Nguyễn Ngọc Già - Làm sao giải quyết "công hàm 1958" của ông Phạm Văn Đồng?

Nguyễn Ngọc Già
Chia sẻ bài viết này

Dư luận tiếp tục rất nóng về quan hệ giữa Trung Quốc - Việt Nam kể từ vụ cáp tàu Bình Minh 2 "bị cắt đứt" hôm 26/5/2011. Hình ảnh chắc chắn, dẻo dai của sợi cáp bị cắt đứt vô hình chung báo hiệu mối quan hệ "cơm thiu canh thối" giữa Nhà cầm quyền TQ và Nhà cầm quyền VN?

Một thông tin, có phải là thông minh không? khi trang VNExpress cho biết: Nga sẽ giao 6 chiếc tàu ngầm cho Việt Nam vào năm 2014 và không quên báo rằng "...đây là một trong những hợp đồng lớn nhất lịch sử xuất khẩu khí tài hải quân của Nga"(1), và rằng đó là loại tàu "lớp kilo 686". Thông tin này phải chăng là một cái nghếch mặt sưng xỉa để nói chuyện với anh hàng xóm? Vấn đề chẳng lẽ được tính bằng "lớp trăm cà ram", "lớp kilo", "lớp tạ", "lớp tấn" ở đây? Phải chi đạt được hình ảnh anh chàng võ biền với sức trâu hùng hục đâm sừng vào núi, cũng còn hay, đằng này, chỉ phô bày thân thể gầy còm, ẻo ợt của anh chàng vô công rỗi nghề, lười biếng tập thể dục bỗng chốc chạy ra anh hàng xóm oang oang nói: "mày có đồ chơi tao cũng có nè!". Nghe mà thảm hại!

Tranh chấp Biển Đông vẫn được cả khu vực và toàn thế giới khuyên sử dụng bằng con đường đối thoại, thương lượng ôn hòa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau của nhiều phía.

Ông Thứ trưởng ngoại giao Hồ Xuân Sơn trong tư cách "đặc phái viên" sau chuyến viếng thăm Trung Quốc gần đây, đã để lại nhiều ý kiến thắc mắc, nghi ngờ mà tác giả "BS Ngọc" vừa có bài phân tích (2) để đưa ra kết luận về "bài học thiếu minh bạch" có nguy cơ lặp lại trong việc giữ gìn bờ cõi. Hình ảnh Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc hợp với "Trọng Thủy thời nay" đã được tác giả cảnh báo, vẻ như đang dần lộ rõ?

Song song đó, trang RFA hôm 1/7/2011 đã đặt dấu hỏi cho bài "Bí mật đồng thuận Việt Nam Trung Quốc?" (3). Cùng ngày, trên trang BBC, bạn đọc cũng gặp thêm một dấu hỏi khác bằng bài "Trung Quốc 'cắt cáp' lần ba?" (4)

Tất nhiên, với tính khí "thích ăn theo", người viết bài cũng "bày đặt" thêm một dấu chấm hỏi nữa: "Hai nhà cầm quyền TQ, VN có vẻ thích dư luận xài dấu chấm hỏi hơn là dấu chấm dứt khoát trong quá trình giải quyết tranh chấp?"

Đúng. Chỉ có minh bạch, công khai, trung thực là tiền đề giải quyết mọi tranh chấp Biển Đông, nếu cả hai nhà cầm quyền VN và TQ thật tâm muốn cung cấp cho nhân dân hai nước một cuộc sống hòa bình (chưa dám nói dân chủ, tự do ở đây, vì bài viết này không có ý định lồng ghép "ý đồ đen tối" nào cả).

Công hàm 1958 do ông Phạm Văn Đồng ký công nhận cái gọi là "12 hải lý" gì đấy, một lần nữa được mang ra ở mức độ rộng rãi và quy mô hơn đứng về mặt công luận, mặc dù cái công hàm này cách đây khoảng 4 năm đã được tung vô tội vạ ở Quận 5 Tp.HCM như nhiều người dân vẫn còn nhớ. Tuy nhiên phải công nhận, chỉ có internet mới đủ khả năng để làm cú "quảng bá thương hiệu Phạm Văn Đồng" nhanh chóng nhất mà nền công nghệ thông tin được xem là ngành phát triển như vũ bão tại VN ít nhất 3 năm qua.

Ai tung ra công hàm này? Tung ra vì ý đồ gì? Tại sao phía Việt Nam không hề có bất kỳ một tuyên bố gì về bản công hàm, trong khi phía Trung Quốc đã nhắc đến nhiều lần mặc dù chưa phải là cấp cao nhất hay cấp ngoại giao chính thức?

Điều đáng tiếc khi hai nhân vật có chút tiếng tăm ở Việt Nam trong vài năm qua là ông Dương Trung Quốc - "Nhà sử học" và ông Trần Lâm - "Luật sư, nguyên Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao", đã trả lời phỏng vấn phóng viên Nam Nguyên như sau (trích):

Ông Dương Trung Quốc:

"Đúng là có một số chi tiết làm cho công luận bức xúc cần được xác minh xem là đúng hay không đúng, về việc có đúng nội dung hai bên thỏa thuận không thì tôi nghĩ hai bên thỏa thuận những vấn đề chung thôi, còn những cách đặt vấn đề như kiểu Trung Quốc nhắc lại thỏa thuận của ông Phạm Văn Đồng cách đây 50 năm, tôi nghĩ rằng Trung Quốc cố tình khai thác và lợi dụng chi tiết này.

Việc này không phải lần đầu, đã từng có thời kỳ văn bản này được phát tán ở vùng Chợ Lớn TP.HCM một cách khá rộng rãi và bừa bãi. Chúng tôi nghĩ là Trung Quốc luôn luôn lợi dụng chi tiết ấy để xuyên tạc.” và, ông Quốc cho biết thêm:

"Như thế tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng đề cập tới Hoàng Sa Trường Sa về nguyên tắc mà nói chủ quyền và tuyên bố có giá trị pháp lý là không phải của Hà Nội mà là của Saigon.

