* * *
QUYỀN CON NGƯỜI (phần 2)
- Ayn Rand -
Hãy quan sát thực trạng kỳ lạ, là chưa bao giờ trên khắp thế giới bùng nổ đến thế hai hiện tượng trái ngược nhau: các “quyền” mới được tạo thêm ra và các trại cưỡng bức lao động.
“Chiêu bài” ở đây là hoán đổi khái niệm quyền từ địa hạt chính trị sang địa hạt kinh tế.
Nhưng con người có cái dạ dày thứ hai mà ít người để ý gọi tên nó, đó là cái túi tham. Cái túi tham nó co giãn theo ý chủ nhân, được một muốn hai, được hai muốn bốn… không biết bao nhiêu là đủ. Cái túi tham này có thể chứa đủ mọi thứ, không chỉ có tiền tài mà còn thêm nhà đất, bằng cấp, chức tước…
Mỗi chính quyền đều có khả năng trở thành mối đe dọa nguy hiểm nhất đối với quyền con người: nó giữ địa vị độc quyền hợp pháp trong việc sử dụng vũ lực nhằm vào các nạn nhân không hề được vũ trang, theo quy định của pháp luật. Khi không chịu giới hạn và hạn chế nào bởi các quyền cá nhân, chính quyền là kẻ thù nguy hiểm số một của con người. Tuyên ngôn Nhân quyền được viết ra không phải là để bảo vệ người ta trước các hành động của tư nhân, mà là để chống các hành động của chính phủ
Ai muốn cổ súy cho xã hội tự do – tức chủ nghĩa tư bản – người ấy phải biết rằng nền tảng không thể tách rời của xã hội tự do là nguyên tắc về các quyền cá nhân. Ai muốn cổ vũ cho các quyền cá nhân, người ấy phải biết rằng chủ nghĩa tư bản là hệ thống duy nhất có thể duy trì và bảo vệ các quyền đó.
Một kết quả bất ngờ mà theo tôi cũng là một kinh nghiệm quí trên mặt trận tuyên truyền nhồi sọ: việc chúng ta bắt ép sinh viên phải học tập chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đem lại những kết quả ngoài mong ước. Thành công của chúng ta không phải đã đạt được mục đích ban đầu là làm cho thế hệ trẻ tôn thờ thứ chủ nghĩa mà ngay cả chúng ta cũng không tin. Ngược lại, thành công của chúng ta là đã làm cho thế hệ trẻ chán ngán đến tận cổ khi phải học mãi một thứ ý thức hệ lỗi thời, bị nhồi nhét đến phản cảm những tư tưởng cũ kỹ. Nhờ vậy chúng ta đã đào tạo ra một thế hệ trẻ thờ ơ vô cảm với tất cả các loại tư tưởng và ý thức hệ, chai sạn với lý tưởng và hoài bão mà thanh niên thường có, trở nên thực dụng và ích kỷ hơn bao giờ hết.
Do dân trí các nước phát triển ngày càng tăng lên, chính phủ các nước đều chịu áp lực theo xu hướng tiến hóa lên một loại xã hội ngày càng tốt đẹp hơn (mà ta vẫn gọi là CNXH, còn bên TBCN thì gọi là xã hội hậu TB, hay xã hội tư bản văn minh - dân chủ gì gì đó...), chúng gần như đều hội tụ vào những ước mơ lý tưởng tốt đẹp như nhau: Một thế giới hòa bình, hữu nghị thật sự, không xâm lược, lấn át lẫn nhau, cùng chung lưng đấu cật giải những bài toàn tầm cỡ toàn cầu và vũ trụ theo hướng phát triển văn minh, bền vững.
Trí thức là những người có hiểu biết sâu rộng, hay nói cách khác là sở hữu “tri thức” ở mức độ cao, mà “tri thức” nhân loại tích luỹ được từ trước đến nay không chỉ là khoa học tự nhiên hay kỹ thuật mà còn bao gồm khoa học xã hội - nhân văn và các tri thức khác về đời sống vật chất và tinh thần. Tầng lớp trí thức cũng không chỉ bao gồm những người có bằng đại học trở lên hay những nhà nghiên cứu lý thuyết.
