|
English Article. Translating into Vietnamese. L.V.
|
|
23-01-2013, 04:58 PM
(Bài viết đã được chỉnh sửa: 04-02-2013 09:58 AM bởi Tâm Như.)
Bài viết: #1
|
|||
|
|||
English Article. Translating into Vietnamese. L.V.
![]() Matthew Parsfield - Phát Hiện Một Bức thư Đầy Bất Ngờ Của Hồ Chí Minh L.V. chuyển ngữ Dịch giả gửi đến Dân Luận 17.08.2012 *. https://danluan.org/tin-tuc/20120818/mat...o-chi-minh Tạp chí Nghiên cứu về Việt Nam (Journal of Vietnamese Studies) số tháng Bảy có đăng một tài liệu quan trọng: một bức thư chưa được công bố trước đây của Hồ Chí Minh đề ngày 8 tháng Chín, 1921. Nó là một trong những nguồn tài liệu về chính trị và đời tư sớm nhất trong cuộc đời của nhà cách mạng Việt Nam được phát hiện cho đến nay. Pascal Bourdeaux, phó giáo sư tại Học viện Nghiên cứu Cao cấp Thực tiễn (École Pratique des Hautes Études) ở Paris, đã phát hiện được bức thư với “chữ ký bằng mực đen bay bổng, thanh tao, hơi nghiêng và được gạch dưới” khi tìm tòi những tài liệu lưu trữ của Hội Truyền giáo Phúc âm Paris. Thư được ký dưới tên “Nguyên Ai Quâc” - thường được viết là Nguyễn Ái Quốc, vốn được Hồ Chí Minh tự gọi mình lúc ấy. Được viết trong những năm hình thành quan điểm chính trị nhưng hiếm hoi tài liệu lưu trữ của Hồ khi ông còn ở Pháp, sự hiện hữu của bức thư này rất quan trọng về mặt tiểu sử. Bên cạnh khoảng chục báo cáo của cảnh sát và những bài báo, những gì chúng ta biết được về khoảng thời gian này trong cuộc đời của Hồ chủ yếu xuất phát từ những câu chuyện mang tính hồi tưởng - đa số là hồi ký của chính ông - bởi thế việc khám phá ra tài liệu gốc có tính đời tư này rất hiếm hoi, nếu không nói là chưa từng có. Nhưng chính nội dung của tài liệu này, đặc biệt là tính tinh tế trong lập luận của Hồ, càng làm nó trở nên đầy hấp dẫn đối với những học giả nghiên cứu về ông. Bức thư đánh máy, gửi cho mục sư người Pháp Ulysse Soulier, cho thấy sự ủng hộ đầy bất ngờ của vị chủ tịch tương lai của Bắc Việt trong những dự án truyền giáo Tin Lành trên quê hương ông, nhưng đồng thời cũng nói rõ quan điểm dân tộc mạnh mẽ của mình; càng chứng tỏ thêm rằng những năm đầu thập niên 1920 là bước chuyển hướng trong quá trình hình thành tinh thần chống thực dân của Hồ. Trong thời gian bức thư được viết năm 1921, ông đã kêu gọi Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson quan tâm đến Đông Dương tại hội nghị Versailles năm 1919, và là sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp năm 1920. Tuy nhiên, quan điểm thiên quân sự của con người mà trong tương lai trở thành nhà lý luận về chiến tranh thuộc địa tiêu biểu nhất của Quốc tế Cộng sản vẫn chưa hình thành đầy đủ; bức thư không hề đề cập rõ ràng đến bản thể của chủ thuyết Mác xít - Lên nin nít và gọi người dân Đông Dương là “An nam mít” - mà không bao lâu sau bị tầng lớp người Việt mới theo chủ nghĩa quốc gia lên án là một từ mang tính xúc phạm. Hơn thế nữa, thái độ thân thiện của ông đối với việc truyền bá tôn giáo của những nhà truyền đạo châu Âu cho thấy rằng “Bác Hồ” vẫn chưa phải là một nhà cách mạng hoàn toàn. Nhận xét về các kế hoạch cho một dự án truyền đạo tại Đông Dương, Hồ đã nói rằng những mục đích của Mục sư Soulier là “cực kỳ đáng tuyên dương”, ông còn đi xa hơn nữa bằng việc trấn an nhà truyền giáo rằng ông hy vọng “với cả tấm lòng tôi rằng ông sẽ thành công trong việc nhanh chóng truyền bá tôn giáo cách tân trên đất nước tôi.” Những từ ngữ này thật bất ngờ đối với một lãnh tụ Cộng sản tương lai và người đứng đầu trong phong trào kháng chiến giành độc lập quốc gia, nhưng vị thế của Hồ trong bức thư cũng rất khác biệt với một người Thiên Chúa giáo chính thống. Ông không bày tỏ về quan điểm nhận định giá trị đạo đức trực tiếp của giáo phái Tin Lành, và cũng không đi vào việc thảo luận thần học đối với những giá trị riêng biệt của giáo phái cách tân này, hoặc những dị biệt của nó đối với Công giáo hay bất kỳ tôn giáo nào khác. Thay vì thế, ông ca ngợi giá trị nhân bản toàn cầu từ những hệ tư tưởng khác nhau, được giải biện trong khái niệm “một Sự Thật”, đặt trong một công thức: “Phật Giáo + Khổng Giáo + Thiên Chúa Giáo = Đấng Toàn Năng.” Tuy nhiên, quan điểm đa phái liên tôn này, trong khi có lẽ gây ấn tượng đối với người đọc hiện tại, nó lại không phải là trọng tâm chính của lá thư. Động cơ chính của nó mang tính xã hội hơn là tín ngưỡng, và tác giả quan tâm đến người dân được truyền đạo nhiều hơn là bản thân quá trình truyền giáo. Khi chỉ ra những đặc điểm trong nghị trình truyền giáo của Mục sư Soulier “dường như là đi ngược lại ý tưởng cơ bản trong hoạt động của Soulier,” quan điểm chống đế quốc của Hồ được bộc lộ rõ ràng và mạnh mẽ bằng cách sử dụng ngôn ngữ duy lý của Tin Lành, và trực tiếp kêu gọi người mục sư bằng cách sử dụng những thuật ngữ của ông ta. Tuyên bố rằng thuật ngữ “Đông Dương thuộc Pháp” mà Soulier dùng “hoàn toàn trái ngược” với việc truyền bá phúc âm, Hồ lập luận rằng “cũng như mọi điều thuộc về tư tưởng”, tôn giáo phải là phi biên giới và “đứng trên bất kỳ chủ nghĩa quốc gia cũng như quyền lợi chính trị nào,” và sau đó kêu gọi Soulier thay vì thế nên sử dụng từ “Đông Dương” mà không kèm theo tính từ “thuộc Pháp”. Công việc của Chúa, ông đồng ý, là một nỗ lực nhằm giải phóng, trong khi đó chủ nghĩa thực dân “là một hành động đàn áp và chinh phục.” Vì thế ông vạch ra sự mâu thuẫn hoàn toàn giữa chủ nghĩa thực dân và công việc truyền giáo, biến quá trình phi thực dân hoá thành một điều kiện tiên quyết trong việc cách tân tín ngưỡng, theo lập luận của ông, là “một Đông Dương bị kềm kẹp không thể thực sự là một Đông Dương của Thiên Chúa Giáo.” Để liên kết sâu thêm nghị trình chống thực dân của mình vào việc phê bình chiến lược của Soulier, ông đồng ý với khẳng định của đạo Tin Lành rằng người Việt đang bị đày đoạ về tinh thần và đạo đức, nhưng cũng mở rộng ra để bao gồm thêm là họ cũng bị thiếu thốn về vật chất, xã hội và chính trị. Vì thế ông nhấn mạnh rằng, công cuộc truyền đạo của Thiên Chúa giáo không thể đạt được mục tiêu của mình, mà không đề cập đến những vấn nạn xã hội và chính trị gây ra bởi chủ nghĩa thực dân: “những lợi tức đạo đức và lợi tức vật chất phải đi chung với nhau, vì không thể đạt được điều này mà không có điều kia.” Bởi vậy ông đã đánh đổ dự án truyền giáo thực dân bằng chính ngôn từ của nó; biến một người dân Đông Dương thành một giáo dân tốt của Thiên Chúa thì không phải - và không thể - giống như việc biến họ thành một công dân tốt của Pháp, và vì thế truyền bá phúc âm không thể là một công cụ của chủ nghĩa thực dân. “Có phải một người tự do chính là người duy nhất được Chúa nhìn nhận không?” ông hỏi. Trên tổng thể, bức thư giúp đem lại một cái nhìn thấu đáo rất hấp dẫn đối với những hoạt động của Hồ Chí Minh, một người yêu nước giỏi xã giao và giảo hoạt, khi ông tìm những liên hệ và khuyếch trương lý tưởng của phong trào quốc gia đang nổi lên tại chính trung tâm của thủ đô thuộc địa. Phó Giáo sư Bourdeaux, trong những nhận định đăng tải cùng với bức thư viết rằng, tài liệu này là bằng chứng bổ sung thêm vào nhận định giáo phái Tin Lành cấp tiến là một phong trào mà Hồ đặc biệt gần gũi, trong những nỗ lực ban đầu nhằm tìm kiếm hậu thuẫn cho mục đích chống thực dân của mình; ông được biết là có liên lạc với những người Tin Lành quốc gia Trung Quốc và Triều Tiên trong giai đoạn này, và nhiều nhà hoạt động nhân quyền châu Âu mà ông làm việc chung có thể từng là thành viên của những tổ chức Thiên Chúa giáo cách tân. Bourdeaux cho thấy rằng “tài liệu này rõ ràng là thực, và [...] chắc chắn là của Hồ Chí Minh sau này.” Thậm chí tên tác giả rõ ràng bị viết sai, lại càng tăng thêm tính quan trọng của bức thư. Bourdeaux chỉ ra “Nguyen Ai Quâc,” là cách viết gọn không chính thức của Nguyễn Ái Quốc theo quê hương Nghệ An của Hồ, và việc sử dụng cách viết đời thường này cho thấy sự gần gũi và tin cậy giữa hai người viết thư, cũng như khẳng định rõ rằng bức thư này mang tính riêng tư, một trao đổi đơn thuần hơn là một bài viết có chuẩn bị của một phát ngôn viên đại diện cho một tập thể hoặc tổ chức. Việc công bố bức thư đầy bất ngờ, kèm với bài viết có nghiên cứu kỹ lưỡng của Bourdeaux cung cấp lượng thông tin toàn diện về xuất xứ của những người trao đổi thư từ với Hồ, và những liên kết quốc tế giữa “những người truyền đạo chống đối”, chắc chắn sẽ là một tiến bộ đầy hứng khởi cho các học giả nghiên cứu về Việt Nam. Tài liệu cá nhân độc đáo này làm phức tạp thêm bức tranh của chúng ta về ‘nhà Ái Quốc’ trong những năm 1920, đang trải qua quá trình cấp tiến hoá và quân sự hoá đầy nhanh chóng. Nó cho thấy một bức tranh đầy sắc thái của một nhà ngoại giao tài giỏi tinh tường, trong việc kêu gọi các thành phần khác nhau bằng chính ngôn ngữ của họ. Sẵn sàng tiếp cận một cách đầy ngạc nhiên với những dự án hội nhập văn hoá của các nhân vật tôn giáo từ châu Âu, nhưng cũng mang tinh thần yêu nước đầy kiên quyết và chú trọng về mặt chính trị trong thời kỳ chuyển hoá sự nghiệp của ông, bức thư cho thấy người thanh niên họ Hồ đang ở ngưỡng cửa của quá trình nhận thức tư tưởng. Như Bourdeaux kết luận, “Thiên hướng nội tâm của Hồ Chí Minh đã được xác định. Giờ chúng chỉ cần củng cố thêm.” *. Nguồn:asiapacific.anu.edu.au ______________________________ Tài liệu tham khảo: * Hồ Chí Minh và Kareem James Abu-Zeid, ‘Bức thư chưa công bố của Hồ Chí Minh gửi cho một Mục sư Pháp’, Tạp chí Nghiên cứu Việt Nam, Bộ 7, Số 2 (Hè 2012), tr. 1-7 (Bản dịch tiếng Anh của bức thư với bản gốc tiếng Pháp) * Pascal Bourdeaux và Kareem James Abu-Zeid, ‘Những ghi chú về một bức thư chưa công bố của Hồ Chí Minh gửi cho một Mục sư Pháp (8 Tháng Chín, 1921) hoặc Nghệ thuật