Nói như thế hoàn toàn không có nghĩa phân chia lãnh thổ Việt Nam bởi vì Hiệp định Geneve qui định nước Việt Nam là một quốc gia thống nhất. Nhưng thực thi quyền hạn của mình theo luật quốc tế thì tôi nghĩ rằng Hoàng Sa Trường sa vào thời điểm đó nằm trong khu vực mà chính quyền VNCH là người phát ngôn có đủ tư cách pháp nhân nhất.

Vì thế chuyện Trung Quốc bây giờ nhắc lại chuyện 50 năm trước thì hoàn toàn phải đặt cho đúng vào bối cảnh lịch sử lúc đó."

Ông Trần Lâm phát biểu:

"Cái công hàm ấy tôi được đọc cách đây ba bốn năm rồi không phải mới đây, người ta bảo cái công hàm ấy không có giá trị. Bây giờ Trung Quốc cứ nói là có giá trị...

Chuyện này hiện nay cũng mắc mứu lớn lắm. Việt Nam nói chuyện ông Phạm Văn Đồng chỉ là một chuyện vui vẻ thôi chứ nó không có giá trị pháp lý gì..."

Trong bối cảnh hừng hực hôm nay, người viết bài không có ý định cung cấp cho những ai "nóng đầu" hay "lạnh tim" một góc nhìn dễ bị đánh giá là chia rẽ, nhạy cảm hay thiếu khôn ngoan. Tuy vậy, phải nhìn thẳng vào sự thật bằng nhân sinh quan vận động khi phân tích, đánh giá cái công hàm gây quá nhiều tranh cãi và đầy tai tiếng.

Hãy thôi cái cách "tốt khoe xấu che", hãy dừng cái kiểu "đậy điệm, giả lả, phớt lờ" theo tư duy tráo trở và lật lọng hết sức thô thiển. Chuyện Quốc gia, biên giới, lãnh thổ mà cả ông Lâm và ông Quốc nói như chuyện đùa! Hay hai ông tưởng Hoàng Sa - Trường Sa là cái biệt thự, chiếc xe Ferrary thích thì xài, không thích thì bán!!! Khi bỗng nhiên thấy uổng, thấy hớ thì tìm cách đòi lại và phát biểu như con trẻ!

Cả "quý ngài" Hồ Xuân Sơn và các "quý ngài" trong Bộ Chính Trị cần phải hiểu, khi Trung Quốc nói:

thực hiện nghiêm túc thỏa thuận của cấp cao hai nước, không có những việc làm gây phức tạp thêm tình hình, không để vấn đề Biển Đông ảnh hưởng đến quan hệ hai nước” thì "quý ngài" làm ơn làm phước hiểu giùm rằng:

THỎA THUẬN CỦA CẤP CAO HAI NƯỚC nghĩa là có cả PHẠM VĂN ĐỒNG, có cả CHU ÂN LAI trong đó.

"Quý ngài" cứ theo cái kiểu "tư duy nhiệm kỳ", nên chẳng tài hiểu hiểu thâm ý sâu xa của phía Trung Quốc. Các ngài cũng cần phải nhớ người Trung Hoa có câu: "Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy" mà tự vấn lại quan hệ ngoại giao của đôi bên. Theo thiển ý của tôi, trung thực, thẳng thắn, khảng khái nói với Nhà cầm quyền Bắc Kinh rằng:

Kính thưa quý vị. Trước tiên chúng tôi chân thành xin lỗi quý vị về công hàm 1958 của ông cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Tuy nhiên, Quý vị cũng có lỗi vì mua HÀNG QUỐC CẤM CỦA NƯỚC CHÚNG TÔI, chính quý vị biết rõ điều đó. Chúng tôi cũng biết rõ điều đó. Bây giờ, nhân danh Dân Tộc Việt Nam, chúng tôi tuyên bố trước toàn thế giới: Món hàng quý vị đang nắm trong tay hoàn toàn vô giá trị.

Lịch sử Việt Nam đã dám chỉ thẳng ra Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống thì bây giờ một lần nữa, lịch sử Việt Nam dù đau đớn nhất, vật vã nhất cũng phải dám chỉ thẳng ra một Phạm Văn Đồng.

Thà đau một lần, thà nhục một lần rồi thôi!

Có lẽ, không còn cách nào khác để giải quyết "cái công hàm" vô cùng tai hại đó. Nếu không công khai, minh bạch, trung thực, Việt Nam sẽ tiếp tục bế tắc trong việc giải quyết tranh chấp với Trung Quốc về Biển Đông.

Nguyễn Ngọc Già
_______________

http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/07/nga-giao-tau-ngam-cho-viet-nam-vao-nam-2014/ (1)

http://danluan.org/node/9227 (2)

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/agment-on-east-s
ea-bt-vn-cn-nn-07012011161316.html (3)

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/07/110701_china_thirdincident.shtml (4)

Khách gửi hôm Chủ Nhật, 03/07/2011
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Hoàng Xuân Phú - Quyền biểu tình của công dân

Vương Trí Nhàn - Chống tham nhũng kiểu Chí Phèo

Giáp Văn Dương - Thoát Trung Luận

Bằng Công - Nhân bài "Trí thức và một vài đặc điểm của trí thức" của GS Thuyết: Vài ý “phản động” về trí thức

Nguyễn Ngọc Già - Học lại hai tiếng "Đồng bào"


liên minh Thành Đô (khách viếng thăm) gửi lúc 14:06, 12/07/2011 - mã số 37001

Công hàm 1958 dù sao vẫn là chuyện nhỏ. Đề nghị bán Ngọc Già viết tiếp bài nữa "Làm sao giải quyết Liên minh Thành đô": đây mới là mấu chốt cho nhiều vấn đề VN, kể cả biển và đảo.

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 12:58, 12/07/2011 - mã số 36998
Hồng Sương viết:

Vấn đề CS bán nước thì tôi thấy thời gian ông Lê Duẫn nắm quyền đã chứng tỏ còn có người CS tuy sai lầm khi đánh VNCH nhưng không đến đổi chịu ...bán nước cho TQ ! Ngày nay cũng vậy sẽ có người CSVN tuy còn bậy khi còn cho có 'ngụy ta' nhưng không chịu để mất TS-HS.

