Lấy ví dụ như bờ biển chẳng hạn. Chắc chắn nó không phải chỉ của thế hệ ngày nay mà là của hàng bao thế hệ cha ông mình đã giành được, đồng thời nó cũng phải được để dành cho các thế hệ mai sau. Nay bờ biển được khoanh lại, biến thành những resort như ở Mũi Né, Bình Thuận, hóa ra của cải của cả dân tộc đã biến thành tài sản tư, tài sản của một vài ông chủ.
Thế nhưng tầng lớp hạ lưu chỉ thích hợp với giai đoạn phá bỏ. Mọi tiến trình xã hội đều bị quy định bởi tầng lớp trung lưu mà đôi khi người ta gọi là tầng lớp tiểu tư sản. Cùng với sự phát triển của xã hội, tầng lớp trung lưu ngày càng quan trọng hơn. Vì quyền lợi và quyền lực của nó chưa được khẳng định cho nên nó không có định kiến và không trở thành bảo thủ. Về mặt chính trị, tầng lớp trung lưu là tầng lớp trung lập. Nó hưởng ứng hay chống lại một cách tương đối chính xác, nếu không nói là chính xác nhất, đối với các vận động chính trị trong xã hội.
Đó là quan niệm coi “cá nhân” là... “bản thân mình”. Từ đó, coi chủ nghĩa cá nhân là thứ chủ nghĩa đặt quyền lợi và hạnh phúc của bản thân mình lên trên hết. Nếu gọi đúng tên, thì đây là chủ nghĩa vị kỷ (egoism, đối lập với chủ nghĩa vị tha), chứ không phải là chủ nghĩa cá nhân (individualism, đối lập với chủ nghĩa tập thể). Hầu hết trường hợp chống chủ nghĩa cá nhân là do cách hiểu sai lầm này. Càng tai hại, nếu giới quyền lực cố ý hiểu sai như vậy.
Tôi hiểu vì sao bác kêu oan cho ông Khổng Tử. Trong bài viết, tác giả Lê Anh Tuấn đã nhường phần chứng minh trách nhiệm của Nho giáo cho mấy chương trong cuốn Tổ quốc ăn năn của Nguyễn Gia Kiểng. Bác thậm chí chưa đọc hết bài của ông Tuấn, vậy chắc chắn là chưa đọc chữ nào trong phần chú dẫn rất dài này. Chưa đọc cáo trạng của Nho giáo mà đã nhận xét thì thấy nó oan ức là chuyện tự nhiên. Bác nên đọc đi, không thể phê phán ông Tuấn là vu oan đạo Nho nếu bác chưa phản bác được những ý kiến của ông Kiểng.
Tôi tin rằng nền đạo đức Việt Nam trong tương lai sẽ rất khác. Tinh thần dân chủ trong chính trị sẽ khiến mọi người Việt đều hiểu rằng mình có quyền đòi hỏi phúc lợi và niềm tự hào từ đất nước. Cũng như thế, khi thâm nhập vào đời sống gia đình, tinh thần dân chủ sẽ chuyển cách hành xử kiểu mẫu giữa các thế hệ từ tôn trọng một chiều sang tôn trọng lẫn nhau. Và đạo đức Việt Nam sẽ không còn là công cụ để duy trì những đẳng cấp cũ kĩ.
Như vậy, việc nhà nước bắt buộc bạn dù giàu hay nghèo phải đóng thuế thu nhập cá nhân sau đó lấy tiền thuế đó chia đều cho tất cả mọi người dẫn đến một hệ quả là làm xã hội giảm bớt sự bất bình đẳng. Quốc gia nào có thuế thu nhập cá nhân càng cao và chính phủ sử dụng tiền thuế đó chia lại đồng đều cho tất cả mọi người thì xã hội càng giảm thiểu sự bất bình đẳng. Thông thường ở các quốc gia có mức thuế thu nhập thấp thì tỷ lệ mức độ bất bình đẳng sẽ cao hơn ở các quốc gia có thu cao hơn (trong trường hợp tiền thuế đó được sử dụng hiệu quả).
Lười biếng và hèn nhát là những nguyên nhân, tại sao một phần lớn số người như thế của nhân loại, sau khi thiên nhiên đã giải phóng họ ra khỏi sự chỉ đạo ngoại lai (naturaliter maiorennes) mà suốt đời lại vẫn thích lưu lại trong tình trạng vị thành niên; và là nguyên nhân tại sao thật là dễ dàng cho một số người khác, tự ném mình giao phó mình cho người đỡ đầu. Ở trong tình trạng vị thành niên thì thật là khỏe khoắn.
Tình hình trên đất nước ta, giai cấp nắm chính quyền sống ra sao, giai cấp không nắm chính quyền đang trải qua những gì có lẽ không còn là những “câu hỏi” nữa. Sự thật đang phơi bày ngay nhãn tiền.