của việc Truyền bá Phúc âm Phi Chính thống’, Tạp chí Nghiên cứu Việt Nam, Bộ 7, Số 2 (Hè 2012), tr. 8-28 * Địa điểm của tài liệu: File: “Indochine, dossier U.Soulier,” Box: Indochine dossier Ulysse Soulier, DÉFAP (Département Evangélique Français de l’Action Apostolique) Service Protestant de Mission (bibliothè que d’histoire de la mission et de la missiologie; archives de la société des missions évangéliques de Paris), boulevard Arago, Paris, France. ![]() Ho Chi Minh’s Surprise Letter By Matthew Parsfield, Guest Contributor – 17 August 2012Posted in: History, Revolution, Vietnam July’s Journal of Vietnamese Studies carries a remarkable document: a previously unpublished letter written by Hồ Chí Minh, dated September 8th 1921. It is one of the earliest private, political sources from the Vietnamese revolutionary’s life found to date. Pascal Bourdeaux, an associate professor at the École Pratique des Hautes Études in Paris, came across the letter ending with “a flowing, elegant, lightly italicized and underlined signature in black ink” while sifting through the archives of the Paris Evangelical Missionary Society. The name signed was “Nguyên Ai quâc” – more usually spelled Nguyễn Ái Quốc – or “Nguyễn The Patriot,” as Hồ Chí Minh called himself at the time. Dating from the politically formative, but sparsely documented, years of Hồ’s residence in Paris, the very existence of the letter is of great biographical significance. Besides a handful of police reports and newspaper articles, what we know of this period of Hồ’s life stems predominantly from retrospective accounts – many autobiographical – and so the unearthing of this more personal primary source is rare, if not unprecedented. Yet it is the content of the document, particularly the sophistication of Hồ’s argument, which will make it so fascinating to Hồ scholars. The typed letter, written to French pastor Ulysse Soulier, demonstrates the future North Vietnamese President’s surprising support for the protestant missionary project in his home country, but at the same time articulates his burgeoning nationalist views; further evidence that this early 1920s period was pivotal in the gestation of Hồ’s anti-colonial consciousness. At the time of the letter’s writing in 1921, he had already advocated the interests of Indochina to the American President, Woodrow Wilson, at the Versailles conference in 1919, and had been a founding member of the French Communist Party in 1920. However, the more militant stance of the man who was to be the Comintern’s foremost colonial warfare theorist seems yet to have been fully adopted; the letter makes no explicit reference to formal Marxist-Leninist doctrine, and it refers to the inhabitants of Indochina as the “Annamese” – soon to be regarded as an offensive term by the nascent Vietnamese nationalists. Not least, his conciliatory attitude towards the spreading of religion by European missionaries suggests that “Uncle Hồ” the revolutionary was not yet a fully-formed persona. Responding to his correspondent’s plans for an evangelical project in Indochina, Hồ describes Pastor Soulier’s aims as “extremely laudable,” going so far as to assure the missionary that he hopes “with all my heart that you will succeed in rapidly spreading the reformed religion in my country.” These may seem like startling words from a future Communist leader and figurehead of the nationalist uprising, but Hồ’s position in the letter is far from that of an orthodox Christian. He expresses no direct value-judgement of Protestantism and does not engage in any theological discussion of the reformed faith’s specific merits or deviations from either Catholicism or any other religion. Instead, he praises the universal humanism of various thought systems which articulate the “one Truth,” stating in the form of an equation that: “Buddhism + Confucianism + Christianity = Goodness.” However, this interfaith pluralism, while perhaps striking to the modern reader, is not the primary focus of the letter. Its driving motivation is more socialist than religious, and the population to be evangelised is of more concern to the author than the evangelising process itself. Referring to various points in Pastor Soulier’s mission portfolio that “seem to go against the fundamental idea of [Soulier’s] work”, Hồ’s anti-imperialism is clear and forceful, adopting the language of protestant rationality and appealing directly to the pastor on his own terms. Declaring Soulier’s use of the term “French Indochina” to be “utterly contrary” to the evangelising mission, he argues that that “like all things ideal” religion should be borderless and “above any nationalism and any political interests,” and so urges Soulier to adopt the adjective-free form “Indochina” instead. Christ’s work, he agrees, is an endeavour of emancipation, whereas colonialism “is a work of oppression and subjugation.” He thus identifies a total contradiction between colonialism and missionary work, making decolonization a precondition for spiritual reform as, under his logic, “a controlled Indochina cannot be a truly Christian Indochina.” Further interweaving his anti-imperialist agenda into his critique of Soulier’s strategy, he agrees with the protestant assertion than the Vietnamese are suffering from spiritual and moral oppression, but expands this to include material, social and political deprivation. He stresses that, as a result, the Christian mission cannot properly achieve its goals without addressing the social and political problems wrought by colonialism: “moral benefits and material benefits have to go hand in hand, for the one cannot be accomplished without the other.” He thus undermines the colonial missionary project on its own terms; to turn an Indochinese person into a good Christian is not – and cannot be – the same thing as to turn him into a good Frenchman, and therefore evangelism cannot be a tool of colonialism. “Isn’t the free man the only man recognised by God?” he asks. Altogether, the letter is an intriguing insight into the operations of Hồ Chí Minh the wily, diplomatic patriot, as he made connections and advocated the burgeoning nationalist movement’s cause in the very centre of the colonial metropolis. Bourdeaux, in his commentarial notes published alongside the letter, writes that the document is evidence adding to the impression that liberal Protestantism was a movement which Hồ was especially close to during his early efforts to gain support for his anti-colonial cause; he is known to have had contact with Chinese and Korean protestant nationalists around this time, and many of the European human rights advocates he worked with would have been members of reformist Christian churches. Bourdeaux demonstrates that “the document is incontestably authentic, and [...] should without a doubt be attributed to the future Hồ Chí Minh.” Even the apparent misspelling of the author’s name only heightens the letter’s significance; “Nguyên Ai quâc,” Bourdeaux points out, is the informal diminutive of Nguyễn Ái Quốc native to Hồ’s home region Nghệ An, and the use of this colloquial version indexes the familiarity and trust between the correspondents, as well as the certitude that the letter is a personal, solo correspondence rather than collaborative spokesman-piece on behalf of a party or collective. The unexpected publication of the letter, alongside Bourdeaux’s well-researched companion piece supplying exhaustive information on the background of Hồ’s correspondents and the international links between “dissident evangelists”, will no doubt be an exciting development for Vietnam scholars. This uniquely private document complicates our picture of ‘The Patriot’ of the 1920s undergoing rapid radicalization and militarization. It exhibits a more nuanced picture of a skilled diplomat adept at appealing to different actors on their own terms. Surprisingly willing to engage with the enculturating projects of religious figures from Europe, and yet resolutely patriotic and politically focused at this transformative stage of his career, the letter captures a young Hồ on the brink of ideological actualization. As Bourdeaux concludes, “[Hồ Chí Minh’s] inner vocations had already been affirmed. They would now require confirmation.” *.Sources *Hồ Chí Minh and Kareem James Abu-Zeid, ‘Unpublished Letter by Hồ Chí Minh to a French Pastor’, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), pp. 1-7 (English translation of letter with facsimile of French original) *Pascal Bourdeaux and Kareem James Abu-Zeid, ‘Notes on an Unpublished Letter by Hồ Chí Minh to a French Pastor (September 8, 1921) or the Art of Dissenting Evangelization,’ Journal of Vietnamese Studies, Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), pp. 8-28 *Physical location of archive: File: “Indochine, dossier U.Soulier,” Box : Indochine dossier Ulysse Soulier, DÉFAP (Département Evangélique Français de l’Action Apostolique) Service Protestant de Mission (bibliothè que d’histoire de la mission et de la missiologie; archives de la société des missions évangéliques de Paris), boulevard Arago, Paris, France. Matthew is a postgraduate student of the School of Oriental and African Studies, University of London. He holds a degree in Literature from Oxford University and has worked in the media, sports administration, community work, research, and education in the UK and Vietnam. |
|||
|
23-01-2013, 05:26 PM
(Bài viết đã được chỉnh sửa: 04-02-2013 09:59 AM bởi Tâm Như.)
