Trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam, luôn tồn tại nhiều tư tưởng và phương thức đối chọi nhau. Dân Luận xin lục lại các tài liệu đề cập tới mâu thuẫn giữa tư tưởng của Phan Chu Trinh và các nhân vật đương thời khác để giới thiệu tới độc giả Dân Luận. Rất mong con đường tương lai của Việt Nam sẽ đúc kết được kinh nghiệm từ những cuộc bàn cãi của của các tiền bối như thế.

Phan Chu Trinh và Nguyễn Ái Quốc, mỗi người đều có tư tưởng và con đường riêng cho mình...
... Nhân dịp các nhân viên Phái đoàn Nam Triều đi dự cuộc triển lãm do Pháp quốc sử địa tổ chức tại Ba Lê, được hội ấy tặng cho mỗi người một mề đay vàng.
Ông Trần Đức nói khẽ vào tai tôi, bảo hai anh em chúng mình mời bốn cụ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Ngọc Thiện, Cao Văn Sến đến chiều hôm ấy dùng cơm tại khách sạn Montparnasse. Chúng tôi nhân mời thêm cụ Phan Tây Hồ, anh Quốc, vợ chồng Trần Hữu Thường và ông Hồ Đắc Ứng.
Bữa tiệc này tuy chỉ có mười người mà câu chuyện rất mặn mà sôi nổi vì có sự hiện diện của năm nhân vật phi thường ngồi chung một bàn.
Năm nhân vật ấy theo năm khuynh hướng chính trị khác nhau mà gặp nhau trong một lúc trên đường tranh đấu xa quê hương, nên trong sự va chạm đó cũng phải nảy lửa đôi chút. Nhưng ông Đức và tôi là chủ mời, muốn giữ mãi hòa khí giữa đồng bào, nên chúng tôi cố gắng hết sức niềm nở và tìm đủ cách để dung hòa các khuynh hướng, thành ra bữa tiệc chánh trị mà mãi mãi sau này mỗi khi chúng tôi gặp lại nhau đều thừa nhận là chúng tôi tỏ ra hết sức cởi mở và hiếu hòa.
Ông Đức và tôi đứng lên nhã nhặn thành kính xin tất cả quan khách – đã gặp nhau đây – có thể cùng nhau tìm một giải pháp cứu quốc và kiến quốc để khỏi mang tội với các vị tiền bối đã vị quốc vong nhân và các vị tiền bối hiện nay vẫn còn vất vả bôn ba ở hải ngoại cũng như còn ở trong lao tù.
Tôi xin nói tiếp là tại đây có năm nhân vật lỗi lạc trên chính trường, tôi xin nêu danh sách và khuynh hướng để cùng nhau biết rõ lập trường của mỗi chiến sĩ để tranh luận cho có hiệu lực.
Tôi xin thưa qua danh tánh và khuynh hướng chính trị, có chỗ nào sai lầm, xin đương sự làm ơn cải chánh cho cử tọa nghe:
- Cụ Phan Chu Trinh, đồng chí với tôi. Cụ đã làm quan, bỏ về theo đường cách mệnh. Đi Nhật, về nước bị tù đầy ra Côn Lôn, nhờ Hội Nhân Quyền Pháp can thiệp trả tự do qua Pháp sống lây lết, gặp chiến tranh không chịu đi đánh giặc bị giam cầm một thời gian.
Nay chủ trương: ”Lao tư cộng tác, ỷ Pháp cầu tiến bộ”.
- Anh Nguyễn Ái Quốc, trốn ra khỏi nước nhà, qua Pháp qua Anh rồi trở về Pháp, chủ trương "Cách mệnh triệt để". (Lúc đó chưa công khai chủ trương Cộng Sản vì ở Pháp lúc bấy giờ ông Nguyễn Văn Tạo đã là Phó Chủ tịch Đảng Cộng Sản tại Bordeau).
- Ông kỹ sư Cao Văn Sến, viết báo bằng Pháp Văn, tại Pháp, cực lực phải đối thực dân Pháp tại Đông Dương. Đường lối tranh đấu cho Tổ Quốc Việt Nam gần như cụ Phan Tây Hồ và cũng thiên về Đảng Lập Hiến Đông Dương của cụ Bùi Quang Chiêu
- Ông Phạm Quỳnh, Chủ nhiệm Tạp Chí Nam Phong, chủ trương Quân chủ lập hiến.
- Ông Nguyễn Văn Vĩnh, chủ nhiệm Báo Trung Bắc Tân Văn, chủ trương "Trực trị" (administration directe), và kịch liệt phản đối quan lại Nam Triều mà ông không còn tin tưởng được nữa.
Kinh xin quý bạn dùng cơm vui vẻ và lần lượt giải thích thảo luận, trình bày những khía cạnh chủ trương của mình mà anh em còn thắc mắc.
