Kết quả lần này có khả năng tạo ra những thay đổi khá mạnh mẽ: thân Mỹ hơn, giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc, sẽ có đột phá về điều 4 Hiến Pháp và sẽ chấp nhận những thành phần phi đảng phái, sẽ cởi mở hơn về báo chí v.v…
Đã bao giờ bạn thử thôi cách suy nghĩ: Học để trở nên giàu có cho khoe mẽ với đời, học để lấy điểm cao cho có vị thế xã hội, học để vừa lòng bố mẹ… và thử học cho chính bản thân mình xem. Khi học để mở mang tâm trí của chính mình, chúng ta có cơ hội để hiểu rõ bản chất của mọi sự vật, sự việc xảy đến; chúng ta có cơ hội để có nhiều chọn lựa hơn cho tư tưởng của mình; chúng ta sẽ kho bị lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc và có quyền tự do ý chí cá nhân. Tự học không có nghĩa là cắm mặt vào quyển sách, mà là với tinh thần đó, chúng ta học hỏi trong từng việc nhỏ nhặt.
Vừa qua chúng tôi đã thất vọng qua các Hội nghị BCH Trung ương 4, 5, 6; mới đây, lại thêm thất vọng qua phát biểu khai mạc của ông Tổng bí thư tại Hội nghị BCH Trung ương 7 khi thấy chủ trương vẫn giữ nguyên tinh thần cũ, chỉ có điều chỉnh nhỏ. Tuy vậy chúng tôi vẫn hy vọng vào trí tuệ của đông đảo Ban Chấp hành Trung ương, ở đó có nhiều vị sống gần dân hơn, thực tế hơn; ở đó, vẫn còn nhiều vị có trình độ và có trách nhiệm. Lịch sử mấy chục năm qua đã chứng minh, nếu ở trên thượng tầng có ông Trường Chinh bảo thủ, cứng nhắc, thì ở tỉnh vẫn có ông Kim Ngọc thương dân, dám vượt rào. Và ngày nay vẫn thấp thoáng những Kim Ngọc ở các ông (bà) Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Văn An, Nguyễn Minh Nhị,…
Liệu thay đổi đường hướng kinh tế, một phần trong tổng thể cải tổ thể chế ở Miến Điện, có đang gây ra những quan ngại nào với quốc gia láng giềng Trung Quốc, BBC lược giới thiệu ý kiến của cây bút Gwen Robinson của tờ thời báo Anh Financial Times.
Từ khi chính quyền dân sự của Tổng thống Thein Sein thực hiện những bước đi cải cách, kinh tế đã có chuyển động, nhiều lĩnh vực quan trọng như nông nghiệp, xây dựng có bước phát triển rõ rệt. Riêng lĩnh vực truyền thông, cải cách thể hiện rõ ở lĩnh vực báo chí và kêu gọi đầu tư xây dựng hạ tầng viễn thông (mạng di động và Internet).
Trong sự suy sụp vào chính mình, vào bên trong như kiểu lỗ đen như vậy, vai trò, uy tín của đảng trong lòng nhân dân đã cạn kiệt. Đã đến lúc nhân dân xem đảng như một thứ của nợ, một loại ký sinh, đã quá date và không còn lợi ích, tác dụng tích cực gì với đất nước. Đảng không dám trưng cầu ý kiến của dân về điều ấy (và có thể mở rộng bằng trưng cầu thái độ nhân dân với 3 phương án lựa chọn: yêu/sợ/ghét đảng) và cố tạo ra 44 + n triệu ý kiến, trong đó tuyệt đại đa số đồng ý với bản dự thảo Hiến pháp do đảng viết ra và rồi một bản Hiến pháp vũ như cẩn cũng sẽ ra đời. Nhưng phỏng có ích gì vì đó vẫn tiếp tục nâng cấp sự giả dối. Mà nâng cấp như vậy chỉ càng tự phủ nhận tính chính danh của mình, đẩy mình rời xa nhân dân, đối lập với nhân dân. Hậu quả là sau đó đảng chỉ còn là hiện thân của cái dối, cái ác, chỉ tồn tại và thực hiện hoạt động lãnh đạo của mình bằng giả dối được bảo vệ bằng những công cụ bạo lực đã trở nên quá mạnh, bị sử dụng sai chức năng, sứ mệnh trong đối nội.