Bài viết: #2
|
|||
|
|||
English Article. Translating into Vietnamese. L.V.
![]() Patrick Bateman - Tương Lai Về Quan Hệ Của Hoa Kỳ Đối Với Việt Nam L.V. chuyển ngữ Dịch giả gửi đến Dân Luận *. https://danluan.org/tin-tuc/20121007/pat...i-viet-nam Một trong nhiều khía cạnh của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ có thể bị ảnh hưởng bởi cuộc bầu cử tổng thống sắp tới lại là một lĩnh vực vốn ít được lưu tâm tới. Trong khi những đối tượng thường thấy - Iran, Trung Quốc, Cuba và Syria - đang thống trị những tranh luận về chính sách đối ngoại ở Hoa Kỳ, cả hai ứng cử viên tổng thống lại chẳng có gì để nói về Việt Nam. Và tại sao họ phải nhắc đến? Trong thập niên qua quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam đã phát triển vững chắc, đi cùng hướng với tiến triển đầy cẩn trọng của Việt Nam trong quá trình tự do hoá kinh tế, dân chủ hoá và tôn trọng nhân quyền. Trong nhiệm kỳ đầu của mình chính quyền Obama đã chứng tỏ là rất sẵn sàng đưa ra vài củ cà rốt ngoại giao theo ý của Việt Nam. Vào tháng Mười hai 2010, Michael Michalak, lúc ấy là Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, đã dùng bài phát biểu trong Ngày Nhân quyền tại Hà Nội để ca ngợi “những tiến triển mạnh mẽ” từ chính quyền Việt Nam trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng. Vào năm 2011, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã phản bác lời kêu gọi của Uỷ ban Tự do Tín ngưỡng Quốc tế của Hoa Kỳ, tổ chức Theo dõi Nhân quyền, và những nhóm người Mỹ gốc Việt nhằm đưa Việt Nam vào danh sách “quốc gia cần quan tâm đặc biệt”(Việt Nam trước đó đã được đưa ra khỏi danh sách này vào năm 2006 trên cơ sở là đã “có tiến triển quan trọng trong việc thúc đẩy tự do tín ngưỡng”). Đại diện Ngoại giao Hoa Kỳ Ron Kirk thậm chí đã từng thương thảo với chính quyền Việt Nam về khả năng được nhận vào Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Trong một biểu hiện rõ rệt về tình hữu nghị đang nảy nở giữa hai quốc gia, vào cuối năm 2011 Việt Nam đã khai trương một lãnh sự quán mới tại New York, trong khi Hoa Kỳ cũng mở cửa một “Trung Tâm Hoa Kỳ” vốn được đón chào rộng rãi tại lãnh sự quán của mình ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng sau cuộc bầu cử năm nay, quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ - Việt Nam có thể đi trệch khỏi con đường bình thường hoá. Ứng cử viên tổng thống phe Cộng hoà Mitt Romney cho đến nay đã nói rất ít về việc mở rộng ngoại giao này, nhưng có nguyên nhân chắc chắn để tin rằng việc thay đổi nhân sự tại Nhà Trắng có thể dẫn đến một thay đổi hướng đi trong mối quan hệ song phương này. Vào tháng Giêng 2012 các Dân biểu Hạ viện Cộng hoà đã lên tiếng quan ngại sâu sắc đối với việc mà họ gọi là sự thờ ơ của chính quyền Obama đối với những vi phạm nhân quyền ngày càng tăng ở Việt Nam. Trong một số buổi điều trần công khai về vấn đề này, các thành viên Cộng hoà trong Uỷ ban về các Vấn đề Đối ngoại của Hạ viện đã chỉ ra ba lĩnh vực mà họ cho rằng chính quyền mới tại Việt Nam, được bầu lên vào năm 2011, đang thụt lùi trong việc tôn trọng nhân quyền. Trước tiên, chính quyền mới này đã tăng cường việc đàn áp quyền tự do ngôn luận và tổ chức. Các nhà báo, nhà bảo vệ nhân quyền, các nhà hoạt động bảo vệ đất đai, những người vận động chống tham nhũng và các nhà cổ vũ tự do tôn giáo và dân chủ giờ đây thường xuyên bị công an sách nhiễu và bắt giữ trái phép. Chỉ riêng trong năm 2011, 33 nhà hoạt động ôn hoà đã bị tuyên án tổng cộng 185 năm tù. Ngày 24 tháng Chín 2012, ba nhà viết blog người Việt là Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải đã bị kết án đến 26 năm tù giam sau một phiên toà kín xảy ra chỉ trong vài giờ. Họ đã bị bắt giữ không xét xử từ năm 2010 vì đã viết trên các trang blog như “Công lý và Sự thật”, được xem là thù địch đối với nhà nước Việt Nam. Việc kiểm duyệt báo chí giấy và trên mạng đã trở nên thường xuyên và tinh vi hơn. Thứ hai, việc bắt giữ tùy tiện, nạn bạo hành và tra tấn của công an đã ngày càng trở thành công cụ thường xuyên nhằm đàn áp giới chống đối. John Sifton, Giám đốc Hỗ trợ khu vực châu Á của tổ chức Theo dõi Nhân quyền, đã cho rằng nạn bạo hành của công an đã trở thành một cơn dịch tại Việt Nam, với ít nhất là 13 người bị chết sau khi bị công an bắt giữ trong năm 2011. Những người bị bắt giữ vì lý do chính trị và tôn giáo thường xuyên bị tra tấn để ép buộc nhận tội, bị biệt giam trước ngày xử án và bị từ chối quyền gặp mặt gia đình và luật sư. Cuối cùng - và lĩnh vực này có vẻ là mối quan tâm lớn nhất của những Dân biểu Cộng hoà - chính quyền mới ở Việt Nam đã bắt đầu trấn áp quyền tự do tín ngưỡng. Mặc dù chính sách bắt buộc bỏ đạo đã chính thức chấm dứt từ năm 2005, trên thực tế vẫn được tiếp tục. Dưới lệnh cấm rộng rãi đối với tất cả hoạt động tín ngưỡng được xem là đi ngược lại “lợi ích quốc gia”, công an nhà nước đã tăng cường can thiệp và những hoạt động của các nhóm Phật giáo Hoà Hảo, Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, giáo phái Cao Đài, Pháp Luân Công, Dòng Chúa Cứu Thế và các tổ chức Công Giáo và Tin Lành người thiểu số. Vào tháng Năm 2011, bị báo động bởi khả năng của cộng đồng hàng triệu người Hmong chuyển sang đạo Thiên Chúa giáo, chính quyền Việt Nam đã đi xa đến mức điều động quân đội để vây kín hàng nghìn người Hmong theo đạo Thiên Chúa tại Mường Nhé. Các nhà vận động tôn giáo cũng thường xuyên bị bắt giữ: ít nhất là 15 người Công Giáo có liên hệ với Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã bị bắt giữ vào cuối năm 2011. Những bước đi lùi trong hồ sơ nhân quyền của Việt Nam đã khiến cho giới Dân biểu Cộng hoà Hoa Kỳ lên tiếng kêu gọi có thái độ cứng rắn hơn đối với chính quyền Việt Nam. Chris Smith, chủ tịch Phân ban về Châu Phi, Y tế Thế giới và Nhân quyền của Hạ viện đã hối thúc Bộ Ngoại giao xếp hạng Việt Nam vào lại danh sách “quốc gia cần quan tâm đặc biệt”. Phân ban của ông cũng bày tỏ sự ủng hộ việc thành lập một văn phòng lãnh sự vệ tinh tại vùng cao nguyên Việt Nam để đảm trách những khiếu nại về nhân quyền ở địa phương. Một số những quan chức thuộc đảng Dân chủ ở Hoa Kỳ cũng ủng hộ một thái độ cứng rắn hơn đối với Việt Nam. Vào tháng Ba 2012 Uỷ ban về các Vấn đề Đối ngoại của Hạ viện đã đồng loạt thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam nhằm ngăn cấm bất kỳ sự tăng cường viện trợ không liên quan đến nhân đạo cho Việt Nam nằm trên mức độ của Năm Tài khoá 2012, trừ phi chính quyền này “đạt được tiến triển rõ rệt trong việc thiết lập dân chủ và khuyến khích nhân quyền”. Dự luật này sau đấy đã được Hạ viện thông qua nhưng vẫn còn đang đợi Thượng viện chấp thuận. Hillary Clinton từng bày tỏ quan điểm trước Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á 2011 rằng hồ sơ nhân quyền của Việt Nam vẫn là trở ngại quan trọng trong quá trình phát triển quan hệ song phương - đấy cũng là điểm mà bà đã nhắc lại trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng Bảy 2012. Nhưng chính quyền Obama vẫn chưa cho thấy là họ sẽ từ bỏ con đường hướng đến việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Những hi vọng của các giới Cộng hoà ở Hạ viện mong muốn có thêm một chút “cây gậy” và bớt đi một chút “cà rốt” trong quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam có thể trở thành sự thật nếu họ chiếm được quyền điều hành Nhà Trắng vào tháng Mười Một này. *. Nguồn: Diễn đàn Đông Á ![]() The future of US relations with Vietnam October 4th, 2012 Author: Patrick Bateman, London *. http://www.eastasiaforum.org/2012/10/04/...h-vietnam/ One of the many aspects of US foreign policy that may be affected by the upcoming presidential election is an area that has received very little attention. While the usual suspects — Iran, China, Cuba and Syria — dominate what passes for debate over foreign policy in the US, neither presidential candidate has had much to say about Vietnam. And why should they? Over the last decade the US relationship with Vietnam has steadily improved, in line with the latter’s cautious progress toward economic liberalisation, democratisation and respect for human rights. During its first term the Obama administration has proved more than willing to extend a few diplomatic carrots Vietnam’s way. In December 2010, Michael Michalak, then US Ambassador to Vietnam, used a Human Rights Day speech in Hanoi to praise the ‘strong improvements’ that had been made by the Vietnamese government in its protection of religious freedom. In 2011, the US State Department rejected calls by the US Commission for International Religious Freedom, Human Rights Watch, and various Vietnamese–American groups to re-designate Vietnam as a ‘country of particular concern’ (Vietnam was first removed as a CPC in 2006 on the basis that it had made ‘significant improvement towards advancing religious freedom’). US Trade Representative Ron Kirk has even been negotiating with the Vietnamese government about its possible admission to the Trans-Pacific Partnership. In a neat demonstration of the budding friendship between the two countries, in late 2011 Vietnam opened a new consulate in New York, while the US added a much-touted ‘American Center’ to its consulate in Ho Chi Minh City. But after this year’s elections, US–Vietnam diplomatic relations may stray from the path of normalisation. Republican presidential nominee Mitt Romney has so far had little to say about this diplomatic embrace, but there is good reason to believe that a change in the White House may dictate a change of direction for bilateral relations. In January 2012 House Republicans voiced serious concerns about what they labelled as the Obama administration’s indifference to growing human rights abuses in Vietnam. During several public hearings on the subject, Republican members of the House Foreign Affairs Committee pointed to three areas where they believed the new Vietnamese government, elected in 2011, was going backward in its respect for human rights. First, the new government has stepped up its suppression of freedom of expression and association. Writers, human rights defenders, land