Các thống kê đưa ra trong buổi họp ngày 14/5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho thấy kinh tế Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng.
Trong quý một năm nay, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam so với cùng kỳ năm 2012 ở mức 4,89%.
Điều quan trọng hơn là việc bãi bỏ những hình thức bảo kê thì cần thiết để bắt buộc các công ty nhà nước tạo ra giá trị hơn là đục khoét thị trường trong nước. Nhưng các ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước vẫn có đủ ảnh hưởng để chống đối việc cải cách, cho đến khi nào tình trạng này thay đổi, bàn thảo về thay đổi cơ cấu cũng chỉ đến thế mà thôi.
Nhìn lại suốt thời gian qua, hầu hết các chính sách liên quan đến thị trường vàng đều có chung một kết quả: người dân phải chịu thiệt thòi. Đầu tiên họ mất tiền chuyển đổi từ vàng miếng phi SJC sang vàng miếng SJC ngay khi thông tin về chính sách độc quyền thương hiệu vàng này được tung ra trên thị trường. Sau đó họ tiếp tục mất tiền vì mua phải vàng nhái, vàng giả thương hiệu SJC. Đến khi đã nắm vàng SJC trong tay thì lại đối mặt với rủi ro khi giá vàng trong nước luôn cao hơn giá thế giới 4 - 5 triệu đồng/lượng. Đến lúc này, họ một lần nữa lại đối diện với nguy cơ mất tiền nếu quy định trên được thông qua.
Cuối cùng cả Việt Nam lẫn Ấn Độ đang đi dây thăng bằng trong việc tìm cách giảm bớt hiện tượng người dân trữ vàng trong giai đoạn lạm phát cao và kinh tế bất ổn, trong khi lại tìm cách tránh nảy sinh tình trạng chợ đen.
"Thống đốc phải làm sao điều hành lạm phát thấp mà vẫn duy trì tăng trưởng. Đây không phải là đòi hỏi duy ý chí, mà là mục tiêu kép của cả hệ thống. Anh kiểm soát lạm phát tốt nhưng nếu tăng trưởng dưới 5% thì không tạo thêm công ăn việc làm, thì thất nghiệp", Thủ tướng nhắn nhủ với Thống đốc.
TRONG 6 NĂM (2006 – 2012), ĐỒNG TIỀN VIỆT NAM MẤT GIÁ HƠN 50%. Nói cách khác, hơn 50% tài sản của người dân được chôn dưới 3 tấc đất từ năm 2006 tới nay sau 6 năm đã bị bốc hơi đi hơn một nửa. Thật vô cùng khủng khiếp. Vậy AI LÀ THỦ PHẠM CƯỚP TIỀN của gần 90 triệu người dân Viêt Nam một cách tinh vi, trắng trợn và dã man đến vậy? Câu trả lời, đó chính là LẠM PHÁT, hệ quả của của sự gia tăng phi mã của giá thuốc, giá thực phẩm, giá dịch vụ giáo dục,…
Trong buổi phỏng vấn này, Thủ tướng đã trao đổi với Bloomberg về rất nhiều vấn đề. Trong đó nổi bật là kiềm chế lạm phát năm tới, tăng thu hút đầu tư nước ngoài, cải tổ doanh nghiệp nhà nước, thanh lọc hệ thống ngân hàng với chi phí thấp nhất, tránh để xảy ra đổ vỡ có hệ thống.
Cách đây hơn một thập kỷ trước, nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là nóng nhất châu Á. Một cuộc khủng hoảng kinh tế cộng thêm sự quản lý yếu kém về tất cả mọi mặt đã đẩy đất nước đến bờ vực của sự hủy hoại. Hiện nay, tất cả mọi việc đều tùy thuộc vào chính phủ xem họ có thể cứu nguy những gì còn lại hay không.