Những gì mà Chicago Boys xúi Pinochet thực hiện thực ra rất đơn giản về mặt nguyên tắc: tư hữu hóa tối đa các ngành công nghiệp (bao gồm cả khai khoáng), tư hữu hóa ngân hàng và quỹ tài chính, phá bỏ bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước bằng bỏ đi hàng rào thuế quan, xóa bỏ các luật lệ (deregulation) để tối thiểu hóa sự can thiệp của chính phủ vào thị trường, giảm thuế doanh nghiệp, chào đón đầu tư nước ngoài.
Theo lẽ đó, trao cho người dân, đặc biệt là nông dân, quyền sở hữu đất đai là điều quan trọng nhất, tác động đến nhiều người dân nhất, sẽ là bước đột phá, mở ra những hướng đi mới cho nền kinh tế. Một thị trường to lớn, liên quan đến 70% dân số sẽ được khai thông, vận hành đúng quy luật. Thử hình dung, người dân được làm chủ chính thức mảnh đất của họ thì trong một thời gian, bộ mặt nông thôn sẽ thay đổi, cơ sở hạ tầng sẽ được cải thiện, nông dân làm ăn với tư cách chủ ruộng sẽ có tầm nhìn dài hơn, bao quát hơn và hiệu quả hơn.
Đổi mới kinh tế sau 20 năm thu được một số thành tựu, nhưng đã nhanh chóng thụt lùi và lại đang ở đêm trước của cuộc khủng hoảng mới. Nguyên nhân chủ yếu: Đổi mới nửa vời, có tự do hóa (cho tư nhân kinh doanh) nhưng vẫn kiên trì “thành phần chủ đạo” kinh tế nhà nước. Kết quả đã biết trước: quả đấm “chủ đạo” này đấm thẳng như trời giáng vào nền kinh tế quốc dân.
Cuốn II bắt đầu từ thời điểm ông Nguyễn Văn Linh lên cầm quyền cho đến khi ba ông cố vấn đưa ông Lê Khả Phiêu ra khỏi chiếc ghế tổng bí thư. Tuy có những câu chuyện còn kéo dài đến sau Đại hội Đảng lần thứ XI (1-2011), nhưng hai chương cuối của cuốn II chủ yếu nói về “cái đuôi” chủ nghĩa xã hội và những hệ lụy mà xã hội Việt Nam đang gánh chịu.
Một là tiếp tục bị ngoại bang chi phối, đàn áp dân chủ, đẩy 135 dân tộc Myaanmar vào cảnh nghèo đói, vào các cuộc chiến tranh sắc tộc triền miên. Hai là đứng về phía nhân dân, thả hết tù chính trị, thực hiện bầu cử tự do đa đảng, mở toang cửa đón bạn bè năm châu bốn biển vào đầu tư. Myanmar đã quyết định đi theo con đường thứ hai hòa hợp dân tộc, cho tự do báo chí mở cửa đón nhân làn sóng đầu tư trong đó Việt Nam là một trong nhữn đối tác quan trọng.
“Võ Văn Kiệt, nhà lãnh đạo kiệt xuất thời kỳ Đổi mới” là cách giật tít của VietnamNet một thời khốn khó vừa trải qua bấy giờ, với một số danh ngôn còn được truyền tụng hàng năm nhân ngày giỗ của ông. Thế nhưng, những điều phát biểu của ông Kiệt, dù có làm cho một vài trái tim thổn thức về một VN không của riêng ai hay đảng nào, hoặc một sự kiện khiến triệu người vui đồng thời làm triệu người buồn v.v…, nhưng ít ai thấy ra ông đã dám va chạm/cọ sát vào cốt lõi của nguồn gốc sự sai trái và đặc tính vô phương cứu chữa của hệ thống “lỗi cơ chế” đã thành tội ác có tổ chức nói trên, so với một số “nguyên” lãnh đạo khác, như ông Nguyễn Văn An, chẳng hạn. Và nói cho cùng thì, tiếc thay, cả hai ông, cùng với một số đồng chí khác nữa từng ở phẩm trật ủy viên TW hay ủy viên BCT, chỉ “mở miệng” khi đã về hưu.
BCT đã hoàn toàn hết ảo tưởng rằng suy thoái sẽ sớm qua đi, họ đã biết rằng phải có tiền từ bên ngoài, ít nhất là 70 tỷ USD, thì mới có thể tránh được sự sụp đổ rối loạn. Nợ xấu ngân hàng chính thức báo lên BCT là hơn 30% và sẽ còn tiếp tục tăng cao trong mấy tháng tới vì hầu hết các dự án bất động sản đều không có khả năng thanh toán ngân hàng. Dự báo trong 6 tháng tới, con số này sẽ vượt mức 50%. Hiện nay trong BCT đang tranh cãi gay gắt là sẽ xin khoản tiền này từ đâu? Nếu Việt Nam nhận tiền cứu trợ từ Trung Quốc thì sẽ tái diễn một cái gì đó tương tự như Hiệp định Biên Giới 1999 cho biển Đông, và rất nhiều hậu quả khôn lường khác.