rights activists, anti-corruption campaigners and religious and democracy advocates now routinely face police harassment and unlawful detention. In 2011 alone, 33 peaceful activists were sentenced collectively to 185 years in prison. On September 24 2012, three Vietnamese bloggers, Nguyen Van Hai, Ta Phong Tan, and Phan Thanh Hai, were sentenced to up to 26 years imprisonment after a closed trial of just a few hours. They had been held without trial since 2010 for writing blogs, such as ‘Justice and Truth’, that were deemed hostile to the Vietnamese government. Censorship of print news and the Internet has become both more common and sophisticated. Second, arbitrary detention, police brutality and torture have become increasingly common tools for suppressing dissent. John Sifton, Asia Advocacy Director at Human Rights Watch, argues that police brutality is now endemic in Vietnam, with at least 13 people dying in police custody in 2011. Political and religious detainees are often tortured to elicit confessions, held incommunicado prior to trial, and denied access to family and lawyers. Finally — and this appears to be of most concern to Congressional Republicans — the new Vietnamese government has begun cracking down on religious freedom. Though forced renunciations were officially halted in 2005, they have continued in practice. Under a far-reaching ban on all religious activity deemed to oppose ‘national interests’, state police have increasingly interfered in the practices of Buddhist Hoa Hao groups, the Unified Buddhist Church of Vietnam, the Cao Dai church, Falun Gong, Catholic Redemptorist churches and Protestant and Catholic Montagnards. In May 2011, alarmed by the prospect of the million-strong Hmong community converting to Christianity, the Vietnamese government went so far as to send troops to seal off thousands of Hmong Christians in Huoi Khon Village. Religious campaigners are also frequently arrested: at least 15 Catholics affiliated with Redemptorist churches in Hanoi and Ho Chi Minh City were arrested in late 2011. These recent reversals in Vietnam’s human rights record have prompted US Congressional Republicans to call for a tougher stance toward the Vietnamese government. Chris Smith, Chairman of the House Subcommittee on Africa, Global Health, and Human Rights, has urged the State Department to redesignate Vietnam as a ‘country of particular concern’. His subcommittee also expressed support for the establishment of a satellite consular office in the Vietnamese highlands, to handle human rights complaints on the ground. A number of US Democrats also support a tougher stance on Vietnam. In March 2012 the House Foreign Affairs Committee unanimously passed the Vietnam Human Rights Bill to prohibit any increase in non-humanitarian assistance to Vietnam above Fiscal Year 2011 levels, unless its government ‘makes substantial progress in establishing a democracy and promoting human rights’. The Bill has since been passed in the House of Representatives but awaits approval by the Senate. Hillary Clinton expressed the view prior to the 2011 East Asia Summit that Vietnam’s human rights record remained a significant impediment to improving bilateral relations — a point she reiterated in a visit to Vietnam in July 2012. Yet the Obama administration has not indicated whether it intends to depart from the path toward normalisation of ties with Vietnam. The hopes of House Republicans who wish for a little more stick and a little less carrot in the US–Vietnam relationship may be realised if they can wrest control of the White House in November. Patrick Bateman was a Research Fellow in East Asian and Pacific Affairs for US Senator Marco Rubio, and a researcher for the former Prime Minister of Australia John Howard. He now works for a human rights agency in London. |
|||
|
23-01-2013, 05:49 PM
(Bài viết đã được chỉnh sửa: 04-02-2013 09:59 AM bởi Tâm Như.)
Bài viết: #3
|
|||
|
|||
English Article. Translating into Vietnamese. L.V.
![]() Luke Hunt - Liệu Việt Nam sẽ trở thành Hy Lạp của Đông Nam Á? L.V. chuyển ngữ Dịch giả gửi đến Dân Luận *. https://danluan.org/tin-tuc/20120911/luk...dong-nam-a Những điềm báo về tài chính ở Việt Nam thì không được tốt. Những câu chuyện về ngân hàng bị hút tiền mặt, việc bắt giữ các quan chức tham nhũng và sự kết thúc của một thời kỳ kinh tế được đánh dấu bởi cơn bùng nổ tăng trưởng đã nói lên tất cả. Hơn nữa, còn có triển vọng là Hà Nội phải nhờ đến sự giúp đỡ từ bên ngoài. Ý tưởng rằng Việt Nam có thể nhờ đến việc xoá nợ để giải quyết món nợ quốc gia từ những nhà cho vay lớn nhất của Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã được đưa ra tại Uỷ ban Quốc hội nhưng ý kiến này hầu như liền bị ngân hàng trung ương quốc gia bác bỏ lập tức. Triển vọng này chỉ dừng tại đấy, nhưng nó cũng gây áp lực hơn đối với chính quyền trong việc đưa ra chi tiết rằng nó cần làm gì để sửa đổi sự mất cân bằng trong ngân sách và đưa nền kinh tế Việt Nam vào vị trí an toàn. Các chính phủ cộng sản thì thường không có thói quen đưa ra những tuyên bố như thế, vốn là điều kiện bắt buộc nếu chính phủ muốn bên ngoài giúp đỡ, ví dụ như việc xoá nợ từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Bên cạnh đấy, tình hình tài chính của Trung Quốc xem ra cũng bấp bênh như đã được nói rõ trong một bài báo cần nên đọc của Minxin Pei vừa đăng trên tờ The Diplomat * rằng chúng ta cần nên quan ngại về những hậu quả bắt nguồn từ những năm tháng với chính sách tín dụng dễ dãi ở Trung Quốc. Những hệ quả từ một Trung Quốc bị cạn kiệt tài chính và một Việt Nam dễ bị khủng hoảng thì quá lớn đối với các quốc gia Đông nam Á với những nền kinh tế vốn đã rất khắc kỷ trong việc vượt qua những thách thức của con đường tài chính đầy nợ nần đang tấn công dồn dập nền kinh tế thế giới từ 2008. Việc cởi bỏ luật lệ trong khối ASEAN đã tăng rất nhiều khả năng trao đổi thương mại giữa 10 quốc gia thành viên, trong khi những đầu tư và viện trợ của Trung Quốc vào các nước như Cambodia đã làm phát triển thêm tương lai kinh tế của khu vực. Nhưng bản thân các quốc gia - tiêu biểu như Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia - thì có vẻ bấp bênh. Tỉ lệ tăng trưởng đang yếu đi, nợ nần tăng cao, những lợi nhuận ban đầu trong khu vực từ việc cắt bỏ luật lệ đã hết đi và các đối tác thương mại truyền thống từ Hoa Kỳ đến châu Âu, Nhật Bản và giờ đây là Trung Quốc không chắc sẽ mau chóng thấy lại được sự hồi sinh của quá trình bùng nổ. Còn quá sớm để nói rằng liệu Việt Nam sẽ trở thành Hy Lạp của Đông Nam Á hay không. Tính chất giữa chính quyền và người dân thì quá cách biệt, nạn lạm phát đã được kềm chế và tỉ giá hối đoái cũng đã ổn định. Tuy nhiên, giá thị trường nhà đất đã giảm còn phân nửa, đầu tư nước ngoài giảm một phần ba và dự báo tăng trưởng ở mức 5% trong hai năm tới thì quá yếu để một quốc gia đang phát triển phát huy vận mệnh của mình. Viễn cảnh tương lai thì quá xấu và điều này cũng sẽ làm tổn thương đến những quốc gia láng giềng ngay bên cạnh như Cambodia và Lào, và sẽ lan toả lên khắp khu vực, nơi mà sự bất ổn kinh tế đang nhanh chóng trở thành một vấn đề cấp bách. *. The Diplomat: http://thediplomat.com/2012/09/10/are-ch...ebt-bombs/ ![]() Will Vietnam Become SE Asia’s Greece? By Luke Hunt September 11, 2012 *. http://thediplomat.com/asean-beat/2012/0...as-greece/ The fiscal omens arising out of Vietnam are not good. Talks of bank runs, the arrests of corrupt officials and an end to an economic era marked by robust growth say it all. More so, is the prospect that Hanoi will seek outside help. The idea that Vietnam could seek a bailout to resolve debt incurred by the county’s biggest lenders from the International Monetary Fund (IMF) was raised by a Parliamentary Committee but the idea was then almost immediately dismissed by the country’s central bank. This prospect remains just that, but it did increase the heat on the Vietnamese government to spell out exactly what is needed to correct fiscal imbalances and put the economy back on a secure footing. Communist governments are not known for making such declarations, which would be mandated if the government was to seek outside help, like an IMF bailout. Additionally, Chinese finances are also looking very shaky as was detailed in a must read column by Minxin Pei who recently wrote in The Diplomat that we should be worried about the consequences stemming from years of easy credit in China. The ramifications of a financially depleted China and a recession-prone Vietnam are enormous for Southeast Asia whose economies have done a stoic job in fending off the challenges of the debt-plagued financial route that has hammered the world economy since 2008. Deregulation within the Association of South East Asian Nations (ASEAN) had vastly improved the ability of the 10-member bloc to trade among themselves, while China’s investment and largesse, particularly in countries like Cambodia, has further improved regional economic outlook. But on their own some countries – notably Malaysia, Thailand, the Philippines and Indonesia – are looking vulnerable. Growth is weakening, debt is growing, the initial regional benefits of deregulation have run their course and traditional trading partners from the U.S. to Europe, Japan and now China are unlikely to see a return to the boom times anytime soon. It’s too early to say whether Vietnam will become Southeast Asia’s Greece. Its government and people are of a vastly different character, inflation is under control and the exchange rate has stabilized. Nevertheless, housing prices have halved, foreign investment is down by a third and forecast growth rates of five percent over the next two years are paltry for a developing country out to improve its lot. The outlook is far from good and this will also hurt Vietnam’s immediate neighbors, Cambodia and Laos and ripple across a region where economic uncertainty is fast becoming the issue of the day. |
|||
|
23-01-2013, 06:32 PM
(Bài viết đã được chỉnh sửa: 04-02-2013 10:03 AM bởi Tâm Như.)