Trần thị Hồng Sương

Tôi hoàn toàn đồng ý với Bà Trần Thị Hồng Sương. Trong số tất cả các nhà lãnh đạo cao cấp nhất trong các Bộ Chính Trị ĐCSVN từ trước đến nay, theo tôi, ông Lê Duẫn là người có tinh thần YÊU NƯỚC cao nhất, hơn hẳn những người như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp v.v... Mặc dù ông, như tất cả các nhà lãnh đạo CSVN khác, đã phạm rất nhiều sai lầm (thí dụ như đã ngu dốt đưa vào bản Hiến pháp 1978 (?) của nước CHXHCNVN mục nói rằng Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của VN, hoặc vụ tàn nhẫn đuổi những người Việt gốc Hoa ra khỏi nước sau năm 1975 v.v...), ông đã tỏ ra không nhượng bộ TQ trước tham vọng xâm lấn đất đai, biển đảo của Tổ quốc ta của phía TQ.

Không may cho nước ta, Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, và nhóm lãnh đạo kế vị như Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, đã đặt sự sống còn của Đảng họ lên trên sự tồn vong của Tổ quốc, và quay lạị quỵ lụy, khấu đầu thần phục TQ, nên nước ta mới lâm vào ngõ cụt ngày nay, với nguy cơ bị trở thành một tỉnh hay quận huyện của TQ.

Theo ngu ý của tôi, Lê Duẫn là người đã phản kháng mạnh mẽ việc ký mật ước nhượng Hoàng Sa và Trường Sa cho TQ để đổi phương tiện hầu có thể “giải phóng” miền Nam trong các buổi họp của Bộ Chính Trị Đảng Lao Động VN trong thời gian khoảng từ 1956 đến 1958 bàn về việc này, nhưng bị ông Hồ và những người còn lại bác bỏ theo nguyên tắc đa số thắng thiểu số. Ông đã mang nặng trong tim mối lo này về ĐẠI HỌA do Công hàm ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng sẽ gây ra cho Tổ quốc. Vì thế, sau khi thâu tóm được miền Nam và thống nhất đất nước, ông đã tìm cách CHUỘI món nợ giao HS, TS cho TQ như đã hứa trong mật ước bằng cách TRỞ MẶT với TQ, và nhanh chóng liên minh với Liên Xô để CHẠY LÀNG. TQ đã vô cùng tức tối trước hành động này của ông, nên đã căm hận, chửi bới VN vô cùng thậm tệ, và từ đó đến nay, đã không từ bỏ bất cứ hành động tàn ác nào đối với ngư dân và nhân dân VN, và đã làm đủ mọi cách để TRIỆT TIÊU đất nước ta, và XÓA BỎ tên nước VN trên bản đồ thế giới.

Hồng Sương (khách viếng thăm) gửi lúc 09:11, 12/07/2011 - mã số 36991

Xin bạn Nguyễn Nghĩa 11 xem thêm bài phỏng vấn thạc sĩ Hoàng Việt trên VOA như sau :

Việt Nam Cộng hòa có phải là một quốc gia không? Là một quốc gia chứ! Là một quốc gia bình thường và thậm chí năm 1957 Liên hiệp quốc còn định đưa trở thành một thành viên chính thức của Liên hiệp quốc, nhưng mà sau đó có một phiếu phủ quyết của Liên Sô. Nếu không thì [đã được gia nhập Liên hiệp quốc rồi]. Thật ra Việt Nam Cộng hòa vẫn là một quốc gia bình thường. Và rõ ràng là anh không thể tuyên bố hay cho nhận cái gì của cái không phải là của mình, không do mình quản lý. Đó là điều thứ nhất.

Điều thứ hai là công hàm này cũng chỉ nói chung chung là công nhận hải phận 12 hải lý. Cho nên sự diễn giải đấy có lẽ nếu đưa ra tòa án quốc tế thì người ta phải xem trong bối cảnh nào, có đúng là ý chí tự nguyện không, và xem xét như thế thì sẽ thấy rằng có nhiều vấn đề mà như tôi đã trình bày với anh – trong bối cảnh như thế và với những tuyên bố như thế và với hiệp định Geneve chia như thế, thì có khả năng là tuyên bố này chẳng có giá trị pháp lý gì nhiều cả.

Qua nhận định đó và từ lâu tôi cho rằng ngày nay TQ muốn tìm kẻ bán nứơc trong đảng CS để tóm thâu TS-HS hơn là tranh luận pháp lý vì pháp lý không có trong văn bản mơ hồ như thế nhưng kẻ rắp tâm bán nước buôn dân trong đảng CS hiện nay thì có và dễ mua hơn. Cụ thể như Nguyễn tất Thành ngày xưa ngu ngốc chẳng biết gì về tài nguyên không khác gì ông ba Náo ngày nay nói đó (TS-HS) chỉ là "bãi hoang chim ỉa" !
TQ không muốn quốc tế hóa vấn đề biển đông là vì không có cơ ở pháp lý .

Nếu CSVN yêu nước biết đúng sai phải biết tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa CS sai lầm và gia nhập Nato, như các nước Đông Âu công nhận giai đoạn VNCH là đúng và theo Mao là sai lầm như LX công nhận theo CS là sai lầm để dứt khoát chẳng có gì hàm ơn TQ mà cố giử tình hửu nghị. Làm như thế cũng hòa giải được dân tộc chia rẻ! Phải làm như bác Nguyễn Hộ và nhóm cựu kháng chiến của MTGPMN đã làm. Thái Lan cũng ở rất xa Mỹ song không ai dám đụng đến là sao mà CSVN không làm theo ?

Vấn đề CS bán nước thì tôi thấy thời gian ông Lê Duẫn nắm quyền đã chứng tỏ còn có người CS tuy sai lầm khi đánh VNCH nhưng không đến đổi chịu ...bán nước cho TQ ! Ngày nay cũng vậy sẽ có người CSVN tuy còn bậy khi còn cho có 'ngụy ta' nhưng không chịu để mất TS-HS.