Cụ Phan Tây Hồ bắt đầu nói: "Tôi đã gặp anh Nguyễn Ái Quốc từ 10 năm trước đây, mà tôi nhận thấy anh chủ trương Cách mệnh triệt để quá táo bạo nên tôi không thể theo anh được, và anh cũng không chấp nhận đường lối của tôi, anh phải đi qua nước Anh rồi về đây. Vừa rồi có ông Cảnh, bạn thân của anh và cũng đồng châu với tôi, có tìm đủ cách để dung hòa đường lối tranh đấu mà mong muốn cho hai chúng tôi xích lại gần nhau. Nhưng dầu tôi tỏ thiện chí đến đâu, tôi cũng thấy còn khó..."
Anh Quốc tiếp lời: "Mấy hôm nay anh Cảnh qua đây có tiếp xúc nhiều với tôi và có nói với tôi một câu ước mơ của cụ Trần Cao Vân: Nếu cuộc khởi nghĩa của Vua Duy Tân thành công thì sua này việc đầu tiên chúng ta sẽ phải làm là viết chữ Việt Nam không phải là "Tuất" một bên, mà phải viết chữ "Việt" là Phủ Việt, "Rìu Búa", mới kiện toàn được sự nghiệp cách mệnh. Sở dĩ tôi chủ trương Cách mệnh triệt để là xưa nay muốn dành độc lập cho Tổ quốc và Dân tộc thì không thể nào ngả tay xin ai được mà phải dùng sức mạnh như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng Búa Rìu."
Ông Nguyễn Văn Vĩnh cướp lời ngay để bênh vực chủ trương của mình, mà cũng để giác ngộ anh Quốc: "Tôi đã từng đứng trong hàng ngũ Đông Kinh Nghĩa Thục, cùng các bậc tiền bối và rất đau đớn thấy hàng ngũ lần lượt tan rã, và hầu hết phần tử ưu tú chiến sĩ quốc gia bị tiêu diệt_ Hết Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Chiến khu Yên Thế của Đề Thám ở Bắc, rồi đến vụ xin thuế ở miền Trung, rồi đến Thiên Địa Hội và Phong trào kháng chiến ở Nam, Phong trào Cần Vương ở Trung, trước sau đều bị phân tán đến nỗi ngày nay tất cả các tổ chức cách mệnh ấy chỉ còn cái tên vất vưởng trong ký ức chúng ta thôi: Bao nhiêu chiến sĩ đều gục ngã hoặc còn sống vất vưởng ở Côn Đảo, Thái Nguyên, Lao Bảo, hay Ban Mê Thuột. Bạo động như anh Quốc là thậm nguy! Tôi không muốn khóc anh Quốc bị tiêu mà khuyên anh khôn khéo chèo chống cho qua cơn sóng gió hãi hùng, cẩn trọng hoài bão chí khí và dành nhiệt huyết để phụng sự Tổ quốc và Dân tộc. Hiện nay, khó mà có được người can trường đanh sắt như anh. Sở dĩ tôi theo lập trường "Trực trị" là kinh nghiệm cho tối thấy Nam Kỳ trực trị mà tiến bộ quá xa hơn Trung và Bắc. Mà Bắc kỳ nhờ chế độ mập mờ nửa Bảo hộ nửa Trực trị (không công khai) mà hơn Trung Kỳ quá xa. Chính thể Bảo Hộ tại Trung Kỳ là quá lạc hậu, đồng bào chúng ta ở đó còn trong tình trạng ngu muội. Cứ trực trị cái đã rồi sau khi được khai hóa theo đà tiến bộ thì tức khắc dân chúng tự có sức mạnh mà trồi đầu lên. Nói trực trị tôi chẳng khi nào chịu giao nước Nam cho Tây đâu. Quá khứ đường lối tranh đấu của tôi, cuộc đời thiếu thốn của tôi đã hùng hồn bảo đảm cho lời nói của tôi hôm nay."
Ông Phạm Quỳnh tiếp lời: "Có lẽ ngay giữa tiệc này tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: "Quân chủ lập hiến". Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền Quân chủ họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hòa khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng đàn anh trên hoàn cầu. Đây tôi chủ trương là "Quân chủ lập hiến": Vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên "thùa hành" bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế chúng ta có một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình. Chớ như chế độ Cộng hòa và Dân chủ thì sợ mỗi khi sau 4 năm, có thay đổi Tổng thống thì thay đổi tất cả, làm cho guồng máy hành chánh trong nước phải bị xáo trộn trầm trọng.