Bài viết: #4
|
|||
|
|||
|
English Article. Translating into Vietnamese. L.V.
Thomas Fuller - Ở Việt Nam, Thông Điệp Về Bình Đẳng Trái Ngược Với Khoảng Cách Giàu Nghèo
L.V. chuyển ngữ Theo tờ New York Times *. https://danluan.org/tin-tuc/20120902/tho...-cach-giau ![]() Tô Linh Hương, con gái ông Tô Huy Rứa Cô mặc một bộ cánh màu hồng và đi guốc cao gót đồng màu khi tham quan một công trình xây dựng đầy bụi. Ngay sau chuyến viếng thăm của Tô Linh Hương vào tháng Tư, những bức ảnh chụp được khoảng khắc ấy đã tràn lan trên mạng, nhưng không phải vì phong cách ăn mặc của cô Hương. Là con gái của một thành viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan chính trị có quyền lực nhất đất nước, cô Hương chỉ cần vài ngày để được bổ nhiệm chức vụ đứng đầu một doanh nghiệp xây dựng nhà nước. Các nhà bình luận trên mạng bày tỏ bức xúc vì một người còn quá trẻ - được biết là 24 tuổi - lại giữ một chức vụ tối cao trong một công ty. “Đưa một cô gái trẻ vừa tốt nghiệp trường báo chí và phong cô ta làm tổng giám đốc một công ty xây dựng thì chẳng khác nào đưa một kẻ cụt chân làm thủ môn,” Phạm Viết Đào, một nhà viết blog nổi tiếng nhận xét. “Xin lỗi - điều này thật ngu xuẩn.” Cũng như giới lãnh đạo Đảng Cộng sản ở Trung Quốc, các quan lại chính trị đang vất vả để chỉnh đốn thông điệp của đảng mình về bình đẳng xã hội trong khi thực tế thì giới lãnh đạo lại tràn ngập trong giàu sang và ân sủng. Khoảng cách rộng giữa nghèo khó ở miền quê và giàu có ở thành thị đặc biệt đang trở nên mãnh liệt, trong khi một thập niên tăng trưởng chóng mặt đang kết thúc, làm lu mờ triển vọng phấn đấu để trèo lên nấc thang xã hội của tầng lớp nghèo và trung lưu “Cho đến hiện tại, mức tăng trưởng thật tốt đẹp, và là người giàu có thì tuyệt vời,” Carlyle A. Thayer, một chuyên gia hàng đầu về nền chính trị Việt Nam nói, ông có một kho dữ liệu về giới lãnh đạo Việt Nam và các thành viên trong gia đình họ. “Lòng bất mãn đang tăng cao, đặc biệt là giới trắng tay đối với tầng lớp giàu có.” Đa số những khó chịu nhắm vào phiên bản của chủ nghĩa tư bản cánh hẩu ở Việt Nam - mối quan hệ mật thiết giữa các tài phiệt và các quan chức cao cấp của Đảng Cộng sản. Làn sóng chỉ trích này được nở rộ vì những tin tức về nạn lạm dụng chức quyền đã rò rỉ khi các doanh nghiệp nhà nước, vốn vẫn là bộ phận cốt lõi của nền kinh tế, đã bị suy sụp, làm tăng thêm tính nghiêm trọng của những khó khăn tài chính tại Việt Nam. Các nhà đấu tranh và chỉ trích cũng đã có thể dùng tính ẩn danh của mạng Internet để tránh sự kiểm duyệt chặt chẽ ngành truyền thông chuyên giấu kín những vụ tai tiếng trước công chúng. Trong khi sự chỉ trích tăng cao, một số những người ruột thịt của các quan chức Đảng Cộng sản đã rút ra khỏi những vai trò quan trọng. Cô Hương rời bỏ doanh nghiệp nhà nước của mình vào tháng Sáu, ba tháng sau khi được bổ nhiệm, và con gái của thủ tướng vừa rồi cũng rời bỏ một trong những chức vụ của mình tại một ngân hàng tư. Trong khi đó các quan chức chính quyền đang lên tiếng đối phó. Chủ tịch Trương Tấn Sang đã đưa ra một bài báo tự phê trên truyền thông nhà nước, ông viết về “những thất bại và thiếu hiệu quả của các công ty nhà nước, sự thoái hoá tư tưởng chính trị và đạo đức.” Ông cũng quy rằng “phong cách sống của một thành phần đảng viên và cán bộ” đã dẫn đến những khó khăn của đất nước. “Chúng ta cần tự hào về những thành quả đạt được,” ông viết, hàm ý về cơn bùng nổ kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, “nhưng dưới mắt cha ông, chúng ta cũng phải cảm thấy xấu hổ vì những điểm yếu và sai sót, vốn đang ngăn cản sự tăng trưởng của đất nước.” Trên Internet và những mạng xã hội, đa số sự giận dữ về chủ nghĩa gia đình trị và việc quản lý kinh tế yếu kém đều nhắm vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người được bầu lại thêm một nhiệm kỳ 5 năm vào năm ngoái giữa giai đoạn biến động vì các doanh nghiệp nhà nước yếu kém. “Người ta lo ngại vì ông có quá nhiều quyền hành - họ cảm thấy ông cần phải được kềm chế,” Ông Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales ở Úc nói. Gia đình ông Dũng là trọng tâm của những bức điện ngoại giao vào năm 2006, năm ông vừa nắm chức thủ tướng, các bức điện được viết bởi Seth Winnick, lúc ấy là tổng lãnh sự của Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bức điện, được WikiLeaks công bố, đã nhấn mạnh về sự nghiệp kinh doanh của Nguyễn Thanh Phượng, con gái của vị thủ tướng. “Rõ ràng là cô ấy có tài,” Ông Winnick viết. “Tuy nhiên, sự thăng tiến nhanh chóng và nhiều cánh cửa mở ra cho cô ta và hai người anh em trai của cô là dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo chính trị Việt Nam tìm cách bảo đảm con cái của họ được chu toàn về giáo dục, chính trị về kinh tế.” Mặc dù cô hoạt động trong lĩnh vực tư nhân, bức điện nhận xét rằng lĩnh vực nhà nước và tư nhân ở Việt Nam thường chồng chéo nhau, nơi có hệ thống chính trị lai căng giữa chính quyền Cộng sản độc đảng và chủ nghĩa tư bản đang nảy nở. Cô Phượng điều hành một quỹ đầu tư có tên Viet Capital Asset Management và một công ty môi giới có tên Viet Capital Securities, cả hai đều là công ty tư nhân. Hôm tháng Sáu, giữa sự chỉ trích trên mạng về sự giàu có và ảnh hưởng của mình, cô đã từ chức chủ tịch Ngân hàng Viet Capital, chức vụ mà cô nắm trong vòng bốn tháng. Trong khi cô Phượng nằm trong nhóm có tiếng tăm của thành phần được gọi là “con ông cháu cha,” danh sách này vẫn còn dài. Nó bao gồm người anh của cô, hiện đang giữ chức thứ trưởng Bộ Xây dựng, và Hương, cô gái trẻ từng đứng đầu công ty xây dựng là con gái của Tô Huy Rứa, một thành viên đầy quyền lực của Bộ Chính Trị. Những người khác cũng được thăng tiến trong đảng. Con trai của Nông Đức Mạnh, người vừa rời khỏi chức Tổng Bí Thư năm ngoái, là một thành viên trong Uỷ Ban Trung Ương Đảng. Vì sự quản chế chặt chẽ ngành truyền thông - và sự trừng phạt nặng nề kể cả tuyên án tù đối với giới chống đối - việc chỉ trích giới lãnh đạo đa phần là ẩn danh, trên các trang blog và Facebook, thường được thúc đẩy bởi những đồn đãi thiếu chứng cứ. Nhưng khi các doanh nghiệp nhà nước đang vất vả với những vụ tai tiếng và những núi nợ nần, những chi tiết về nạn gia đình trị cũng như những thương lượng mờ ám cũng lọt ra ngoài công luận. Khi tường thuật về sự sụp đổ của một trong các tập đoàn nhà nước lớn nhất là Vinashin, ngành truyền thông nhà nước đã cho biết là có ít nhất ba người thân trong gia đình của vị chủ tịch công ty, Phạm Thanh Bình, đã giữ những chức vụ cao trong công ty, bao gồm con trai và em trai ông. Vẫn chưa biết được tổng số thiệt hại của những vụ tai tiếng đối với xã hội Việt Nam. Nhưng hàng tỉ Mỹ kim nợ nần chắc chắn sẽ là gắng nặng khổng lồ đối với nền kinh tế trong nhiều năm tới. Với lịch sử của nhiều cuộc nổi dậy ở Việt Nam, có lẽ rất phù hợp khi nhiều nhận định cay đắng trên mạng về những vụ tai tiếng thường kèm theo bài thơ xưa dạy học trò: “Con vua lại được làm vua Con sãi ở chùa lại quét lá đa Chừng nào dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa” ![]()
In Vietnam, Message of Equality Is Challenged by Widening Wealth Gap
By THOMAS FULLER Published: September 1, 2012 *. http://www.nytimes.com/2012/09/02/world/...ewanted=al HANOI, Vietnam — She wore a pink outfit and matching high heels as she toured the dusty construction site. Soon after To Linh Huong’s visit in April, photos that captured the moment went viral on the Internet, but not because of Ms. Huong’s sense of style. The daughter of a member of the Vietnamese Communist Party’s Politburo, the country’s most powerful political body, Ms. Huong had only days before been appointed the head of a state-owned construction company. Commentators on the Internet expressed outrage that someone so young — she is reported to be 24 — held such a senior corporate post. “Taking a little girl who just graduated from journalism school and making her the director general of a construction company is no different than making a one-legged man a soccer goalie,” read a comment on Pham Viet Dao, a popular blog by a Vietnamese writer of the same name. “Sorry to say — this is so stupid.” Like the Communist Party leaders in China, Vietnam’s political mandarins are struggling to reconcile their party’s message of social justice and equality with the realities of an elite awash in wealth and privilege. The yawning divide between rural poverty and urban wealth has become especially jarring, now that a decade of breakneck growth has come to an end, dimming the prospects for the poor and middle class to fight their way up the social ladder. “Up until now, growth has been wonderful, and to be rich was great,” said Carlyle A. Thayer, a leading expert on Vietnamese politics who has a database of Vietnamese leaders and their family members. “There’s a growing resentment, particularly among the have-nots, toward the wealthy.” Much of the ire has