“Cơ may”, theo giải thích của ông Lược, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính trị thế giới, cựu thành viên ban nghiên cứu của Thủ tướng, là thường chỉ khi nào bị đẩy đến chân tường, thì động lực đổi mới mới thực sự mạnh mẽ.
Vấn đề của chúng ta là học được gì từ bài học Kim Ngọc và ứng dụng bài học đó như thế nào cho trường hợp Trần Huỳnh Duy Thức hiện nay. Chúng ta im lặng để anh ngồi nốt quãng đời trong tù còn chúng ta “tự do” trong đói khổ, lầm than hay chúng ta lên tiếng để anh sớm tự do. Tự do của anh Thức cũng là sự thịnh vượng của chúng ta.
Trong khi tác giả Hoàng Kim yêu cầu "Đừng bắt nông dân gánh chủ nghĩa xã hội treo" [1] để phản đối quan điểm tối quan trọng hiện nay về quyền tư hữu đất đai - nằm gọn trong tay ĐCSVN, thì nhà báo Nguyên Hà đặt câu hỏi "Nợ của Việt Nam hiện như thế nào?" [2], trong đó các con số trở nên lùng nhùng, bất khả tín về cái gọi là "nợ xấu" của Việt Nam. ĐCSVN nợ nông dân quyền sở hữu tư nhân về đất đai, nợ "tiền" đối với bạn bè thế giới, họ nợ luôn cả toàn bộ dân tộc Việt Nam về Quyền Con Người mà họ cam kết mấy mươi năm qua. Họ nợ tất cả! Nợ trọn bộ, nợ toàn tập, nợ đủ kiểu vầ nợ đủ món.
Việt Nam đã được báo chí quốc tế nhắc đến nhiều trong những tuần gần đây, nhưng tất cả đều là những điều không tốt đẹp. Nền kinh tế năng động của Việt Nam, mảng mang lại nhiều tin tức nhất trên các phương tiện truyền thông trong những ngày qua, được thay thế bởi suy giảm kinh tế, tranh giành chính trị và các vụ bắt giữ lãnh đạo ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với lãnh đạo của đảng.
Chính trọng tình trạng ấy, các nhóm lợi ích về kinh tế - chính trị được hình thành; tư bản đỏ và địa chủ đỏ lũng đoạn sự phát triển của đất nước vượt trên lợi ích của nhân dân. Cũng trong bối cảnh nửa vời của sự đi ngược qui luật lịch sử tự nhiên, đánh cắp những quyền tự nhiên của nhân dân như vậy để rồi đổi mới theo cách có lợi cho mình, ban ơn từng chút cho dân, kể cả dân chủ, mới có sự biến Đoàn Văn Vươn, mới có một tình trạng pháp chế có tính hăm dọa diễn ra hàng ngày trên đất nước, không giống ai, thông qua cái gọi là hình thức “cưỡng chế”, nhất là cưỡng chế đất đai, thông qua cái gọi là “Đội thi hành án”...Đó cũng là do cái quyền sở hữu tự nhiên ngàn đời của nhân dân bị đánh cắp để làm vật liệu cho thí nghiệm xã hội, đến khi trả lại thì chỉ nửa vời, tạo điều kiện tích tụ lợi ích cho một nhóm nhỏ có quyền và đặc quyền, dẫn đến những mâu thuẫn có tính cách mạng khác.
Nhưng điểm khác của chính phủ cực quyền là ở chỗ, nó không cho bạn tự do hoàn toàn. Vào đầu thập niên 1950, khi Đảng Cộng sản vừa xây dựng chính quyền, Trần Vân đã nói câu này: Chúng ta phải tiếp thu những bài học của Quốc Dân đảng, Quốc Dân đảng chính vì đã cho dân tự do ngôn luận và tự do thông tin nên mới bị mất chính quyền, chúng ta phải bóp chết tự do ngôn luận của nhân dân từ trong trứng nước, không cho họ có được một chút nào, nếu cho là chính quyền của anh sẽ mất ổn định. Vì thế, sự khác biệt giữa chế độ cực quyền với chế độ uy quyền nằm ở đó. Nhưng Lưu Á Châu thì lại đổi sự thống trị của chế độ cực quyền thành thống trị uy quyền, ông ta bèn nói là “một cuộc chuyển hình thái từ nền chính trị uy quyền sang nền chính trị dân chủ”, đó chính là thủ pháp thay xà đổi cột của ông ta.