Từ ngày tôi sáng lập Tạp chí Nam Phong đến nay, tôi có nhiều dịp đi đó đây tiếp xúc rất đông đồng bào ba Kỳ thì phần đông - mà xin quả quyết là đại đa số - đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng vì thấy đó là đường lối duy nhất để lãnh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau tới ải Nam Quan".
Ông Phạm Quỳnh vừa dứt lời thì tôi nghó qua ông kỹ sư Cao Văn Sến. Biết là đến phiên biện giải, ông Sến tiếp lời ngay để nói đường lối đấu tranh của mình:
- Thú thật, tôi tiêm nhiễm sâu xa văn hóa Pháp và cũng nhận thấy văn hóa này có thể giúp cho dân tộc ta tiến lên đài văn minh tiến bộ như mọi dân tộc khác trên hoàn cầu. Tôi thấy họ văn minh thực sự về mọi mặt. Nhưng từ ngày tôi ở đây, luôn luôn chống đối chính phủ Đông Dương, vì tôi nhận thấy cũng là người Pháp, mà mỗi khi bước chân xuống tàu qua Đông Dương, thì bắt đầu trong khối óc họ những chủ trương thực dân hà chánh tàn khốc, mà tôi không thể chấp nhận được cho đồng bào cả ba Kỳ, mặc dầu ở nam Kỳ, dân khí đã tiến bộ khá mạnh, người Pháp chẳng dám ăn hiếp như ở hai Kỳ kia. Vì thế, tôi nhờ tài liệu nước nhà mà anh em thủy thủ hàng hải thường thường vui lòng cung cấp cho tôi dùng làm hào luỹ để chống đối chế độ thực dân ở Đông Dương. Tôi thành thực thưa rằng tôi chưa có một chủ thuyết rõ rệt như bốn ông vừa giải thích rành mạch. Tôi chỉ có thái độ chống bọn thực dân xấu xa bỉ ổi.
Ông Cao Văn Sến được cử toạ nhiệt liệt hoan hô, vì ông khiêm nhượng không dám đưa ra một chủ thuyết gì mới mà chỉ nói lời chân thành từ con tim người dân yêu nước, yêu đồng bào.
Nhận thấy năm diễn giả đã nói lên lập trường của mình, và ai cũng biện minh chủ thuyết mình là đúng là hay, tôi muốn dung hòa tìm cách đúc kết để làm sao mà sau khi ai về nhà nấy, ai cũng sẽ có một hệ thống gì để lại sau lưng chúng ta khả dĩ tiếp tục tranh đấu đến thắng lợi. Lời nói thì hay, nhưng để như vậy ra về, thì thiếu thống nhất cho đường lối tranh đấu về tương lai.
Tôi khẩn khoản xin Quý Cụ là bậc tiền bối nên thảo luận ngay một kế hoạch hay một hệ thống nào để làm việc cho có hiệu quả về sau.
Anh Quốc nóng nảy bảo ngay: "Thì xin chú cứ nói ý kiến chú ra."
Tôi tiếp lời: "Cũng như anh đã trả lời cho Cụ Phan mấy hôm trước, tôi muốn nghe ngóng tất cả để sau này áp dụng một chủ nghĩa thực tiễn, lấy Văn hóa Việt Nam làm gốc. Có thế mới hợp với tính tình Dân tộc Việt Nam: Hành động gì bây giờ là thất bại ngay, cũng như cụ Phan Tây Hồ đã trịnh trọng cảnh báo hai anh em chúng tôi mấy kỳ gặp gỡ trước đây, mà tôi rất bái phục:
'
Vô bạo động, bạo động tắc tử; vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu. Dư hữu nhất ngôn dĩ cáo ngô đồng bào. Viết: Bất như Học'" [1].
Anh Quốc quá to tiếng: "Này cụ Phan Tây Hồ, nếu cụ qua làm Toàn quyền Đông Dương thay mặt thực dân [thì] cũng chỉ nói như thế thôi. Bó tay mà chịu lầm than sao? Không được!"
Tôi sợ anh Quốc đi quá trớn, đứng lên thưa, ôn hòa: "Tôi xin anh suy nghĩ thêm về lời khuyên của cụ Tây Hồ. Nếu chúng ta khôn khéo thì 'bất chiến tự nhiên thành'".
Anh Quốc lại quát lớn: "Lại thêm chú này nữa kìa!"
Tôi được dịp kịch liệt bác bỏ luận điệu của anh Quốc và bênh chủ thuyết của cụ Tây Hồ.