been focused on Vietnam’s version of crony capitalism — the close links between tycoons and top Communist Party officials. This criticism has been able to flourish partly because news of abuses has leaked out as state companies, which remain a central part of the economy, have floundered, helping precipitate Vietnam’s serious financial woes. Activists and critics have also been able to use the anonymity of the Web to skirt tight media controls that had kept many scandals out of public view. As criticism has mounted, some of the relatives of Communist Party officials have stepped back from high profile roles. Ms. Huong left her state-run company in June, three months after her appointment, and the daughter of the prime minister recently left one of her posts, at a private bank. Government officials, meanwhile, are sounding defensive. Vietnam’s president, Truong Tan Sang, issued a blunt self-criticism in a recent article in the state-run media, writing about the “failures and ineffectiveness of state-owned companies, the decay of political ideology and morality.” He also blamed the “lifestyle of a group of party members and officials” for the country’s problems. “We should be proud about what we have done,” he wrote, speaking of the economic boom under Communist leadership, “but in the eyes of our ancestors, we should also feel ashamed for our weakness and failures, which have been preventing the growth of the nation.” On the Internet and social networks, much of the anger about nepotism and poor economic management has been directed at Prime Minister Nguyen Tan Dung, who was re-elected to a five-year term last year amid the turmoil of failing state-owned companies. “People are concerned that he has too much power — they feel he needs to be reined in,” said Mr. Thayer, who is emeritus professor at the University of New South Wales in Canberra, Australia. Mr. Dung’s family was the focus of a diplomatic cable in 2006, the year he became prime minister, written by Seth Winnick, who at the time was United States consul general in Ho Chi Minh City. Nguyễn Thanh Phượng, con gái ông Nguyễn Tấn Dũng The cable, made public through WikiLeaks, highlighted the corporate career of Nguyen Thanh Phuong, the prime minister’s daughter. “There is no doubt that she is talented,” Mr. Winnick wrote. “However, her rapid advance, and the many doors that opened for her and her two brothers are indicative of how the Vietnamese political elite ensures that their progeny are well placed educationally, politically and economically.” Although her work was in the private sector, the cable noted how public and private tend to overlap in Vietnam, with its hybrid system of Communist one-party rule and burgeoning capitalism. Ms. Phuong runs an investment fund called Viet Capital Asset Management and a brokerage firm, Viet Capital Securities, both private companies. In June, amid criticism on the Internet of her wealth and influence, she stepped down as chairwoman of Viet Capital Bank, a position she had held for four months. While Ms. Phuong is among the better known of the so-called “children of the powerful,” the list is long. It includes her brother, who is the deputy construction minister, and Ms. Huong, the young woman who headed the construction company and is the daughter of To Huy Rua, a powerful member of the Politburo. Others have moved up in the party. The son of Nong Duc Manh, who retired as general secretary of the Communist Party last year, is a member of the party’s Central Committee. Because of tight controls on the media — and severe punishment for dissent that can include jail terms — criticism of the leadership has been largely anonymous, on blogs and Facebook pages, often driven by rumors and unsubstantiated gossip. But as state-owned companies struggle with scandals and mountains of debt, details of nepotism and shady dealings have also slipped into the public domain. In reporting the collapse of one of the largest state-owned conglomerates, Vinashin, the state-run news media revealed that at least three family members of the company’s chairman, Pham Thanh Binh, held senior positions in the company, including his son and brother. The total cost of these scandals to Vietnamese society remains unknown. But the billions of dollars in debt are likely to be a huge burden for the economy for years to come. Given Vietnam’s history of revolt, it is perhaps fitting that many of the bitter comments online about the scandals have often been accompanied by an ancient Vietnamese poem taught to schoolchildren: The son of a king will become king lThe son of a temple janitor will sweep the leaves When the people rise up and take over The son of a king will lose power and sweep the temple. |
|||
|
23-01-2013, 07:10 PM
(Bài viết đã được chỉnh sửa: 04-02-2013 10:01 AM bởi Tâm Như.)
Bài viết: #5
|
|||
|
|||
|
English Article. Translating into Vietnamese. L.V.
Andrew E. Kramer - Putin - Bổng lộc ngất trời
L.V. chuyển ngữ Dịch giả gửi đến Dân Luận 27.08.2012 *. https://danluan.org/tin-tuc/20120901/put...-ngat-troi ![]() Tổng thống Vladimir V. Putin được đồn rằng là một trong những người giàu có nhất thế giới, với tài sản từ dầu hoả trị giá hàng chục tỉ Mỹ kim. Ông cực lực bác bỏ điều này, nhưng một báo cáo vừa xuất bản cho thấy rằng những phản bác này không còn ý nghĩa. Trong bản báo cáo, có tựa đề đầy châm biếm "Cuộc đời của một nô lệ khổ sai,” * dựa theo chính lời miêu tả của Putin về nhiệm kỳ tổng thống của mình, những người đứng đầu phe đối lập ở Nga cho biết những điều mà họ gọi là một sự tăng trưởng cực kỳ đối với những bổng lộc dành cho chức tổng thống trong 12 năm kể từ khi Putin bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của mình - những dinh thự, một đội ngũ máy bay phản lực và hàng loạt những chiếc xe sang trọng. ![]() Chiếc Rossiya (trên), được nâng cấp vào năm 2005 và tốn 1,2 triệu Mỹ kim từ ngân sách nước Nga, bản báo cáo cho biết. Chiếc Petrel (dưới), là du thuyền có động cơ được đóng để chứa sáu người ở và 30 khách. Trong số 20 ngôi nhà được dành cho tổng thống Nga có Dinh Constantine, một biệt thự theo phong cách thời Sa Hoàng nằm trên Vịnh Phần Lan, được trùng tu với giá hàng chục triệu Mỹ kim, một nhà nghỉ trượt tuyết trên Rặng Caucasus và một dinh thự được trùng tu theo phong cách Gothic ở vùng Moscow. Tổng thống còn có trong tay 15 chiếc trực thăng, 4 chiếc du thuyền rộng rãi và 43 chiếc phi cơ, bao gồm chiếc chuyên cơ chính dành cho tổng thống hiệu Ilyushin với nội thất được dát vàng bởi những nghệ nhân từ thành phố Sergiyev Posad, một chiếc Airbus và một chiếc Dassault Falcon. Chỉ riêng 43 chiếc máy bay này đã được đoán là trị giá đến 1 tỉ Mỹ kim, bản báo cáo cho biết. Những tác giả nhận định rằng “Điều này xảy ra trên một đất nước nơi còn nhiều người đang vất vả kiếm sống.” Bản báo cáo đi cùng xu hướng với thể loại phóng sự điều tra thời trang tương tự như những tiết lộ gần đây về những trang phục hàng hiệu của vợ Kim Jong-un, lãnh tụ Bắc Hàn. Những tác giả là Boris Nemtsov, một cựu phó thủ tướng từng bị giam giữ nhiều lần với những lý do khác nhau, và Leonid Martynyuk, một thành viên của phong trào Đoàn Kết, đã đưa ra những bức ảnh phóng to cổ tay của nhân vật đứng đầu nước Nga tại những cuộc họp và gặp gỡ công chúng, chúng cho thấy những chiếc đồng hồ đắt tiền, tổng tố 11 chiếc, trị giá 687.000 Mỹ kim theo giá bán lẻ - gấp khoảng sáu lần mức lương hàng năm của Putin. ![]() Chiếc đồng hồ đeo tay loại 1815 do A. Lange & Söhne sản xuất. Báo cáo “Cuộc đời của một nô lệ khổ sai” đưa ra những bức ảnh cho thấy Putin đeo những chiếc đồng hồ đắt tiền với trị giá tổng cộng 687.000 Mỹ kim. “Phong cách sống của ông,” các tác giả kết luận, “có thể so sánh với giới vua chúa vùng Vịnh Ba Tư hoặc một thủ lĩnh chính trị hào nhoáng.” Bản báo cáo không chú trọng vào tài sản cá nhân của Putin, nhưng cho thấy rằng nó có thể không to lớn như nhiều người kết luận. Lý do vì sao ông “điên cuồng bám víu quyền lực,” bản báo cáo cho biết, là “môi trường sang trọng và giàu có mà ông đã quen thuộc, và rõ ràng không muốn từ bỏ chúng.” Khi trả lời một thư phỏng vấn, văn phòng báo chí Kremlin nói rằng ông Dmitri S. Peskov, phát ngôn viên của Putin đang đi nghỉ phép và không thể trả lời về nội dung của bản báo cáo. Tuy nhiên, theo tường thuật của báo Kommersant, Peskov nói rằng các dinh thự, máy bay và xe là tài sản của chính phủ được tổng thống sử dụng hợp pháp. Công bằng mà nói, việc Putin ưa thích những chiếc đồng hồ không hoàn toàn là ích kỷ: có hai lần được quay phim, ông đã tháo chiếc đồng hồ và đưa cho một người đứng xem. Những người được tặng, một cậu bé và một công nhân, đã nhận được những chiếc đồng hồ hiệu Blancpain mà Nemtsov nói rằng trị giá hơn 9.000 Mỹ kim mỗi chiếc. Ít nhất là Putin chẳng bao giờ xin lỗi về việc hưởng thụ sự ràng buộc của chức vụ.