Nhưng nếu như vậy, tái cấu trúc kinh tế về thực chất chỉ là sự cải cách và đổi mới kinh tế, những khái niệm đã quá quen thuộc với chúng ta từ hơn 2 thập kỷ trước đây bắt đầu từ công cuộc đổi mới và mở cửa được chính thức khởi xướng bởi Đại hội Đảng VI năm 1986 và tiếp tục sau đó nhiều năm với hàng loạt cải cách trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế và xã hội. Bản thân cụm từ cải cách và đổi mới này (và với thực tế những gì đã được thực thi, cũng như đã xảy ra trong những năm tiến hành cải cách và đổi mới) đã phản ánh chính xác nhu cầu đặt cho, và cách hiểu về tái cấu trúc kinh tế đang đặt ra hiện nay.
Tôi nghĩ nếu không tiến hành cải cách, Đảng sẽ thực sự chỉ còn lại là một lực lượng chính trị. Nếu tiến hành cải cách, tôi tin sẽ phòng ngừa được đổ vỡ, và đó sẽ là cải cách do Đảng lãnh đạo, Đảng sẽ trở thành đảng của dân tộc. Để xảy ra đổ vỡ chắc chắn sẽ là thảm họa, rồi sau đó nhân dân cũng phải tự mình tìm đường cải cách đưa đất nước đi lên,… nhưng nếu để xảy ra như thế, bây giờ không nói trước được điều gì.
Người viết cũng hy vọng: Con đường của sự kế thừa sáng tạo là kịch bản tiết kiệm xương máu nhất và tối ưu nhất về mọi mặt trong tình hình đối nội và đối ngoại của đất nước ngày nay. Kịch bản này là hiện thực, nếu trí tuệ và lý trí, nhất là ý chí không cam chịu số phận nô dịch và lệ thuộc một lần nữa, giành được tiếng nói quyết định trong cuộc sống đất nước. Chủ động cải cách trước khi đổ vỡ có thể xảy ra, hoặc cải cách sau khi đổ vỡ xảy ra, một trong hai con đường ấy bằng cách này cách khác sẽ diễn ra. Bởi vì chắc chắn dân tộc ta không thể đứng yên tại chỗ cam chịu số phận lệ thuộc và bị uy hiếp như hiện tại, trước sau nhất định sẽ tìm đường trở thành nước phát triển.
Ra khỏi sự ràng buộc vào một ý thức hệ cũng sẽ giúp cho Việt Nam độc lập với Trung Quốc về mặt này và đi trước Trung Quốc về cải cách thể chế. Làm được điều này, Đảng Cộng sản vừa được lòng dân vừa tạo được uy tín trên thế giới.
Việt Nam chúng ta đang đứng trước một khúc ngoặt lịch sử. Theo dõi những diễn tiến của xã hội Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây, chúng tôi thật sự lo âu về tương lai của đất nước. Bản ý kiến này không nêu lại những thành tựu Việt Nam đã đạt được, mà tập trung vào vấn đề nội lực Việt Nam đang suy yếu: Kinh tế bấp bênh, giáo dục và y tế xuống cấp, khoa học và công nghệ non yếu, đạo đức xã hội suy thoái, tham nhũng tràn lan, bộ máy nhà nước nhiều bất cập. Trong lúc đó, kinh tế ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc và đe dọa về an ninh từ nước láng giềng phương Bắc ngày càng rõ nét.
Bế quan tỏa cảng, coi mở rộng thương mại với bên ngoài chỉ làm hỏng đất nước. Các sứ thần của ta như Nguyễn Hiệp, Lê Đĩnh, Phan Lương…đi các nơi về báo cáo nhà vua là các nước đều làm khác, khuyên phải thay đổi, nhưng nhà vua đều cho là không hợp, mặc dù suốt toàn bộ sự nghiệp thành vương của mình Gia Long tiếp xúc nhiều với thế giới bên ngoài, không chi riêng với nước Pháp; khoảng năm 1839 vua Minh Mạng đã cho sứ bộ của mình đi một số nước châu Âu để nắm tình hình... Đã thế, sử liệu còn cho thấy nhìn chung triều đình chủ trương phó thác việc buôn bán cho Hoa kiều, Hoa kiều hầu như đứng ngoài luật pháp...[8] Không ít các trí giả như Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Điểu… đã từng đi du học phương Tây, đưa ra nhiều kiến nghị cải cách, song tất thảy đều bị bỏ xó.