Tôi thậm ghét Bà Bình vì nằm trong nhóm chịu bán nước vì khi hòa đàm Paris Tổng thống Nguyễn văn Thiệu yêu cần Bà ta lên tiếng tuyên bố HS là của VNCH vùng đất chung của MTGPMN và VNCH mà bà ta câm như hến vì nghe theo CS miền Bắc ! Khốn nạn thế, ngu ngốc thế, ham danh phận là thế !

Trần thị Hồng Sương

Phan Sơn (khách viếng thăm) gửi lúc 21:16, 07/07/2011 - mã số 36957

Người Việt tại Đức sẽ biểu tình

Lời kêu gọi được phát đi bởi một số tờ báo Việt ngữ tại Đức. Theo đó, một cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc sẽ được tổ chức vào ngày 9/7/2011 tại Quảng trường Postdamerplatz, 10758 Berlin.

Ban Tổ Chức đưa ra lời kêu gọi này sau một thời gian chuẩn bị nhất định và “được sự cổ vũ, ủng hộ của bà con người Việt nhiều nơi trên toàn nước Đức”. Cuộc biểu tình cũng đã nhận được sự cho phép của cơ quan Cảnh sát Berlin.

Lời kêu gọi hướng tới tất cả những người Việt Nam yêu tổ quốc, trăn trở với vận mệnh nước nhà, không phân biệt chính kiến “cờ đỏ” hay “cờ vàng”. Tuy vậy, Ban Tổ Chức cũng lưu ý, cờ sử dụng trong lúc biểu tình là cờ đỏ sao vàng và những biểu ngữ, khẩu hiệu sẽ do các bạn sinh viên chuẩn bị và dịch thuật dưới sự hướng dẫn của Ban Tổ Chức. Các biểu ngữ sẽ dùng tiếng Việt, Đức, Anh và Hoa. Những người không ủng hộ cờ đỏ vẫn có thể tham dự với biểu ngữ và hình bản đồ tổ quốc - Ban Tổ Chức lưu ý như vậy.

Những người tổ chức cũng kêu gọi bạn bè Đức cùng tham dự và các cơ quan truyền thông nước sở tại tới đưa tin.

Trong bản thông báo, những người tổ chức kêu gọi một thái độ ôn hòa, lịch sự, tôn trọng luật pháp của Đức, chấp hành nghiêm điều luật biểu tình do cảnh sát Đức yêu cầu. Chấp hành mọi hướng dẫn, quy định của Cảnh sát Đức và Ban chỉ đạo biểu tình. Đồng thời, do không muốn làm tổn hại mối quan hệ giữa cộng đồng người Việt ở Đức và cộng đồng người Trung Quốc tại đây, Ban Tổ Chức kêu gọi không phát tờ rơi hay dán biểu ngữ tại các khu trung tâm thương mại, nơi có đông đảo bà con từ hai quốc gia này làm ăn, buôn bán.

Được biết, đây là cuộc biểu tình chống Trung Quốc lần đầu tiên của kiều bào ở Đức dưới màu cờ đỏ. Một cuộc biểu tình khác dưới cờ vàng 3 sọc đỏ đã được tổ chức trước đó 1 tháng vào đúng ngày người Việt ở Hà Nội và Sài Gòn biểu tình lần đầu, 5/6/2011. Tuy vậy, theo quan sát, cuộc biểu tình đó đã không thu hút được đông đảo người tham dự.

Hôm 2/7 vừa rồi, học sinh và sinh viên tại Hà Lan và Vương quốc Bỉ cũng đã tổ chức biểu tình chống Trung Quốc. Tương tự như các cuộc biểu tình đã diễn ra tại Nhật và Pháp trước đó.

nguoiviet.de

Bần-Nông (khách viếng thăm) gửi lúc 15:02, 07/07/2011 - mã số 36944

Xin bạn vào website nầy để xem: http://paracels74.tripod.com/conghambannuoc.htm

VN2006A (khách viếng thăm) gửi lúc 14:27, 07/07/2011 - mã số 36941
Tháng_Chạp viết:

common sense = cảm nhận chung (đúng ra là phổ biến, theo số đông). Ví dụ: đa phần mọi người vẫn coi hôn nhân đồng tính là xấu, thì đó là một common sense.

Đúng ra phải tác giả phải dùng “the sense of the majority” (cảm nhận của đa số) mới chính xác. Vì rất ít khi tất cả đều có chung một cảm nhận.

Có lẽ dịch là cảm nhận chung như bạn Tháng Chạp là chuẩn nhất!!!

Common sense là cảm nhận của người bình thường, khỏe mạnh (về lý trí). Có người bệnh hoạn về lý trí, có người khỏe mạnh về lý trí, nhưng không "bình thường" như các luật sư chẳng hạn, làm sự việc phức tạp hơn so với cảm nhận, đánh giá của người thường.

Trích dẫn:
Yet the SRV’s contention that it is a composite of two previously existing states defies the common sense, political facts.

Biện hộ của CHXHCNVN rằng CHXHCNVN là hợp nhất của 2 quốc gia từng tồn tại trước đây là 1 sự thách thức đối với lý trí nói chung và các sự kiện chính trị đã xảy ra trên thực tế.

Tháng_Chạp (khách viếng thăm) gửi lúc 13:02, 07/07/2011 - mã số 36936
Khách Qua Đường viết:
Mong các bạn cho ý kiến để dịch cụm từ common sense. Thân mến.

common sense = cảm nhận chung (đúng ra là phổ biến, theo số đông). Ví dụ: đa phần mọi người vẫn coi hôn nhân đồng tính là xấu, thì đó là một common sense.

Đúng ra phải tác giả phải dùng “the sense of the majority” (cảm nhận của đa số) mới chính xác. Vì rất ít khi tất cả đều có chung một cảm nhận.

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 12:40, 07/07/2011 - mã số 36933
Khách quan viết:
VN2006A viết:
Khách Qua Đường viết:
Kính thưa quý vị,

Yet the SRV’s contention that it is a composite of two previously existing states defies the common sense, political facts.

