Theo số liệu năm 2006, trong khi tỉ lệ hộ nghèo của TP Cần Thơ là 8%; của huyện Cờ Đỏ là 12%; thì, tỉ lệ này ở Nông Trường chỉ là 2%. Tuy nhiên, so với những người nông dân xung quanh, nông dân nông trường Sông Hậu tuy vẫn chân lấm tay bùn nhưng không hề có trong tay tấc đất. Sẽ là bi kịch nếu như cứ tuyên bố 6.924 hecta đất đai mà những nông dân này canh tác, đã bồi bổ suốt 30 năm qua là đất đai của nông trường quốc doanh rồi làm dự án mà không bồi thường cho họ.
Lợi ích quốc gia sẽ càng dễ dàng bị đe dọa khi những nhóm như vậy được phụ trách bởi một vài người. Trước những nhóm nhiều đặc lợi và có không ít đặc quyền, quyền quản lý họ rất dễ trở thành “rơm” và thậm chí có thể trở thành “con tin” của họ.
Với tài năng của cha con bà Ba Sương, nếu không dồn sức xây dựng chủ nghĩa xã hội, hoàn toàn có thể xây dựng một tương lai giàu có cho cá nhân. Cha con bà đã tâm huyết và cũng đã được biết như là những tấm gương; đã được phủ nhiều hào quang và đã được vinh danh. Tuy nhiên, giống như “tập thể hóa” đã tan rã từ lâu, việc bà tiếp tục nhân danh chủ nghĩa xã hội để làm ăn trong thời buổi ngày nay xem ra không còn thức thời cho lắm. Nhất là khi mà mọi giao dịch đều phải có phong bì và gặp lãnh đạo địa phương, dù cho mình là ai, thì cũng cần thưa gửi. Nhưng có lẽ số phận của bà Ba Sương cũng không đến nỗi nếu hàng ngàn hecta đất của Sông Hậu không bị các nhà kinh doanh dự án tính toán “quy hoạch, phân lô”. Chưa kể, trong thẳm sâu, các nông trường viên cũng muốn có mảnh ruộng riêng thay vì làm công ăn đong tiếp tục.
Có lẽ vì ít ai biết, ông chính là người chủ động “bình thường hoá” với Việt Nam ngay khi vừa nhậm chức Tổng thống. Nếu nỗ lực của ông không thất bại, Việt Nam- trong thập niên 70-80- đã mang một gương mặt khác.
Nghe nói Facebook, Twitter đã được những người nổi loạn ở Tân Cương và những người biểu tình ở Teheran sử dụng. Nhưng, xung đột ở Tân Cương là do những chính sách kéo dài liên quan đến vấn đề sắc tộc chứ không phải vì Tân Cương có Facebook. Biểu tình ở Teheran là do những ức chế của dân chúng dồn nén trong một thể chế hà khắc chứ không phải bởi Twitter.
Ở đâu mà Dân không thể tự do đi, đến thì ở nơi đó Nước không có chủ quyền. Nhưng, Nước không thể giữ chủ quyền bằng cách đưa Dân đến nhưng nơi không đảm bảo được an ninh cho họ. Người dân ra biển là để mưu sinh chứ không phải để hy sinh. Đó là lý do mà một số ngư dân đã phải bán thuyền bán lưới khi họ không tìm thấy an ninh cho dù ngoài biển khơi vẫn có rất nhiều tôm cá.
Khi có điều gì đó không bằng lòng với Chính phủ, những người có học hay trích dẫn: “nhân dân nào chính phủ ấy”. Quy kết như vậy thật không phải với nhân dân ở những nơi mà họ có rất ít “công lao”.
Những ai tiếp xúc với dân chúng, trí thức Việt Nam đều thấy rằng, chính những nhà báo bị “giật dây” này đến với họ dễ hơn và vì vậy chắc chắn đóng vai trò quan trọng hơn trong quá trình nâng cao dân trí, cải cách xã hội. Công cuộc đấu tranh cho một nuớc Việt Nam dân chủ sẽ do nhân dân trong nước quyết định. Do vậy đây là khối độc giả, khán giả quan trọng nhất.
Khi ký công văn với tư cách là Phó Chủ tịch tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu gửi Bộ Văn hoá và Tổng cục an ninh đề nghị xử lý hành vi của 2 thí sinh “có lời lẽ không đúng đắn” về cuộc thi Hoa hậu quý bà 2009, ông Võ Thành Kỳ, Phó Chủ tịch tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã đẩy một câu chuyện rất “chị em” trở thành chuyện quốc gia đại sự.
Đại tá Tân Tử Lăng giải thích: Thoạt đầu Mao làm “đại tiến vọt” để đưa Trung Quốc vượt qua các nước phương Tây hòng làm ‘lãnh tụ thế giới”. Khi thất bại, dẫn tới cái chết của hàng chục triệu dân thì Mao lại làm tất cả mọi việc để hòng che đậy những sai lầm ấy. Đại tá cho rằng: “Không có sai lầm của đại tiến vọt thì không có đại cách mạng văn hoá để bức hại Lưu Thiếu Kỳ, gạt bỏ Lâm Bưu, phế truất Đặng Tiểu Bình… nhằm đưa Giang Thanh lên nắm quyền. Theo Đại tá, Mao truyền ngôi cho Giang Thanh là bất đắc dĩ. Nhưng, Mao cần có hai thế hệ: Giang Thanh và Mao Viễn Tân, đủ để viết lại lịch sử, chối phắt trách nhiệm làm 37,55 triệu người chết đói.