Tôi xin nói lại rằng, dân tộc chúng ta có sánh vai cùng các cường quốc được hay không là kết quả của sự thức tỉnh của nhân dân về các quyền tự do của mình chứ không phải là kết quả của sự nghe lời bảo ban của nhà nước.
Tự do của một quốc gia và tự do của con người trong quốc gia ấy là hai mức độ khác nhau của khái niệm tự do. Một dân tộc mà không có tự do thì dân tộc ấy không thể bàn đến tự do của công dân của nó được. Chúng ta phấn đấu cho mãi đến năm 1975 mới có tự do của quốc gia này, và do đó chúng ta mới có đủ địa vị chính trị, quyền lực chính trị để tổ chức ra nền tự do của chính dân tộc này. Và bây giờ cũng phải nói thẳng rằng tự do của mỗi một con người trong quốc gia ấy cũng đang tiếp tục là một vấn đề chính trị khổng lồ.
Tuy “tư tưởng Khổng Mạnh” có liên hệ mật thiết với nền văn hóa cổ truyền của người Việt Nam thuộc thế hệ “già” (hoặc thế hệ “trẻ” nhưng bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng “già”), thế hệ “cũ”, đang định cư an ổn ở nước ngòai (vì thế hòan tòan ngây thơ và xa lạ với thực tế trong nước Việt Nam), nhưng nếu từ đó mà kết luận rằng vì ông Khổng ông Mạnh mà nền kinh tế Việt Nam đang có khó khăn, không vượt lên cao để trở thành “con rồng con” trong vùng Á Châu được thì quả thực là chính mình còn đang “mê ngủ” (ở ngọai quốc) chứ không phải vì “con rồng" (trong nước) đang “ngủ quên”.
Phải chăng, cũng chính vì thu hút được đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đảng phái, giai cấp, thỏa mãn được những khát vọng của cả dân tộc tại buổi bình minh của nền độc lập nước nhà nên bản Hiến pháp 1946 xứng đáng được coi là bản Hiến pháp ưu việt nhất, tiến bộ nhất, dân chủ nhất hiện đại nhất mặc dù ra đời sớm nhất trong tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ trước đến nay.
Albert Einstein đã cảnh báo rằng nếu không suy nghĩ độc lập thì người ta có thể trở thành một cái máy khả dụng, nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Thế nên, suy cho cùng, nếu sống trung thực thì ta sẽ được là… ta. Thế thôi, ta sẽ là một con người có tư duy độc lập với đầy đủ phẩm giá.
Tuy nhiên mục đích của nền giáo dục khai phóng lại không phải là sản sinh ra những nhà khoa học. Nó cố tìm cách để phát triển những con người tự do biết cách sử dụng trí tuệ của mình và có thể độc lập suy nghĩ. Mục đích hàng đầu của nó không phải là phát triển khả năng chuyên môn, dù một nền giáo dục khai phóng là không thể thiếu được đối với bất kỳ một nghề chuyên môn về đầu óc nào. Nó sản sinh ra những công dân có thể sử dụng quyền tự do chính trị của họ một cách có trách nhiệm. Nó phát triển những con người trí thức có thể sử dụng thời gian rỗi của họ một cách hữu ích. Nó là một nền giáo dục cho tất cả những người tự do, dù họ có ý định trở thành nhà khoa học hay không.
Hiện tại, nhiều thể chế chính trị tại các nước đang phát triển bị đặt trước hai tình thế. Một là, bộ máy cầm quyền tiếp tục níu kéo hệ thống chính trị cũ, làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, để rồi phải đối đầu với một cuộc cách mạng. Hai là, toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của bộ máy cầm quyền tiến hành cải cách chính trị một cách hòa bình, có điều khiển, có kế hoạch để xây dựng hệ thống chính trị mới thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội mới. Với lý do cần ổn định, nhiều người lo ngại cải cách chính trị có thể làm cho hệ thống chính trị sụp đổ. Thực ra, cải cách chính trị đào thải những yếu tố chính trị đã lỗi thời và thay thế bằng những yếu tố tiến bộ và thích hợp hơn, đáp ứng những đòi hỏi khách quan của phát triển, nói cách khác là duy trì, hoàn thiện và hợp lý hóa một thể chế chính trị chứ không phải xoá bỏ và thay thế nó bằng một thể chế chính trị khác.
Ở Việt Nam, quyền lực của Đảng là quyền lực tuyệt đối, không bị thách thức bởi bất cứ quyền lực nào khác - kể cả nhà nước. Để thực hiện quyền lãnh đạo của mình, Đảng đã tùy tiện đặt ra những quy định hết sức kỳ quái như: hiệu trưởng một trường đại học tư, chủ nhiệm một hiệp hội nghiên cứu khoa học, thậm chí lãnh đạo của một tổ chức từ thiện, v.v… phải là đảng viên. Trong trường hợp cần phải dành vị trí ấy cho những nhân vật “không - đảng” nhưng lại có uy tín, thì Đảng giả vờ nhượng bộ để được tiếng là tôn trọng hiền tài, “cởi mở” đối với trí thức.
Đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng như mọi đảng cộng sản, coi chủ nghĩa cá nhân là thù địch; họ nhắc lại trong mọi văn kiện quan trọng của họ. Thái độ này dù đúng hay sai cũng phù hợp với chủ thuyết của họ. Điều đáng nói là rất nhiều trí thức Việt Nam, trong đó có những trí thức dân chủ mà tôi quí mến, cũng tỏ ra dị ứng với chủ nghĩa cá nhân. Nhiều người đồng hóa nó một cách tự nhiên với chủ nghĩa vị kỷ. Như vậy một số điểm cần được đả thông.
Như vậy trong nước chưa có một cơ quan nghiên cứu nào, một nhà nghiên cứu nào thực sự bắt tay nghiên cứu về NVGP. Hầu như toàn bộ các thế hệ sau không biết mặt mũi các ấn phẩm NVGP là thế nào,người ta chỉ lặp lại các luận điệu chính thống mỗi khi nói về nó.
Chế độ đa đảng là một hình thái chính trị nhà nước trong đó lý do tồn tại của các đảng là sự cạnh tranh về quyền lực. Mỗi đảng thường là đại diện cho các lực lượng chính trị khác nhau, các nhóm lợi ích khác nhau… theo đuổi những lý tưởng, mục tiêu khác nhau, thường là đối lập với nhau về nhiều mặt, từ chính sách đối nội, đối ngoại, đến quan điểm, hệ tư tưởng - chế độ xã hội và ngày nay còn là thái độ, ứng xử đối với môi trường (như các đảng xanh chẳng hạn).
Về tư tưởng thì ở trên đã trình bày cho chúng ta thấy rõ những đòi hỏi cải cách dân chủ của họ là phù hợp với tiến trình lịch sử. Nếu Đảng CSVN đi theo con đường đó thì có thể khủng hoảng đã không thể xảy ra, đất nước không ở tình trạng như hiện nay. Có người lấy việc giải phóng miền Nam để biện minh cho việc đàn áp NVGP là chính đáng. Nhưng sau khi có sự sụp đổ của phe XHCN, sau khi nước Đức thống nhất thì lý do này khó đứng vững.
Không hiểu tại sao ở Việt Nam, hễ cứ nói đến hai chữ “nhân quyền” là bị coi là đụng chạm, là “nhạy cảm”, như thể đó là “taboo” không bằng. Một xã hội coi trọng con người thì vấn đề nhân quyền không phải là “taboo”, không-thể-động-chạm-đến. Ngược lại, những gì chống lại con người mới là cái cần loại bỏ.
Theo phát biểu mới đây của nhà thơ Lê Đạt trên RFI thì NVGP là cố gắng nghiêm túc đầu tiên của văn nghệ sĩ để đối thọai với nhà nước. Tiếc rằng cuộc đối thoại đã chấm dứt một cách bi kịch. Cuộc đối thoại này khởi nguồn từ đầu năm 1955 và kết thúc vào tháng Sáu năm 1958 với lao tù và cải tạo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi dân chủ có ý nghĩa như một giá trị chung, là sản phẩm của văn minh nhân loại, xem dân chủ như lý tưởng phấn đấu của các dân tộc. Người cũng không chỉ coi dân chủ với tư cách như một thiết chế xã hội của một quốc gia mà khái niệm này được mở rộng ra biểu hiện mối quan hệ của đời sống quốc tế - một thiết chế quốc tế cần được xây dựng cho nhân loại.
Ý niệm đạo đức của người Việt Nam, vốn chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, nhắm đến việc duy trì trật tự và sự hài hoà trong xã hội. Mà cả trật tự và hài hoà đều được xây dựng trên nền tảng đẳng cấp. Đạo đức là bảo vệ cái đẳng cấp có sẵn ấy. Là vua cho ra vua. Quan cho ra quan. Dân cho ra dân. Chồng ra chồng. Vợ ra vợ. Con ra con. Đó là thứ đạo đức mang tính chức năng luận (funtional ethnics): đạo đức gắn liền với một vai trò nhất định.
Người phương Tây dám thể hiện bản thân, tức thể hiện tư tưởng mình và còn dám phô bầy thân xác loã lồ của mình. Trung Quốc chỉ biết mặc quần áo, mặc quần áo cho tư tưởng. Mặc bao giờ cũng dễ hơn cởi. Phương Tây đả kích mặt đen tối của mình, cho nên tìm được ánh sáng, tư tưởng của họ đang bay bổng. Chúng ta ca ngợi sự sáng sủa của mình, kết quả đem lại bóng tối nghìn năm.