Thế nhưng điều biện luận của CHXHCNVN rằng CHXHCNVN là hợp nhất của hai quốc gia trước đây đã hiện hữu thì đã thách đố [khinh thường] mọi lương tri [con người] và mọi sự kiện chính trị. Greg Austin

Common sense mà dịch là lương tri có lẽ hơi khiên cưỡng bác ạ.

Bạn Khách quan mến,

Cám ơn bạn rất nhiều. Bạn nói rất đúng. Cụm từ common sense mà dịch là lương tri là không chỉnh và quá khiên cưỡng. Tôi đã phân vân rất nhiều, nhưng thú thực, tôi không nghĩ ra được từ hay cụm từ nào chính xác hơn.

Theo ngu ý, common sense gồm hai từ common, nghĩa là chung, và sense, nghĩa là cảm giác. Nhưng khi ghép lại thành cụm hai chữ, thì nó muốn nói khả năng thiên phú của con người biết nhận ra là ĐÚNG hay SAI, hoặc nhận ra phải phản ứng làm sao trước sự việc. Người có nhiều common sense là một người dễ thấy được cái gì là đúng, nên làm, cái gì là sai, không nên làm v.v... Nó hoàn toàn không chứa đựng phê phán về đạo đức như chữ lương tri, mặc dầu trên mặt ngữ nghĩa, thì lương có nghĩa là tốttri có nghĩa là biết. Nên lương tri là khả năng của con người biết phân biệt tốt, xấu về mặt đạo đức. Nó rất gần với cụm từ “common sense” nhưng chỉ đặc biệt sử dụng cho khía cạnh đạo đức thôi.

Tóm lại, tôi dịch không đúng, và sai là đằng khác. Mong các bạn cho ý kiến để dịch cụm từ common sense. Thân mến.

Khách quan (khách viếng thăm) gửi lúc 07:28, 07/07/2011 - mã số 36920
VN2006A viết:
Khách Qua Đường viết:
Kính thưa quý vị,

Yet the SRV’s contention that it is a composite of two previously existing states defies the common sense, political facts.

Thế nhưng điều biện luận của CHXHCNVN rằng CHXHCNVN là hợp nhất của hai quốc gia trước đây đã hiện hữu thì đã thách đố [khinh thường] mọi lương tri [con người] và mọi sự kiện chính trị. Greg Austin

Common sense mà dịch là lương tri có lẽ hơi khiên cưỡng bác ạ.

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 05:55, 07/07/2011 - mã số 36916
VN2006A viết:
Khách Qua Đường viết:
Kính thưa quý vị,

In 1975, the Government of the Republic of Vietnam (RVN) was replaced by the Provisional Revolutionary Government which joined with the Democratic Republic of Vietnam (DRV) in 1976 to form the Socialist Republic of Vietnam (SRV). The SRV implies that when the RVN as an independent, internationally recognised state joined the unified SRV, the RVN brought with it its territory and rights in territorial disputes. For the SRV to succeed in such a contention, it would have to show the RVN was an internationally recognised, independent state prior to its joining with the DRV in 1976 to form the SRV, thus bringing to the new international entity all the territory and rights in territorial disputes that the former RVN possessed. If the RVN was not an internationally recognised state, then actions of its governing authorities in respect of territory dispute with a recognised independent state (for example, RVN protests at PRC actions) could have no weight on international plane.

There is some authority for the contention that the RVN was an independent, internationally recognised state. It possessed all the attributes of statehood: a permanent population, a defined territory, a government, and the capacity to enter into relations with other states. The RVN in 1968 had been recognised by about 60 states, was a member of twelve specialised agencies of the United Nations, and was a member of 30 international organisations. Two UN General Assembly resolutions (in 1952 and 1957) described the state of Vietnam (the RVN) as a peace-loving state within the meaning of Article 4 of the UN Charter and, therefore, as eligible for membership.[94]

Yet the SRV’s contention that it is a composite of two previously existing states defies the common sense, political facts. The SRV is not only legally the successor to the DRV but is in many respects the same government by another name. The DRV had all along claimed to be the sole legitimate government of the whole of Vietnam, including the territory controlled by the RVN, and the international recognition accorded either the RVN or the DRV was largely on the basis that it was recognised as the sole legitimate government of the whole of Vietnam. Few states formally recognised the two governments, and the split between recognition was basically along ‘party lines’ with the communist states recognising the DRV and the non-communist states recognising the RVN.[95]

If the DRV continually rejected the legality of the existence of the RVN, then the SRV, as essentially the same government as the DRV, is placed in the same legal position as the PRC with regard to the effect given to actions of the rival government – as argued by Chiu and mentioned above. In as much as the PRC may not be able to claim teritorial sovereignty over Taiwan, the SRV may be denied any benefits in international law over territories it has never physically controlled. In any case, the SRV was not a union of the DRV and RVN, but union of the DRV and the Provisional Revolutionary Government of south Vietnam – a fact which further attenuates any SRV succession to RVN rights.

Như vậy, ở đây theo ông tiến sỹ này, CHXHCNVN phải công nhận /chứng minh VNCH là 1 quốc gia có chủ quyền, được quốc tế công nhận để kế thừa lãnh thổ, lãnh hải của VNCH, không phụ thuộc vào tình trạng VNCH bị VNDCCH "trói cổ" vào cái Union/composite CHXHCNVN như thế nào!!!???

Chỉ có như thế lý lẽ của CHXHCNVN mới có trọng lượng khi tranh cãi quốc tế.

Việc này có thể làm được, 1 cách formal.

Quan hệ ngoại giao giữa TQ (PRC) và VNCH cụ thể như thế nào, có ai rõ không???

Để quý bạn đọc trong nước tiện theo dõi chủ đề kế thừa quốc gia này, tôi xin mạo muội cố gắng tạm dịch đoạn tiếng Anh trên đây của Tiến sĩ Greg Austin ra tiếng Việt như sau. Vì khả năng Anh ngữ của tôi còn rất hạn chế, nếu có gì sơ xuất mong quý vị niệm tình thứ lỗi và sửa chữa giùm cho. Xin thành thật cám ơn quý vị.

