Đại đa số kẻ dấn mình vào chính trường, mục đích tối hậu của hắn không gì khác ngoài quyền lực (điều này tuyệt đối đúng trong bối cảnh Việt Nam hôm nay). Nhưng, việc đam mê quyền lực cũng là một thuộc tính của con người. Như vậy, đam mê quyền lực không có gì là xấu xa. Nhưng quyền lực chỉ không xấu xa khi quyền lực ấy gắn liền với trách nhiệm.
Trong khi đó, hàng ngày, thường xuyên phải ngồi giữa những đám kẹt xe, tôi quan sát và tự nhiên tưởng tượng rằng, nếu tôi có một chiếc “kính chiếu yêu” như của Ngọc Hoàng, lập tức, đám đông kia sẽ hiện ra trước “ống kính” không dưới 50% là nhưng con chuột, con chồn, con sói, con cáo… thành tinh. Hoặc chúng ta hãy nhớ lại cái vẻ mặt khi bị bắt quả tang buôn lậu của bà đại sứ Việt Nam tại Nam Phi (bà này nếu đứng trước kính chiếu yêu, tôi khẳng định, bà ta là một con… chồn hương. Giống chồn hương thơm lừng như múi mít).
Tôi không dám khuyên ai đâu. Tôi chỉ nghĩ rằng, người trí thức phải có khí tiết bảo vệ chân lý, lẽ phải theo phương hướng “Phò chính - Trừ tà” mà Bác Hò đã nêu lên. Nhiều trí thức đã từng hi sinh tính mạng của mình để bảo vệ chính nghĩa của dân tộc. Phải biết tự bảo vệ chính mình để phụng sự đất nước. Trong phản biện thì cần trung thực, thẳng thắn nhưng nên khiêm tốn. Với đặc tính sự thiếu hoàn thiện của nhận thức cho do đó cũng nên nghĩ rằng không phải ý kiến nào cũng hoàn hảo, cho nên cũng cần biết lắng nghe.
Chủ nghĩa tư bản đã cho ta một bằng chứng hùng hồn rằng, nhờ nó theo đuổi mô hình cạnh tranh, với hệ thống thể chế chính yếu của nó dựa trên tư hữu và những thoả ước xã hội tự nguyện, nó đã đạt được sự phát triển kinh tế phi thường chưa từng thấy. Ngay cả Karl Marx, trong bản Tuyên ngôn Cộng sản, đã tuyên bố rằng chủ nghĩa tư bản là một “guồng máy phát triển” vĩ đại.
Từ góc độ xã hội học lịch sử mà nói, thiết nghĩ, hình như từ rất lâu rồi người ta đã quá quen với kiểu hành xử dung dưỡng cho cái ác, cái tham, cái dối trá, cái bợ đỡ, cái hèn hạ… núp bóng cái chân, cái thiện, cái chính trực để tung hoành một cách hợp pháp như một lối sống đương nhiên mà ai cũng phải chịu đựng, và sau nhiều thập kỷ đã biến thành một hiệu ứng tâm lý chai lỳ, mất sức đề kháng, thậm chí ở một số ít nào đấy mất luôn cả phản xạ thiện lương. Dư luận cộng đồng đã phản ứng thế nào trước những vụ việc khủng khiếp như vừa dẫn ở trên?
Nhưng chẳng bao lâu, ập tới những năm “chống xét lại” rồi chiến tranh, mọi biểu hiện văn hoá cởi mở, nhân bản, hữu nghị bị loại trừ vì “hữu khuynh”, “tạch tạch sè”, “hoà bình chủ nghĩa”, thay vào đó là một nền văn hoá thấm nhuần 3 “tính” (tính Đảng, tính giai cấp, tính nhân dân, mà “tính Đảng” được xác định là tập trung cao nhất của 2 tính kia!), hướng về mục đích tuyên truyền chiến đấu; người Hà Nội vứt bỏ rất nhanh nếp sống thanh lịch để làm quen với cuộc sống chui hầm và sơ tán, bắt đầu giai đoạn “tự bình dân hoá” về tinh thần trước khi thành phố của họ bị nông thôn hoá mạnh mẽ về thành phần dân cư và tổ chức xã hội sau chiến tranh; con người cá nhân vốn đã bị bài bác từ 1954 đến lúc này hoàn toàn bị dìm xuống cho chìm hẳn vào đội ngũ tập thể.