Tôi hiểu vì sao bác kêu oan cho ông Khổng Tử. Trong bài viết, tác giả Lê Anh Tuấn đã nhường phần chứng minh trách nhiệm của Nho giáo cho mấy chương trong cuốn Tổ quốc ăn năn của Nguyễn Gia Kiểng. Bác thậm chí chưa đọc hết bài của ông Tuấn, vậy chắc chắn là chưa đọc chữ nào trong phần chú dẫn rất dài này. Chưa đọc cáo trạng của Nho giáo mà đã nhận xét thì thấy nó oan ức là chuyện tự nhiên. Bác nên đọc đi, không thể phê phán ông Tuấn là vu oan đạo Nho nếu bác chưa phản bác được những ý kiến của ông Kiểng.
Tôi tin rằng nền đạo đức Việt Nam trong tương lai sẽ rất khác. Tinh thần dân chủ trong chính trị sẽ khiến mọi người Việt đều hiểu rằng mình có quyền đòi hỏi phúc lợi và niềm tự hào từ đất nước. Cũng như thế, khi thâm nhập vào đời sống gia đình, tinh thần dân chủ sẽ chuyển cách hành xử kiểu mẫu giữa các thế hệ từ tôn trọng một chiều sang tôn trọng lẫn nhau. Và đạo đức Việt Nam sẽ không còn là công cụ để duy trì những đẳng cấp cũ kĩ.
Các học phái này về phương diện tư tưởng nhiều khi đấu tranh, phê phán nhau kịch liệt, nhưng nhờ nhờ vậy mà học thuật và xã hội mới tiến bộ. Nho giáo Nhật Bản có thể nói theo rất sát, gần như cập nhật thường xuyên tình hình Nho giáo Trung Quốc.
Thứ hai, xã hội Nhật thời Tokugawa là một xã hội đóng, cô lập với thế giới, cả Sorai lẫn Norinaga đều không biết mô hình nào khác mô hình phong kiến, cả hai đều không có ý đả phá chế độ phong kiến, cả hai đều phò tá các tướng quân. Vậy mà, trong xã hội đóng ấy, tư tưởng vẫn có thể mở, hai trường phái chính mà hai ông là thủ lãnh vẫn thu hút đông đảo trí thức Chính nhờ tư tưởng đã đi trước thời đại như vậy tự bên trong, không cần có bên ngoài tác động, mà vua Minh Trị mới dám quả quyết khi mở nước Nhật ra cho thế giới bên ngoài: duy tân là giữ hồn Nhật, chỉ mượn phương Tây về kỹ thuật mà thôi. Họ biết đâu là hồn của họ khi mở cửa. Xã hội ta ngày nay, ngược lại, là một xã hội mở, mở loạn xà ngầu, thế mà tư tưởng thì đóng, sinh hoạt trí thức rách rưới, bần hàn. Ai có chút suy nghĩ đều không thể tự đặt câu hỏi: tình trạng ấy có bình thường không?
Ở nước ta đại đa số mọi người nhân ra rằng: Khi đi làm được khoảng mười năm họ mới nhận ra mình không còn tâm huyết như ban đầu nữa, bắt đầu cảm thấy chán nản, cuộc sống bắt đầu khó khăn, lúc đó mới nhân thức được rằng công việc không hề đơn giản, không như những gì họ tưởng thời là sinh viên, khi mới ra trường xin việc với biết bao mơ ước, hoài bão.