Tuần qua, vấn đề tăng lương lại nóng lên khi được đưa ra bàn trước Thường vụ Quốc hội. Theo lộ trình cải cách tiền lương, từ ngày 1-5-2013, lương tối thiểu sẽ tăng từ 1,05 triệu đồng lên mức 1,3 triệu đồng/tháng. Thế nhưng Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ cho biết không thể bố trí nguồn ngân sách để thực hiện lộ trình tăng lương, “trừ phi Thường vụ Quốc hội đồng ý cho in thêm tiền”. Phải nói thẳng, đây là một tuyên bố không nghiêm túc!
“Không có dư địa để tăng thêm nữa, trừ phi Thường vụ Quốc hội đồng ý cho in thêm tiền” - ông Huệ “chốt” lại.
Kể từ năm 2008, chính phủ do ông Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu chưa bao giờ đưa được tăng trưởng GDP Việt Nam lên mức 7%/năm, chứ chưa nói đến tăng trưởng hai con số. Bất ổn kinh tế vĩ mô là vấn đề mà chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phải giải quyết kể từ năm 2008 trong cương vị là người đứng đầu chính phủ, ngoại trừ hai năm đầu yên ổn với tốc độ tăng trưởng trên 8%/năm.
Những đồng tiền lẻ 100, 200 đồng đã trở thành “cổ vật”. Lạm phát đã khiến chúng không thể mua bất cứ thứ gì, kể cả một cốc trà đá, một mớ rau, hay một gói tăm người mù. Trừ… cổ phiếu.
Sự thật thà của vị thứ trưởng đang cho thấy, lạc quan nhất, đúng tính toán nhất thì cũng phải trong ít nhất 3 năm nữa lương tối thiểu mới đáp ứng được cuộc sống tối thiểu.
Và trong khi chờ đợi lương “hết giả vờ”, không phải chỉ là các giáo sư, tiến sĩ, mà hàng chục triệu lao động vẫn sẽ phải ở vào cảnh: Nhà nước vờ tăng lương. Chỉ khác với các giáo sư, tiến sĩ là người lao động thì không thể vờ làm việc, không thể chạy xô, không thể “chân trong chân ngoài”. Cuộc sống đó là gì nếu không phải là sống “ảo”.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Việt Nam trong tháng Chín vừa được chính quyền trong nước công bố cho thấy mức tăng cao nhất trong vòng hơn một năm qua.
Tổ chức đánh giá tín nhiệm Standard & Poor’s (S&P) vừa cải thiện mức đánh giá rủi ro quốc gia đối với ngành ngân hàng (BICRA) của Việt Nam. Cùng với đó, 3 ngân hàng thương mại của Việt Nam cũng vừa được tổ chức này nâng hạng tín nhiệm.
“Rủi ro tiềm ẩn lớn nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện tại là vấn đề sổ sách thiếu minh bạch. Họ báo cáo với Ngân hàng Nhà nước một sổ, còn làm cho mình một sổ riêng. Đây là vấn đề báo động trong hệ thống ngân hàng về quản trị rủi ro”, chuyên gia tài chính độc lập, TS. Phạm Đỗ Chí nhìn nhận.
Giới đầu tư ngoại quốc, đối diện với chi phí lao động và nguyên vật liệu tăng cao, bắt đầu lo sợ rằng Việt Nam đang mất đi lợi thế giá thấp. Bốn nhà đầu tư nước ngoài than phiền trong các cuộc phỏng vấn diễn ra hai năm qua, rằng các doanh nghiệp quốc doanh đã lạm dụng địa vị “người gác cổng trong nghề” có mối liên hệ mật thiết tới chính phủ. “Họ là ung nhọt” – môt luật sư kinh doanh người Mỹ ở TP.HCM nói. “Chẳng ai muốn dây dưa với đám ấy”.
Thứ nhất, trong thời gian dài, cung tiền tăng rất nhanh, cụ thể trong suốt 15 năm trở lại đây, tăng trưởng tín dụng luôn ở mức trên 30%/năm. Thứ hai, trong khi cung tiền tăng như vậy nhưng tăng trưởng GDP lại không tương xứng, tăng trưởng trung bình 7%/năm và thời gian gần đây chưa đến con số đó.