Vào năm 1945, nước VNDCCH được thành lập trên miền Bắc của Việt Nam, trong khi nước Pháp tiếp tục cai trị miền Nam như là một bộ phận nhất thể của Liên Bang Pháp, tức là như một lãnh thổ của Pháp. Vùng đất do Pháp chiếm đóng trong miền Nam đã hoàn thành được sự độc lập với Pháp qua một tiến trình dần dần [từng bước một] từ năm 1948 đến năm 1954. Năm 1948, Pháp thừa nhận sự độc lập của Việt Nam [thuộc khối] liên kết với Liên Bang Pháp. Năm 1949, Chính quyền Bảo Đại ở VN, phía nam của Vĩ tuyến 16 độ Bắc được trao trả chủ quyền nội trị hoàn toàn và được phép có một quân đội quốc gia trong khi Pháp vẫn giữ lại quyền ngoại giao. Năm 1950, Chính phủ Bảo Đại đã giao trả gần như trọn quyền kiểm soát về hệ thống ngoại thương và tài chính. Kể từ đầu năm 1951, Chính quyền Bảo Đại bắt đầu ký kết các hiệp ước [với thế giới] trên danh nghĩa của họ, bắt đầu gia nhập các cơ quan quốc tế, và được một số nước công nhận. Vào năm 1954, nước Pháp trao trả độc lập hoàn toàn cho VNCH.

Năm 1975, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã được thay thế bằng Chính phủ Cách mạng Lâm thời, mà vào năm 1976 đã nhập vào với Chính phủ VN Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) để lập ra Chính phủ Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa VN (CHXHCNVN). CHXHCNVN đã ám chỉ [muốn nói] rằng, khi VNCH như là một quốc gia độc lập được quốc tế thừa nhận đã gia nhập vào nước CHXHCNVN thống nhất, VNCH đã đem theo lãnh thổ và những quyền chủ quyền của họ trong việc tranh chấp lãnh thổ. Để cho CHXHCNVN được thành công trong tranh cãi như thế, nước này cần phải chứng minh rằng VNCH là một quốc gia độc lập được thế giới công nhận trước khi sáp nhập chung với VNDCCH vào năm 1976 để lập ra nước CHXHCNVN, do đó đã đem vào cho cái thực thể quốc tế mới tất cả lãnh thổ và chủ quyền về tranh chấp lãnh thổ mà nước VHCH trước đây đã sở hữu. Nếu VNCH không phải là một quốc gia được quốc tế thừa nhận, thì mọi hành động của các nhà chức trách có thẩm quyền của VNCH trong tranh chấp lãnh thổ với một quốc gia độc lập được quốc tế thừa nhận khác (thí dụ như VNCH phản đối các hành động của CHNHTH) sẽ không có tý trọng lượng nào cả trên bình diện quốc tế.

Điều biện luận rằng VNCH là một quốc gia độc lập, được quốc tế công nhận cũng có phần đúng đắn [Ghi chú: nghĩa là có tính thẩm quyền trên mặt pháp lý quốc tế]. Nước này sở hữu tất cả mọi đặc trưng của một quốc gia: một nhân dân thường trực, một lãnh thổ được xác định, một chính quyền, và đủ khả năng tham dự vào những liên hệ với những quốc gia khác. Vào năm 1968, nước VNCH đã được khoảng 60 quốc gia thừa nhận, là thành viên của 12 cơ quan chuyên biệt của Liên Hiệp Quốc, và là thành viên của 30 cơ quan quốc tế. Hai Nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (vào các năm 1952 và 1957) đã diễn tả quốc gia Việt Nam (nước VNCH) như là một quốc gia yêu chuộng hòa bình theo đúng ý nghĩa của Điều 4 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và, do đó, đủ điều kiện để trở thành hội viên [của LHQ].[94]

Thế nhưng điều biện luận của CHXHCNVN rằng CHXHCNVN là hợp nhất của hai quốc gia trước đây đã hiện hữu thì đã thách đố [khinh thường] mọi lương tri [con người] và mọi sự kiện chính trị. CHXHCNVN không những chỉ là nước kế tục pháp lý của VNDCCH mà, trên nhiều khía cạnh, chính là chính thể VNDCCH đó nhưng được mang tên khác. Nước VNDCCH đã luôn luôn tuyên bố rằng họ là chính thể hợp pháp duy nhất của toàn thể Việt Nam, bao gồm cả vùng lãnh thổ do VNCH kiểm soát, và quốc tế thừa nhận VNCH hoặc VNDCCH chủ yếu phần lớn dựa trên căn bản là nước này [tức VNCH hoặc VNDCCH] là chính phủ duy nhất hợp pháp của toàn thể VN. Rất ít quốc gia chính thức thừa nhận cả hai chính thể, và sự thừa nhận này trên cơ bản, đã phân rẻ dựa theo tinh thần “phe đảng” với việc các nước trong phe cộng sản thì thừa nhận VNDCCH và các nước không cộng sản thì thừa nhận VNCH.[95]

Nếu VNDCCH cứ liên tục bác bỏ tính hợp pháp của sự hiện hữu của VNCH, thì CHXHCNVN, chính thể trên cốt yếu chính là một với VNDCCH, sẽ được đặt trên cùng vị trí pháp lý như là CHNDTH đối với hiệu quả của các hành động của chính phủ đối đầu [tức Trung Hoa Dân Quốc, Đài Loan] – như đã được biện hộ bởi tác giả Chiu và được đề cập trên đây. Cũng giống y như việc CHNDTH có thể không được phép tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trên đảo Đài Loan, CHXHCNVN cũng có thể bị bác bỏ mọi quyền lợi trên công pháp quốc tế về những lãnh thổ mà nước này đã chưa bao giờ kiểm soát trên thực địa. Trong mọi trường hợp, CHXHCNVN không phải là sự thống nhất [hợp nhất] của VNDCCH và VNCH, mà là sự hợp nhất của VNDCCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam - một sự kiện sẽ làm yếu đi bất cứ sự kế thừa nào của CHXHCNVN về quyền chủ quyền của VNCH.