"Tôi có đọc và rất chú ý đến mấy kết luận một bài diễn văn của Tổng trưởng Thuộc Địa Albert Sarraut vừa đọc tại Trường cao học Thuộc địa thế này: 'Chúng ta nên thành thực khai hóa thuộc địa mênh mông của chúng ta khắp năm châu. Biết đâu một ngày nào đó chẳng xa, sau khi được khai hóa tiến bộ đến mức, các dân tộc này sẽ trỗi dậy, dõng mãnh như làn sóng thối hậu (vagues de ressac) và sẽ là sức mạnh vô biên cho toàn thể Liên Hiệp Pháp với dân số trăm triệu!'. Xin anh Quốc hiểu cho, đó là thâm ý của tôi nói mấy chữ 'bất chiến tự nhiên thành'. Nhưng chúng ta phải nghe lời tiền bối như cụ Phan Tây Hồ, bắt đầu Học và hăng hái Học."
Anh Quốc không chịu và nói chớ nghe bọn nó ru ngủ chúng ta, mà bỏ lỡ công cuộc tranh đấu cho Tổ Quốc, ngồi chờ "làn sóng thối hậu" thì thành ra ngớ ngẩn quá, chớ nghe chúng nó phỉnh!
Tôi không chịu nhượng bộ, vội vã tiếp: "Xin anh Quốc hãy quay lại lịch sử nhân loại mà suy ngẫm câu nói chí lý của nhà văn hào La Mã Horace, gần 2000 năm nay, như thế này: 'Hy Lạp bại trận dưới gót giầy xâm lăng của La Mã, bị văn hóa La Mã tràn ngập! Nhưng Hy Lạp đã khôn khéo tiêu hóa nền văn minh kia, để bồi dưỡng văn hóa truyền thống của mình, rồi nhờ đó, chiến thắng lại kẻ đã đánh bại mình trước kia và đem văn hóa phối hợp của mình đi chinh phục và khai hóa lại La Mã'.
Xin anh Quốc nên suy ngẫm rằng 'bánh xe lịch sử' sẽ tiếp tục lăn tròn và đến ngày dân tộc Việt Nam ùa theo 'làn sóng thối hậu' mà vùng dậy thì chẳng còn sức mạnh nào ngăn cản nổi. Tôi đặt nhiều hy vọng vào tương lai dân tộc Việt Nam, vì sức mạnh vô biên của văn hóa Việt Nam có những 'bí quyết tồn chủng' mà dân tộc khác không nghĩ đến."
Cử tọa nghe lời tôi biện bạch xác đáng là cứ ôn hòa chờ đợi thời cơ thuận tiện để tranh đấu.
Thấy anh Quốc chưa hoàn toàn chịu phục, tôi nói thêm về lịch sử Trung Hoa: "Hán Sở tranh hùng" mà nhấn mạnh rằng: "Cái thắng lợi cuối cùng không phải về kẻ mạnh, mà kẻ yếu biết khôn khéo dùng "thế" và "cơ" để thắng cuộc. Lúc bấy giờ ai mạnh cho bằng Hạng Võ, ai yếu cho bằng Lưu Bang. Nhưng Lưu Bang lui về Hán Quốc, là nơi khỉ ho cò gáy, để tìm cho được cái thế (vì có thế là cái bàn đạp thì dễ dàng xeo nổi quả địa cầu kia mà), rồi sau khi ngồi trên "thế" sẽ dùng đến "cơ" mà đánh bẹp Hãng Võ phải tự ải ở Ô Giang!
Làm chính trị phải suy luận chín chắn bài học lịch sử. Tôi khẩn khoản xin anh nghe lời cụ Tây Hồ."
Cử tọa đồng thanh cho tôi là đúng lý, và ngỏ lời cùng ông Đức và tôi rất cảm kích về bữa tiệc hôm ấy.
Trước khi chia tay, tôi có khẩn khoản thưa cùng Quý khách đôi lời đã đúc kết cuộc thảo luận hôm nay bằng lời quả quyết rằng: "Bất cứ chánh sách gì cho Tổ quốc Việt Nam ngày mai, mà không dựa vào nền tảng Văn hóa và Văn hiến nghìn năm xưa của dân tộc sẽ thảm hại. Vì dân ta đã thâm căn cố đế tiêm nhiễm sâu sắc với những tập quán cha truyền con nối bằng một tinh thần cố hữu đã được đơm hoa kết quả tốt đẹp qua bao cuộc thăng trầm."
Các cụ cho là phải, lần lượt bắt tay tôi siết thật mạnh tỏ vẻ tán thưởng tấm lòng nhiệt thành của tôi.
Phân đông quan khách hôm đấy đều có xe về, nhiều người đổ xô ra mời cụ Phan và anh Quốc lên xe để họ đưa về. Nhưng anh Quốc rỉ tai cùng tôi, bảo: "Chú đưa mình về, vì mình muốn ai biết cái nghèo của mình."
___________________________
[1] "Không nên trông người ngoài, trông người ngoài là ngu. Không nên bạo động, bạo động thì chết. Tôi chỉ có một lời để nói với đồng bào, không gì bằng học.”
Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)