*. "Cuộc đời của một nô lệ khổ sai,”= “The Life of a Galley Slave." http://graphics8.nytimes.com/packages/pd...mphlet.pdf *. Nguồn: The New York Time ![]() For Putin, Report Says, State Perks Pile High By ANDREW E. KRAMER Published: August 27, 2012 *. http://www.nytimes.com/2012/08/28/world/....html?_r=1 MOSCOW — President Vladimir V. Putin is rumored to be among the world’s wealthiest men, with an oil-fed fortune worth tens of billions of dollars. He denies that, vehemently, but a report to be published Tuesday suggests that the dispute may be beside the point. In the report, sarcastically titled “The Life of a Galley Slave,” after the president’s own description of his tenure in office, Russian opposition leaders describe what they call an extraordinary expansion of presidential perks during the 12 years since the start of Mr. Putin’s first term as president — palaces, a fleet of jets and droves of luxury cars. Among the 20 residences available to the Russian president are Constantine Palace, a Czarist-era estate on the Gulf of Finland restored at the cost of tens of millions of dollars, a ski lodge in the Caucasus Mountains and a Gothic revival palace in the Moscow region. The president also has at his disposal 15 helicopters, 4 spacious yachts and 43 aircraft, including the main presidential jet, an Ilyushin whose interior is furnished with gold inlay by artisans from the city of Sergiyev Posad, an Airbus and a Dassault Falcon. The 43 aircraft alone are worth an estimated $1 billion, the report says. This, the authors note, “in a country where many people hardly make ends meet.” The report is cast in the genre of the fashion sleuthing that recently revealed designer clothing on the wife of the North Korean leader, Kim Jong-un. The authors, Boris Nemtsov, a former deputy prime minister who has been jailed a number of times on various pretexts, and Leonid Martynyuk, a member of the Solidarity movement, present enlarged photographs of the Russian leader’s wrist during meetings and public appearances, revealing a variety of expensive watches, 11 in all, worth $687,000 at retail — about six times Mr. Putin’s annual salary. “His lifestyle,” the authors conclude, “can be compared to that of a Persian Gulf monarch or a flamboyant oligarch.” The report does not dwell on the question of Mr. Putin’s personal wealth, but suggests that it may not be as enormous as many have suggested. The reason he “maniacally clings to power,” the report says, is the “atmosphere of wealth and luxury he has become accustomed to, and categorically does not want to part with.” In response to a written query, the Kremlin’s press office said Mr. Putin’s spokesman, Dmitri S. Peskov, was on vacation and unable to respond to the substance of the report. In a response reported by Kommersant, however, Mr. Peskov said the residences, aircraft and cars were government property used lawfully by the president. In fairness, Mr. Putin’s delight in the watches has not been entirely selfish: twice in moments caught on video, he has removed a wristwatch and given it to a bystander. The recipients, a boy and a laborer, received Blancpain watches that Mr. Nemtsov estimated to cost more than $9,000 apiece. Mr. Putin has never apologized for, at the very least, enjoying the trappings of office. “I’m not ashamed before the citizens who voted for me twice,” Mr. Putin said in 2008, the Russian Information Agency reported. “All these eight years I toiled like a galley slave, from morning until evening.” |
|||
|
27-01-2013, 09:15 PM
(Bài viết đã được chỉnh sửa: 04-02-2013 10:02 AM bởi Tâm Như.)
Bài viết: #6
|
|||
|
|||
|
English Article. Translating into Vietnamese. L.V.
Châu Á - Nơi Chủ Nghĩa Dân Tộc Vẫn Còn Quan Trọng
L.V. chuyển ngữ Dịch giả gửi đến Dân Luận 20.08.2012 *. https://danluan.org/tin-tuc/20120831/cha...quan-trong ![]() Rất thường xuyên, chúng ta chỉ nhìn Đông Á dưới một nhãn quan kinh tế, thán phục trước sự thành công rõ rệt của Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam và Nam Hàn. Nhưng những quốc gia này còn có một câu chuyện khác muốn nói, một câu chuyện liên quan đến những bản năng lâu đời hơn là thành quả kinh tế: chủ nghĩa dân tộc và kỳ thị chủng tộc, những lực lượng từng châm ngòi cho Chiến tranh Thế giới Thứ I tại Sarajevo. Hiện nay, những lực lượng này đang là nền tảng tranh chấp tại những nơi mà chúng ta tảng lờ hoặc chẳng biết tí gì, như Quần đảo Senkaku, Quần đảo Dokdo và Quần đảo Trường Sa. Và những tranh chấp này có thể châm ngòi cho những đụng độ quân sự giữa những quốc gia thù địch tại châu Á. Những quan điểm như trên đi ngược lại với giả thiết rằng thương mại sẽ phải xoa dịu đi những thù địch dài hàng thế kỷ, rằng giao thương sẽ xoá tan mọi mong muốn chiến tranh. Và đấy có phải là bài học từ tầm nhìn lỗi lạc của Jean Monnet, từ Liên hiệp châu Âu? Chiến tranh đã biến mất khỏi châu Âu và được thay thế bởi giao thương. Và các quốc gia châu Á rõ ràng cũng đã hợp tác lẫn nhau về mặt thương mại; những sản phẩm mà chúng ta mua sau khi chúng được xuất khẩu từ một nước châu Á nào đấy thực sự là được tổng hợp bởi những phụ kiện từng qua tay các xí nghiệp ở Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, Việt Nam và Philippines. Tuy nhiên, chính quyền bảo thủ Nam Hàn lại từ chối bất kỳ mọi hợp tác quân sự nào với Nhật vì Nhật đã không chịu thừa nhận chủ quyền của Hàn Quốc đối với hai hòn đảo hoang không sự sống nằm giữa hai quốc gia (có tên Hàn là Dokdo và tên Nhật là Takeshima). Cả hai chính phủ đều dựa vào những hiệp ước xưa và bản đồ cổ để khẳng định chủ quyền, cả hai cũng đều từ chối việc nhờ vào trọng tài, và mâu thuẫn này vẫn chưa giải quyết được. Thậm chí Bắc Hàn cũng hậu thuẫn Nam Hàn trong vụ này - lĩnh vực duy nhất mà hai kình địch cùng đồng thuận với nhau. Tại Nam Hàn, Dokdo đã trở thành một biểu tượng của tinh thần chống chủ nghĩa đế quốc Nhật. Nếu ai đó chỉ ra rằng chủ nghĩa đế quốc này đã biến mất từ năm 1945, các nhà chính trị và bình luận gia Nam Hàn sẽ phản ứng rằng Nhật vẫn mang tư tưởng đế quốc và chính quyền hiện tại của Nhật muốn xây dựng một kho vũ khí hạt nhân. Sự thật là chỉ có một vài người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan tại Nhật mong muốn vũ khí hạt nhân. Nhưng hiện tại, rõ ràng trong phản ứng của mình, những ứng cử viên tổng thống bảo thủ tại Nam Hàn cũng muốn có được sức mạnh hạt nhân. Tương tự, tình trạng của quần đảo Senkaku (hoặc tiếng Trung gọi là Điếu Ngư Đài), nằm tại phía nam của quần đảo Nhật Bản, cũng chẳng rõ ràng lắm. Mặc dù những hòn đảo này đang được Nhật quản lý và được được sở hữu, theo luật pháp Nhật, bởi một nhóm cư dân Nhật. Trong khi ấy Trung Quốc lại xem chúng là một phần của vương quốc của mình, và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Các tàu chiến Trung Quốc thường xuyên tuần tiễu gần Sankaku, quấy nhiễu và đôi khi đánh đắm những tàu đánh cá Nhật. Giới truyền thông phương Tây, các lãnh đạo chính trị Mỹ và châu Âu chỉ chú trọng vào nguồn tài nguyên kinh tế của quần đảo, vốn bao gồm những khu vực khai thác hải sản và tiềm năng về những giếng dầu và khí đốt. Nhưng nếu Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản quan tâm đến những quyền lợi kinh tế, họ có thể tìm đến những vùng biển khác để đánh cá hoặc giếng dầu khác để khoan. Cuộc tranh chấp này thực sự mang tính biểu tượng, được thúc đẩy bởi những tinh thần dân tộc và truyền thống châu Á chuyên chú trọng vào việc làm đối phương phải mất mặt. Sau khi những tàu chiến Trung Quốc đâm vào các tàu đánh cá của Nhật vào năm 2010, chính quyền Nhật đã không phản ứng mạnh mẽ. Năm nay, chính quyền Nhật đang tìm cách trả đũa bằng việc thúc đẩy quá trình quốc gia hoá Senkaku. Xa hơn về phía nam, quần đảo Trường Sa - được Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Đài Loan và Malaysia thừa nhận chủ quyền - tiềm năng xảy ra xung đột thậm chí còn cao hơn nữa. Ở đây cũng có những đồn đãi về những quặng khí đốt, đem đến cho Trường Sa một giá trị kinh tế khiến có thể tạo ra những lý do chính đáng cho những đụng độ. Nhưng nguồn tài nguyên năng lượng vẫn chưa được xác định, vì thế nguyên nhân xác đáng hơn về những căng thẳng chính là chủ nghĩa dân tộc. Tại Trường Sa cũng như Senkaku, chủ nghĩa đế quốc của Trung Quốc đang thử thách sức chống đối của các quốc gia láng giềng, một số nước như Nhật, Việt Nam, Philippines, Đài Loan, Malaysia và thậm chí xa hơn nữa là Ấn Độ đang cân nhắc việc thành lập một liên minh chống lại Trung Quốc. Washington đã kích động cơn giận dữ của Trung Quốc khi đã hậu thuẫn cho quan điểm này. Một chiếc bóng của Hoa Kỳ đã che phủ khu vực kể từ khi Hạm đội Bảy giữ nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho các tuyến hàng hải. Nếu không có nó, mạng lưới kinh tế châu Á đã bị phá vỡ từ lâu. Nồi áp suất Thái Bình Dương đang phân huỷ thêm một