Greg Austin

Admin gửi lúc 04:16, 07/07/2011 - mã số 36909
Carom viết:
Xin Dân Luận cho đăng riêng bài này trên blog Trương Duy Nhất:
Trận hải chiến Hoàng Sa & ý tưởng vinh danh những người lính Cộng hòa

Bài "Bằng Chứng Hoàng Sa" của blogger Osin (nhà báo Huy Đức) đã được Dân Luận đăng cách đây khá lâu:

http://danluan.org/node/1145

Tôi xin lấy bài phần đề tựa của bác Trương Duy Nhất để đăng lại như một comment vào bài viết cũ...

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 17:30, 06/07/2011 - mã số 36877

Trích lời nhà bình luận Ngô Nhân Dụng trong bài “Ðòi quyền hội họp, quyền thông tin tự do” (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=133533&z=7&template=viewmainNVO.htm)

“Nhưng bản kiến nghị ngày 4 Tháng Bẩy 2011 còn nêu lên một đòi hỏi lớn là yêu cầu chính quyền Cộng Sản Việt Nam xác định lập trường của họ đối với lá thư Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Như nhiều lần đã trình bày trong mục này, muốn lên tiếng nói được quốc tế kính trọng, nhà cầm quyền ở Việt Nam phải xác định dứt khoát rằng lá thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958 là vô giá trị. Lúc đó, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền cai quản của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, ông Phạm Văn Ðồng đứng đầu một chính phủ chỉ cai trị phía Bắc vĩ tuyến 17 cho nên không có thẩm quyền trên các đảo đó. Mặc dù ông Phạm Văn Ðồng có viết thư nói ông đồng ý với ông Chu Ân Lai, nhưng về một vấn đề lãnh thổ quốc gia, văn kiện đó không phải là một hiệp ước, không được một Quốc Hội nào của nước Việt Nam thông qua, thì cũng vô giá trị. Ngược lại, hành động đánh chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc đầu năm 1974, việc đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa năm 1988 rõ rệt là những cuộc tấn công xâm lược của quân đội Trung Hoa đối với các hải đảo thuộc nước Việt Nam. Xác định những điều trên là một dịp để đảng cộng sản tạ tội đối với tổ tiên, với các thế hệ tương lai, về một hành động lầm lẫn trong quá khứ. (Ngô Nhân Dụng)

Đồng chí ăn cướp (khách viếng thăm) gửi lúc 16:32, 06/07/2011 - mã số 36875
Bần-Nông viết:
Công hàm đó có hiệu lực đâu mà phải giải quyết? Xin nói rõ, công hàm đó được viết vào năm nào? Lúc đó HS & TS thuộc chủ quyền của ai? Nếu HS & TS thuộc chủ quyền của chính phủ Bắc Việt lúc đó, thì công hàm mới có hiệu lực. Ngược lại, HS & TS chủ quyền thuộc VNCH, thì thử nghỉ công hàm đó có hiệu lực ko? Nếu Trung Cộng nói có hiệu lực, thì chính quyền ĐCSVN có thể viết công hàm nói đảo Hải Nam thuộc về Hoa Kỳ, thì có được ko? Nói chuyện diễu. Chỉ nhục cái là chính quyền ĐCSVN quá nhu nhược, để TC đè đầu đè cổ mà vẫn nín thinh. Hay là ĐCSVN đã bán cả đất nước VN cho TC rồi? ĐCSVN chỉ biết "tàn bạo" với người dân thấp cổ bé miệng trong nước mà thôi. Đúng là "khôn nhà dại chợ". Xin lỗi, nhân dân trong nước còn can đảm hơn đám người cai trị VN hiện thời. Họ ko chịu khuất phục trước lủ giặc ngoại xâm đâu. Giới trí thức trong & ngoài nước hiện nay nên dùng phương diện thông tin để truyền đạt đến toàn dân để họ quán triệt vấn đề, & có thể dùng sức mạnh toàn dân lật đổ chế độ độc tài, nhu nhược, tàn ác, & đàn áp nhân dân của ĐCSVN hiện nay.

Kể cả những đảo nào khác ở miền Bắc lúc đó 1958 thuộc quyền cai quản của đảng CSVN (thông qua chính phủ) thì họ cũng không có quyền chuyển nhượng cho bất kỳ ai khác cho dù có thông qua cái gọi là quốc hội của đảng CSVN.

Tất cả các đàm phán lãnh thổ VN phải được toàn dân nam trung bắc hiểu rõ và chấp thuận thông qua trưng cầu dân ý

Tôi có thắc mắc là với lãnh hải 12 hải lý (chưa tới 23 km) thì TQ có tư cách gì đòi chủ quyền lưỡi bò ở biển Đông ?
Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng có đồng chí ăn cướp 16 chữ vàng thật là quí báu

Carom (khách viếng thăm) gửi lúc 16:02, 06/07/2011 - mã số 36871

Xin Dân Luận cho đăng riêng bài này trên blog Trương Duy Nhất:
Trận hải chiến Hoàng Sa & ý tưởng vinh danh những người lính Cộng hòa

Thắc mắc về hải phận (khách viếng thăm) gửi lúc 14:45, 06/07/2011 - mã số 36870
Trích dẫn:
http://www.dcvblogs.com/nguyen-han-hna/2007/12/hoang_sa_trng_sa.html

1958 - Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân dân Trung hoa tuyên bố:

Hải phận CHNDTH rộng 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho toàn lãnh thổ CHNDTH và các quần đảo của Trung Quốc, kể cả Đài Loan và các quần đảo chung quanh, quần đảo Penghu, Tungsha, Hsisha (Xisha, Trường Sa - TM), Chungsha, Nansha (Hoàng Sa - TM) và tất cả những quần đảo ngoài khơi thuộc Trung Quốc.

(Lược dịch đoạn [1] bản “Tuyên bố Hải phận của CHNDTH” 04/09/1958 - PRC's Declaration on the Territorial Sea)

1958 - Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng viết:

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 04/09/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

(Trích công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng gởi Tổng lý Quốc vụ Viện CHNDTH Chu Ân Lai ngày 14/09/1958).

