu thuyết về xã hội, một điều gì đó tương tự những bước đầu của nhà văn Bret Easton Ellis -- một tác phẩm trong đó những nhân vật trẻ, không có đạo đức gương mẫu, không có thay đổi. Tác phẩm chỉ cho chúng ta thấy những câu chuyện ấy như thế nào, mà không đưa ra một lời nhận định sâu sắc về cách những người trẻ, nên như là hay sẽ như là. Một điều gì đại loại như thế, dĩ nhiên rồi, và phải chăng chỉ như thế thôi cũng đã đủ? *. Joe Woodward, tác giả của quyển: "Small Matters: A Year in Writing."
http://www.sfgate.com/cgibin/article.cgi...z0rDJBX9DZ |
|||
|
|
Những người đang xem chủ đề này: 1 khách






![[-]](images/leaf/collapse.gif)
![[Hình: morgueFile-AcrylicArtist.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/morgueFile-AcrylicArtist.jpg)