phần của lẽ thường: đó là mâu thuẫn quân sự không thể gia tăng giữa các quốc gia dân chủ. Hai quốc gia dân chủ Nhật và Nam Hàn đã thất bại trọng việc thương lượng những vấn đề thương mại nhỏ. Tồi tệ hơn, vị trí của Nam Hàn trong tranh chấp này đang dẫn nó đến gần hơn với các quốc gia độc tài như Bắc Hàn và Trung Quốc hơn là một nước dân chủ như Nhật. Nhìn chung, gánh nặng của lịch sử và những căng thẳng nội bộ của một nền văn minh thông thường cho thấy là đã mạnh hơn những cân nhắc hiện tại về chính trị và kinh tế. Tiềm năng của một liên minh chống lại Trung Quốc trong tranh chấp Trường Sa có thể đưa các nước dân chủ gần nhau hơn với chính thể Cộng sản độc tài Việt Nam - vốn được cho là chẳng khác gì Cộng sản Trung Quốc. Dường như mỗi ngày lại có thêm những khiêu khích. Tổng thống Nam Hàn đã đặt chân đến Dokdo, ngay sau đó là một nhóm người Nhật theo chủ nghĩa dân tộc. Trung Quốc đã gửi một bộ phận hải quân đến Trường Sa. Cảnh sát Nhật đã bắt giữ một nhóm người Trung Quốc tại Senkaku. Đương nhiên, hoàn cảnh hiện tại đang đóng vai trò trong việc làm những đụng độ này tồi tệ thêm. Nền kinh tế châu Á đang chậm lại; những chính quyền thì bị yếu đi (Nhật), đang trong giai đoạn chuyển tiếp (Nam Hàn, Trung Quốc) hoặc đang tìm kiếm sự chính danh (Việt Nam, Trung Quốc). Nhưng điều này chỉ là một an ủi nhỏ, vì chủ nghĩa dân tộc hung hãn có thể là một chiếc van xả cho các quốc gia đang đối diện với những bất ổn. Ở châu Á, cả kinh tế lẫn dân chủ đều không xoá bỏ được cơn phấn khích của chủ nghĩa dân tộc. []Where Nationalism Still Matters Asia’s simmering political tensions defy conventional wisdom. Guy Sorman 20 August 2012 *. http://www.city-journal.org/2012/eon0820gs.html ![]() Too often, we see East Asia only from an economic perspective, marveling at the undeniable success of China, Japan, Taiwan, Vietnam, and South Korea. Yet these nations have another story to tell, one that owes less to current economic performance than to much older instincts: nationalism and ethnic resentment, the forces that kindled World War I in Sarajevo. Today, those forces underlie disputes in places that we ignore or know nothing about, such as the Senkaku Islands, the Dokdo Islands, and the Spratly archipelago. And those disputes may spark military conflicts between rival Asian countries. Such thinking goes against the theory that trade must soothe centuries-old enmities, that commerce annihilates even the temptation of war. Isn’t this the lesson of Jean Monnet’s brilliant vision, the European Union? Wars disappeared in Europe when replaced by trade. And Asian countries certainly cooperate with one another commercially; the products that we buy after they’re exported from one Asian country or another are actually composed of pieces that travel from factory to factory in China, Japan, South Korea, Vietnam, and the Philippines. South Korea’s conservative government, however, has refused any military cooperation with Japan because the Japanese refuse to recognize South Korean sovereignty on two uninhabitable islets halfway between the two countries (known as Dokdo in Korean and Takeshima in Japanese). Each government refers to old treaties and ancient maps to assert its rights, both refuse to enter arbitration, and the matter remains unsettled. Even North Korea supports South Korea in this case—the only area of agreement between the two rivals. In South Korea, Dokdo has become a symbol of resistance to Japanese imperialism. If one points out that such imperialism disappeared in 1945, South Korean politicians and pundits counter that the Japanese soul is imperialist and that Japan’s current government wants to build a nuclear arsenal. In truth, only a few extreme nationalists in Japan harbor that nuclear desire. But now, apparently in response, conservative contenders for the South Korean presidency want to pursue nuclear power as well. The status of Senkaku (or Diaoyuin, in Chinese), located south of the Japanese archipelago, is likewise unclear. Though these islands are administered by Japan and owned, under Japanese law, by a group of Japanese families, China considers them part of its own empire, and Taiwan also claims them. Chinese vessels constantly patrol near Senkaku, harassing and sometimes sinking Japanese fishing boats. In the Western media, American and European political leaders have focused on the islets’ economic resources, which include fishing zones and possibly gas and oil wells. But if China, Taiwan, and Japan were concerned only with economics, they could find other seas to fish and other wells to drill. The dispute is actually symbolic, motivated by old nationalist feelings and the traditional Asian concern with making one’s adversary lose face. After Chinese vessels rammed Japanese trawlers in 2010, the Japanese government failed to react strongly. This year, the Japanese government is looking for revenge by pushing for the nationalization of Senkaku. Further south, in the Spratly archipelago—claimed by China, Vietnam, the Philippines, Taiwan, and Malaysia—the potential for conflict is even greater. Here, too, rumors about gas mines confer on Spratly an economic value that would establish rational grounds for conflict. But these energy resources have not yet been confirmed, so the likelier reason for tension is nationalism. In Spratly as in Senkaku, Chinese imperialism tests the resistance of its neighbors, some of which—Japan, Vietnam, the Philippines, Taiwan, Malaysia, and to some extent even India—are considering an alliance against China. Washington has provoked Chinese anger by supporting the idea. An American shadow hangs over the region already, since the Seventh Fleet ensures the security of the shipping routes. Without it, the Asian economic web would have disintegrated long ago. The Pacific pressure cooker undermines another piece of conventional wisdom: that military conflict cannot arise between democratic countries. Democratic South Korea and democratic Japan have failed to negotiate minor business and trade issues. Worse, South Korea’s position in this dispute puts it closer to dictatorial North Korea and China than to democratic Japan. On the whole, the burden of history and the internal tensions of a common civilization prove stronger than contemporary political and economic considerations. The potential alliance against China in the Spratly dispute would bring democracies together with the Communist dictatorship of Vietnam—supposedly every bit as Communist as China’s. Each day seems to bring new provocations. The Korean president has set foot on Dokdo, soon followed by a group of Japanese nationalists. China has sent a naval detachment to the Spratlys. Japanese police have arrested a group of Chinese on Senkaku. Of course, current circumstances play a role in exacerbating these conflicts. Asia’s economy is slowing down; its governments are variously weak (Japan), undergoing transition (South Korea, China) or in search of legitimacy (Vietnam, China). But that should be small comfort, because aggressive nationalism can be an outlet for nations facing such uncertainties. In Asia, neither economics nor democracy dissolves nationalist zeal. Guy Sorman, a City Journal contributing editor, is the author of Empire of Lies: The Truth about China in the Twenty-First Century, Economics Does Not Lie, and other books |
|||
|
|
Những người đang xem chủ đề này: 1 khách



![[Hình: VIETNAMINANCIENTTIME1.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/VIETNAMINANCIENTTIME1.jpg)
![[Hình: HCM.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/HCM.jpg)



![[-]](images/leaf/collapse.gif)
![[Hình: VIETNAM-1.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/VIETNAM-1.jpg)
![[Hình: THEFUTUREOFUSRELATIONSWITHVIETNAM.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/THEFUTUREOFUSRELATIONSWITHVIETNAM.jpg)
![[Hình: BENTHANH.jpg?t=1359601269]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/BENTHANH.jpg?t=1359601269)
![[Hình: VIETNAM1.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/VIETNAM1.jpg)
![[Hình: TOLINHHUONG.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/TOLINHHUONG.jpg)
![[Hình: GAPOFRICHPOOR.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/GAPOFRICHPOOR.jpg)
![[Hình: PUTIN3.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/PUTIN3.jpg)
![[Hình: PUTIN2.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/PUTIN2.jpg)
![[Hình: PUTIN1.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/PUTIN1.jpg)
![[Hình: PUTIN-1.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/PUTIN-1.jpg)
![[Hình: ASIA.gif?t=1359601511]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/ASIA.gif?t=1359601511)
![[Hình: ASIA1.jpg]](http://i1280.photobucket.com/albums/a498/HopeDreamBelief/ASIA1.jpg)