Vụ xử ông Huỳnh Ngọc Sỹ quả là một “event” thành công. Dư luận có vẻ như tập trung vào mức án 3 năm thay vì nói tới khoản hối lộ lên tới hàng triệu đô la mà các quan chức PCI khai đã đưa cho ông Huỳnh Ngọc Sỹ. Vietnamnet coi như “vụ án nay đã được khép lại”. Nhiều người coi Toà và Viện là độc lập, bèn tranh cãi nhau xem Toà hay Viện nghiêm minh: Toà chỉ xử 3 năm trong khi Viện đề nghị 5 đến 6 năm tù ở.
Không rõ gần đây, Việt Nam đã “bắt chước Trung Quốc” những gì khiến tờ Nhân Dân Nhật Báo online, hôm 18-9-2009, đòi “Việt Nam cần thực sự nhớ ơn mô hình” của họ. Nhưng, điều mà bài báo này cho rằng: “Cải cách và mở cửa của Trung Quốc đã đóng vai trò “kim chỉ nam” cho quyết định của Việt Nam vào năm 1986” là không có cơ sở.
Đọc kỹ các văn kiện liên quan đến việc giải thể của viện IDS mới thấy, đó là một quyết định của những người có lòng tự trọng và dũng cảm. Nhìn vào danh sách những người ký tên vào bản tuyên bố, thấy, hầu hết trong số họ là những nhân vật từ lâu đã nhận được sự kính trọng của xã hội. Danh lợi không phải là điều họ hướng tới, vậy thì một khi những ý kiến phản biện tâm huyết của họ không còn được lắng nghe nữa, họ giữ cái viện ấy làm gì.
Mươi ngày trước, tôi vô tình đọc được một bình luận về bài Bức tường Berlin trên blog QUECHOA. Tác giả của bài bình luận này là Trương Thái Du. Điều khiến tôi bỏ chút thời gian đọc thêm các bài viết của Du là khả năng viết lách và tư tưởng của ông này..
Tôi viết không vì bênh vực Huy Đức, đơn giản chỉ là nhận xét. Bởi với tôi, Huy Đức chứa nhiều dấu hỏi.
Báo chí phải là nơi chuyển tải những bài viết trung thực, những phân tích, phản biện; những bài viết mà người làm báo tin rằng nó phụng sự xã hội.
Bàng bạc trong bài viết “Bức tường Berlin” là nỗi niềm độc lập tự do. Nó không khác mấy nội hàm ở khẩu hiệu “Không có gì quí hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh. Song, nếu Hồ Chí Minh đào sâu nỗi niềm độc lập – tự do trong Tuyên ngôn Độc lập của mình thì rất tiếc, nhà báo Huy Đức lại sử dụng “độc lập, tự do” như một cái cớ khập khiễng để nhẩy múa trên những sử liệu một chiều.
Lịch sử nào?
Bản tin này được đang trên website Đảng Cộng Sản: http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30127&cn_id=358460
Osin hoàn toàn không hiểu điều gì xảy ra. Chỉ dẫn lại đây, hy vọng các anh trong BBT đọc được thì coi lại.
Khi còn đương chức thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, ông Đặng Hùng Võ nói trong một hội thảo: chế độ “hai sổ” đưa lại cho các bộ một nguồn thu không nhỏ từ tiền độc quyền bán “phôi”- mẫu in sẵn các cuốn sổ này. Ông Võ không ngần ngại thừa nhận, “nguồn thu” ấy cũng là một động cơ để duy trì hai sổ. Có lẽ không ở đâu như Việt Nam, các cơ quan quyền lực tối cao lại phải tiêu tốn rất nhiều thời gian để quyết định một vấn đề thuộc về kỹ thuật.
Những vụ bắt bớ cho thấy Việt Nam nhạy cảm như thế nào khi nói tới quan hệ với Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh thách thức mà chính quyền Hà Nội phải đối mặt khi muốn kiểm soát dư luận trong kỷ nguyên mà sử dụng Internet đang bùng nổ -- và ranh giới mà chính quyền vạch ra cho các nhà bất đồng chính kiến có tổ chức.
Bắt đầu từ những năm 80, những người giỏi nhất đã không còn thi vào ngành sư phạm. Những người giỏi còn lại thì bị thách thức trước thu nhập ở ngành khác cao hơn. Một cô giáo có trình độ tiếng Anh nói và nghe được có thể tìm việc 5-6 trăm “đô” làm sao có thể yên tâm dạy với 2 triệu đồng/tháng. Đã là nhà giáo thì phải có lương tâm, nhưng nhà nước cũng không thể để cho những người làm “nghề cao quý” phải quan tâm “lương tháng”.

Mình từ Sài Gòn về, vào mạng thấy bác Hữu Thọ nói, hơi buồn. Đến bấy giờ bác vẫn còn lo dân phân tâm về những phản biện.
Có quá nhiều cái “chả ra làm sao” quanh chuyện này.
Osin thì quá kiệm lời: “Tôi thừa nhận, đây là một thời kỳ khó khăn”, rồi lại: “Nhưng đây là thời gian thích hợp để tôi viết lại một vài chương sách”.
Khi BBC liên lạc, ông Huy Đức đã từ chối bình luận và nói rằng “nếu muốn nói gì sẽ đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong nước” về trường hợp của ông.
Trong khi đó, BBC và ông “sếp” Công Khanh th
Báo Sài Gòn Tiếp Thị xác nhận với BBC đã "ngừng hợp đồng" với nhà báo Huy Đức, vì cho rằng "tòa soạn không cùng quan điểm" với bài báo của ông.
Báo chí, cho dù của nhà nước thì vẫn là một tài sản của xã hội. Báo chí phải là nơi chuyển tải những bài viết trung thực, những phân tích, phản biện; những bài viết mà người làm báo tin rằng nó phụng sự xã hội.
Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.