Dường như, định nghĩa "Trí Thức" & các đặc điểm của giai cấp trí thức bác đưa ra có một sự ảnh hưởng rất lớn từ định nghĩa về tầng lớp Trí Thức của chủ nghĩa Marx-Lenin. Theo đó, tầng lớp Trí Thức sẽ là tầng lớp lãnh đạo xã hội, cho nên ở những đặc tính của tầng lớp trí thức, bác gắn vào nó cả những tố chất như những tố chất của những nhà lãnh đạo - như lòng tin, tính háo danh và hoài bão, hay cả lòng tự trọng hay tính sáng tạo nữa.
Nói tóm lại, trí thức là những người lao động trí óc, có hiểu biết sâu rộng về một hoặc một số lĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, quản lý kinh tế - xã hội, thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó để phát hiện và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực hoạt động của mình vì lợi ích chung của cộng đồng và nhu cầu nhận thức của bản thân.
Trở về vấn đề nhân quyền, hai chữ nhân quyền ở Việt nam hiện nay đã và đang bị nhà nước ta xuyên tạc, bóp méo và làm xấu đi rất nhiều trong suy nghĩ của người dân. Nhân quyền nói một cách đơn giản đó chính là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Mọi con người được sinh ra đều bình đẳng và được tạo hóa ban cho một số quyền không thể tước bỏ, như quyền sống, quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc. Con người sinh ra hơn con vật ở chỗ con người có quyền của mình đã được khẳng định tại Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.
Sau khi khối XHCN Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lại kết thúc, vấn đề nhân quyền và dân chủ đã được một số nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng như một phương tiện hữu hiệu làm chuyển hóa thể chế chính trị ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và hiện nay, nhân quyền đã trở thành vấn đề quốc tế. Các nước phương Tây đưa vấn đề nhân quyền vào trọng tâm chính sách đối ngoại của họ. Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì?
Hãy quan sát cái nguyên tắc căn bản điều chỉnh công lý trong tất cả những trường hợp này: nó nói rằng không ai được phép đoạt lấy bất cứ giá trị gì từ người khác mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu – và, như một hệ quả tất yếu, rằng các quyền của con người không thể được giao phó cho một quyết định đơn phương, cho sự lựa chọn tùy tiện, cho sự phi lý trí, tính thất thường của người khác.
Rất nhiều nhà văn vẫn nhầm về cái thể chế chính trị dưới thời Mao Trạch Đông ở Trung Quốc và thời Stalin ở Liên Xô đồng nhất với thiên chức chính trị của văn học, của các nhà văn Trung Quốc, Liên Xô. Tất nhiên dưới thời Stalin và Mao Trạch Đông cai trị, đã có rất nhiều nhà văn Liên Xô, Trung Quốc đã nép mình vào cái ô tư tưởng, chính trị của Stalin của Mao Trạch Đông để được yên thân, để tác phẩm được công bố và để được giải thưởng, có tiền nhuận bút nuôi sống vợ con…
Vậy thì tại sao nhà văn Việt Nam lại hô hào, từ bỏ, khước từ thiên chức chính trị của văn học, tức là khước từ việc tham gia cùng nhân dân đấu tranh làm cho xã hội trở nên ngay thẳng hơn bằng phương tiện văn học, một phương tiện có khả năng tác động sâu rộng vào lòng người? Nếu nhà văn từ bỏ thiên chức chính trị của văn học, đứng về phương diện công dân thì nhà văn đã vô tình xếp mình, hạ mình làm loại công dân hạng hai?
Dân chủ không phải là một hệ thống mà chúng ta tạo ra một lần rồi nó sẽ tồn tại vĩnh viễn, sau khi tạo nó sẽ tự duy trì. Đó là một nền văn hóa cần được bồi dưỡng và chăm sóc, và nó cần những điều kiện cần thiết để tồn tại và hoạt động. Nó là một tiến trình liên tục, gần giống như một thực thể sống. Nếu chúng ta không duy trì dân chủ một cách tích cực với các cuộc tranh luận và bầu cử tự do, cũng như nhiều điều khác được đề cập ở đây tại democracy-handbook.org, nó sẽ chết. Dân chủ cần có sự tham gia tích cực của mọi người.
Chào mừng bạn đến với Cẩm Nang Dân Chủ (democracy-handbook.org). Cẩm Nang Dân Chủ là một quyển cẩm nang miễn phí và đơn giản cho bất cứ ai quan tâm đến việc thiết lập, củng cố hoặc truyền bá dân chủ. Các chương đều ngắn, đơn giản và bao gồm toàn bộ cốt lõi. Ý tưởng của www.democracy-handbook.org là cung cấp thông tin miễn phí về dân chủ trên toàn thế giới. Và bạn có thể giúp dịch thuật để cùng nhau tạo ra một Cẩm Nang Dân Chủ với tất cả các ngôn ngữ trên thế giới.