Việt Nam đang có tiến bộ trong việc chống trả nạn lạm phát nhanh nhất chấu Á khi giá cả tăng ít nhất trong vòng 11 tháng qua, việc này có thể giúp tăng cường sự tin tưởng vào chính sách kinh tế khi quốc gia này đang vất vả để thúc đẩy đầu tư nước ngoài.
Trong lúc nhân dân không thể trông chờ vào sự “cố gắng chính trị” thì đành phải tự cứu mình bằng mọi giá: lao lực vì nghèo; kiếm tiền bằng mọi giá; tự bảo vệ dù phải chiến đấu bằng súng hoa cà hoa cải… Viết đến đây chợt nhớ bình ga nhà mình vừa gọi là 435.000 đồng. Hồi tháng 12/2011 là 350.000 đồng. Và nhà hàng xóm lấy hồi áp tết là 400.000 đồng. Nhân dân phải “cố gắng nhọc nhằn” vậy…
Bị dồn dập bởi nạn lạm phát triền miên ở vào hàng chục, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế chậm chạm và tình trạng đình công của giới lao động, quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam đang có nguy cơ thất bại. Trong khi tháng này Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh sự cần thiết để giữ vững mức tăng trưởng “nhanh chóng và lâu dài”, những câu hỏi đang đặt ra về việc liệu Việt Nam có thể đạt được cả hai thứ trong cơn lốc kinh tế tài chính của thế giới.
Ngoại giao nước ngoài và các chủ công ty nói rằng chính phủ bị kẹt trong việc tạo cầu nối, phát triển tốt mối quan hệ giữa người lao động và giới chủ công ty, mặt khác lại e sợ rằng các tổ chức lao động độc lập có thể trở thành mối đe dọa cho nền chính trị một đảng.
Theo Vụ trưởng Vụ Lao động và Tiền lương (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) Tống Thị Minh thì mặc dù tiền lương và thu nhập có tăng song chủ yếu bù trượt giá, mức độ cải thiện tăng lương không đáng kể, yếu tố đóng góp chủ yếu cho tình hình tăng lương là do Chính phủ đã thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu từ 1/10/2011.
Vì sao các ngân hàng vẫn lãi khủng trong năm mà sản xuất đình đốn vì khan vốn, doanh nghiệp điêu đứng vì lãi suất cao, nhân dân khốn khổ vì lạm phát phi mã? TS Lê Thẩm Dương từng đánh giá "lợi thế" của các Ngân hàng thương mại "cơ bản vẫn do độc quyền trong việc cung cấp nguồn vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế". Thị trường chứng khoán, về lý thuyết là kênh huy động trung và dài hạn nguồn vốn, nhưng, bỏ qua "màu đỏ thảm hại" và các kỷ lục về sự tuột dốc, phá đáy trong năm 2011, ngay cả trong điều kiện bình thường, TTCK và các kênh huy động khác chỉ đáp ứng khoảng 3% nguồn vốn. "Bất kỳ hoạt động nào nếu là độc quyền thì vẫn chiếm ưu thế và đều có lợi nhuận cao"- TS Dương nói.
Gạt bỏ chuyện lý thuyết qua một bên, rõ ràng tâm lý của đại đa số dân Việt Nam là ăn chắc mặt bền, tức chịu khó dành dụm để phòng lúc khó khăn (dĩ nhiên, trừ một số đại gia mới nổi, bỏ tiền tỷ mua xe hơi đắt tiền). Vì thế, giới quản lý nên hiểu tâm lý này khi đối diện với câu hỏi: Có một ít tiền nên làm gì đây? Đừng nói với người hỏi những khái niệm lãi suất thực dương hay thực âm, họ không quan tâm đâu. Người dân rất nhạy bén với những tính toán liên quan đến lợi ích của họ; họ sẽ gởi tiền đồng vào ngân hàng nếu lãi suất huy động đáp ứng được kỳ vọng của họ, là sau khi trừ lạm phát, họ vẫn bảo tồn được đồng vốn phần nào. Ngược lại, họ sẽ đi tìm kênh khác.