Đâu đó người ta đặt câu hỏi, đạo đức xã hội xuống cấp do dâu? Do kẻ bề trên thiếu đạo đức, thiếu đạo đức họ sẽ làm những chuyện phi lí mà không bị trừng trị, dân chúng bất mãn noi theo. Sự trừng trị trong dân chúng cũng không công bằng, mọi thứ được sắp đặt theo tiền bạc và mối quan hệ kiểu “con ông cháu cha”, thật giả đảo lộn. Dân chúng bắt đầu “điên tiết” tìm cách phỉ nhổ vào xã hội, mọi hành vi của bề trên đều bị chế giễu, bỡn cợt; các hành động trái luân lý dễ làm quần chúng phẩn nộ, họ hả hê khi các quan lại thiếu đạo đức bị trừng trị. Điều đó bắt đầu đặt dấu chấm hết cho trật tự xã hội cũ, vấn đề còn lại là thời gian.
Dân chủ với ý nghĩa “quyền lực của nhân dân” ở thành Athena hay “dân vi quí” thời Chiến quốc nói chung là một. Nó là sản phẩm của văn minh đô thị, kinh tế thương nghiệp. Người phương Tây không giữ bản quyền dân chủ, sự rao giảng đây đó chẳng qua chỉ là thói huênh hoang ngã tâm, tự cao tự đại hoặc chứa đựng một âm mưu mà thôi. Nước Mỹ đã không thành công ở Iraq hay Afghanistan là điều dễ hiểu.
Nho giáo chỉ thực sự suy tàn khi nó không còn là cần câu cơm nữa, tức là khi người ta bãi bỏ chế độ khoa cử, thôi không lấy nhà nho ra làm quan (ở Nam Bộ là từ năm 1915, ở Bắc Bộ từ năm 1917, Trung Bộ 1919), mà thay thế vào đó là chế độ giáo dục kiểu phương Tây.
Nhìn chung thế giới hôm nay, những xã hội nơi con người có đời sống cao, tương đối hạnh phúc là những nơi có nhiều “hạng ngưòi ngu dại”, không" thức thời" ở ẩn hay a dua, mà họ xả thân lên tiếng cho lẽ phải, công lý và nhân phẩm, với cái giá bị trù ếm, phiền phức của an ninh chế độ săn đuổi. Mà thật ra giá trị con ngưòi được xác định ở mức độ rộng rãi như hôm nay là do công sức, xương máu của những con ngưòi “ngu dại” này liên tục cả mấy ngàn năm.
Theo thiển ý của kẻ hậu sinh này thì cụ Khổng nên cám ơn Chính phủ Việt Nam vì đã có công vinh danh, truyền bá tư tưởng, học thuyết của cụ ở bên ngoài đất nước cụ, có công "giúp đỡ" Tổ quốc Trung Quốc của cụ chứng tỏ "quyền lực “mềm” của mình với thế giới".
Để duy trì được sự ổn định của đất nước, Nho giáo dùng mọi cách để bắt cá nhân phải lệ thuộc vào cộng đồng, bắt viên chức phải lệ thuộc vào người cầm quyền tối cao. Để làm được điều đó, nhà nước quân chủ Nho giáo đã sử dụng hai biện pháp sau: 1) Lương nhẹ bổng nặng (hay nói như ngày nay là "lương ít lậu nhiều"): Quan lại chủ yếu sống bằng bổng lộc, còn lương chỉ là tượng trưng. 2) Trọng đức khinh tài.
Hoặc như, việc học hành thi cử ở Việt Nam hoàn toàn là nhằm mục đích thực dụng: Thi đỗ là để làm quan. Người ta học rất chăm chỉ không phải vì yêu học vấn, mà chỉ nhằm thi đỗ. Bởi vậy, khi học họ chỉ cần học cái thi cử cần. Dạy cũng chỉ dạy cái cần cho thi cử. Người ta chỉ học những sách tóm tắt gọi là đại cương hoặc toát yếu, chứ chưa bao giờ đọc chính văn hoặc toàn văn; người ta học thi theo các "bộ đề" thi (cũng được soạn thành sách) theo nội dung tối thiểu là "thi thiên, phú bách, văn sách năm mươi". Bởi vậy, người học trò Nho giáo nhớ nhiều nghĩ ít, không có sáng kiến, không có óc sáng tạo.