Nếu con người muốn chung sống trong một xã hội hòa bình, có năng suất, dựa trên lý trí, và đối xử với nhau vì lợi ích tương hỗ, họ phải chấp nhận một nguyên tắc xã hội căn bản mà nếu thiếu thì không thể tồn tại một xã hội đạo đức hay văn minh nào: nguyên tắc về các quyền cá nhân.
Trong suốt lịch sử của mình cho đến nay, người dân Việt Nam chưa bao giờ có quyền thảo luận và quyết định về Hiến pháp. Vì thế “nhà nước của dân, do dân và vì dân” vẫn là mục tiêu cao cả cần đạt tới.
Vấn đề là những người đang nắm các cương vị lãnh đạo có đủ tâm và đủ tài để độc lập về tư duy hay không, có bao giờ trăn trở rằng tại sao chúng ta chưa bao giờ dám vượt lên trước mà luôn luôn liếc mắt trông chừng để bám theo sau, nghĩa là chỉ muốn làm cái bóng của anh bạn láng giềng?
Dưới đây là trích đoạn bài phát biểu của luật sư Nguyễn Hữu Thọ đọc tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. HCM năm 1988. Bài phát biểu do Võ Linh Hà ghi, và đã in trong cuốn “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng” - NXB Chính Trị Quốc Gia - 1996.
Quản Trọng, nhà chính trị, nhà quân sự và nhà tư tưởng thời Xuân Thu (685 TCN) là “một cao thủ diễn biến hòa bình, không đánh mà thắng”. Ông một mực chủ trương “lấy mưu làm gốc, dùng trí thắng địch, diễn biến hòa bình, không đánh mà khuất phục được kẻ thù” và ông đã thành công rực rỡ với chiến lược này.
Từ những điều đã trình bày trong các phần I và II, phải chăng có thể kết luận: Sau 30 Tháng Tư 1975 quyền lực trong Đảng dần dần và lúc này lúc khác không còn lựa chọn nhiệm vụ phục vụ lợi ích quốc gia là mục tiêu hàng đầu và tối thượng nữa, mà đang ngày càng chuyển hẳn sang ưu tiên lựa chọn yêu cầu duy trì quyền lực của Đảng? Xin nói ngay, quyền lực trong Đảng như vậy và quyền chính đáng của một đảng lãnh đạo là hai thứ khác nhau.
Thành tựu đạt được dù to lớn đến đâu cũng chưa thể nói là vững chắc, nguy cơ kiếm củi ba năm thiêu một giờ hoặc rơi vào khốn quẫn luôn luôn cận kề. Nguy cơ này đang gia tăng. Trong nhiều năm qua khắp nơi trong nước không lúc nào ngớt tiếng nói nặng lòng với đất nước, với Đảng, đã nêu lên những cảnh báo nghiêm khắc. Có đảng viên đã chiến đấu gần hết cuộc đời trong hàng ngũ Đảng phải thốt lên: Đảng trong tim tôi và Đảng ngày nay là hai Đảng khác nhau mất rồi! Có đảng viên đã lên tiếng cảnh báo về mối nguy của “nội xâm”[10] và “ngoại xâm”.
Tất cả những đặc điểm về văn hoá tham nhũng nêu trên đều có thể tìm thấy ở Việt Nam. Bởi vậy, việc khắc phục tệ nạn tham nhũng ở Việt Nam, ngoài việc tăng lương cho công nhân viên chức như người ta thường nói, còn phải chú ý đến hai khía cạnh quan trọng khác: thay đổi về văn hoá và chính trị.
Khi còn ở Việt Nam, từ bé đến lớn tôi luôn được giáo dục rằng mình có rất nhiều nhược điểm. Muốn trở thành “con người xã hội chủ nghĩa”- tức là có ích cho xã hội- thì phải “rèn luyện” sao cho những nhược điểm ấy biến mất. Một xã hội tốt đẹp là phải có những con người “vừa hồng, vừa chuyên”, nghĩa là phải toàn diện, thậm chí “hồng” còn quan trọng hơn “chuyên”.