Lâu nay thấy mọi người chỉ nêu công hàm của Phạm Văn Đồng gởi cho Lai của TQ chứ không thấy yêu sách của Mao là gì.

Tuyên bố của Chu Ân Lai : Hải phận CHNDTH rộng 12 hải lý

Công hàm của Phạm Văn Đồng, chỉ nêu "quyết định về hải phận của Trung Quốc" chứ không nói gì đến Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa.

Mấy cái đảo kia như Penghu là của Đài Loan 1958, ăn thua quái gì đến Đồng mà Đồng đòi tán thành ? Hâm à ?

Đúng ra, Hồ Chí Minh vĩ đại phải ra chỉ thị để Đồng viết rõ hơn như "quyết định về hải phận rộng 12 hải lý của Trung Quốc"

Cả Hồ Chí Minh vĩ đại lẫn Phạm Văn Đồng đều mù quáng trong việc này

1974 - Tuyên cáo của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà (khách viếng thăm) gửi lúc 14:24, 06/07/2011 - mã số 36868

http://www.dcvblogs.com/nguyen-han-hna/2007/12/hoang_sa_trng_sa.html

1974 - Tuyên cáo của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hoà không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của minh trên những quần đảo ấy.

(Trích “Tuyên cáo của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam Cộng Hoà”, 14/02/1974)

VN2006A (khách viếng thăm) gửi lúc 14:18, 06/07/2011 - mã số 36867
Khách Qua Đường viết:
Kính thưa quý vị,

In 1975, the Government of the Republic of Vietnam (RVN) was replaced by the Provisional Revolutionary Government which joined with the Democratic Republic of Vietnam (DRV) in 1976 to form the Socialist Republic of Vietnam (SRV). The SRV implies that when the RVN as an independent, internationally recognised state joined the unified SRV, the RVN brought with it its territory and rights in territorial disputes. For the SRV to succeed in such a contention, it would have to show the RVN was an internationally recognised, independent state prior to its joining with the DRV in 1976 to form the SRV, thus bringing to the new international entity all the territory and rights in territorial disputes that the former RVN possessed. If the RVN was not an internationally recognised state, then actions of its governing authorities in respect of territory dispute with a recognised independent state (for example, RVN protests at PRC actions) could have no weight on international plane.

There is some authority for the contention that the RVN was an independent, internationally recognised state. It possessed all the attributes of statehood: a permanent population, a defined territory, a government, and the capacity to enter into relations with other states. The RVN in 1968 had been recognised by about 60 states, was a member of twelve specialised agencies of the United Nations, and was a member of 30 international organisations. Two UN General Assembly resolutions (in 1952 and 1957) described the state of Vietnam (the RVN) as a peace-loving state within the meaning of Article 4 of the UN Charter and, therefore, as eligible for membership.[94]

Yet the SRV’s contention that it is a composite of two previously existing states defies the common sense, political facts. The SRV is not only legally the successor to the DRV but is in many respects the same government by another name. The DRV had all along claimed to be the sole legitimate government of the whole of Vietnam, including the territory controlled by the RVN, and the international recognition accorded either the RVN or the DRV was largely on the basis that it was recognised as the sole legitimate government of the whole of Vietnam. Few states formally recognised the two governments, and the split between recognition was basically along ‘party lines’ with the communist states recognising the DRV and the non-communist states recognising the RVN.[95]

If the DRV continually rejected the legality of the existence of the RVN, then the SRV, as essentially the same government as the DRV, is placed in the same legal position as the PRC with regard to the effect given to actions of the rival government – as argued by Chiu and mentioned above. In as much as the PRC may not be able to claim teritorial sovereignty over Taiwan, the SRV may be denied any benefits in international law over territories it has never physically controlled. In any case, the SRV was not a union of the DRV and RVN, but union of the DRV and the Provisional Revolutionary Government of south Vietnam – a fact which further attenuates any SRV succession to RVN rights.

Như vậy, ở đây theo ông tiến sỹ này, CHXHCNVN phải công nhận /chứng minh VNCH là 1 quốc gia có chủ quyền, được quốc tế công nhận để kế thừa lãnh thổ, lãnh hải của VNCH, không phụ thuộc vào tình trạng VNCH bị VNDCCH "trói cổ" vào cái Union/composite CHXHCNVN như thế nào!!!???

Chỉ có như thế lý lẽ của CHXHCNVN mới có trọng lượng khi tranh cãi quốc tế.

Việc này có thể làm được, 1 cách formal.

Quan hệ ngoại giao giữa TQ (PRC) và VNCH cụ thể như thế nào, có ai rõ không???

Công hàm của PVĐ 1958 (khách viếng thăm) gửi lúc 12:25, 06/07/2011 - mã số 36862
nVhn viết:
Thư ngỏ của Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà gửi Đại tướng Lê Đức Anh:

http://oneviet.co.cc/blog/?p=7610

Xin kính mời quý đồng hương trong và ngoài nước bỏ chừng 5 phút đồng hồ để tham khảo lá thư của TS Luật Sư Cù Huy Hà Vũ gởi cho Đại tướng Lê Đức Anh cuối năm 2007 về câu hỏi vô cùng quan trọng này.

Cám ơn Bà Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà là vợ của TS LS Cù Huy Hà Vũ đã đính kèm lá thư này một lần nữa , và người dân yêu nước Việt Nam lại có thêm một cơ hội nghiên cứu một tài liệu vô cùng quan trọng cho cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn giang sơn gấm vóc Việt Nam.

nVhn

Lá thư này của bà LS Nguyễn Thị Dương Hà, là vợ của TS LS Cù Huy Hà Vũ, đã được đăng trên Dân Luận rồi.

Trong đó có một điểm bà Hà cho rằng cả hai chính phủ VNDCCH và VNCH chỉ là hai chính phủ tạm thời theo tinh thần của hiệp định Genève.

Nên nhớ rằng hiến pháp 1946 là HP duy trì ở VNDCCH cho đến 1960. Hồ Chí Minh luôn là chủ tịch nước từ 1945 cho đến 1969

Điều thứ 44
Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các.
Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.

==> đứng đầu chính phủ là Hồ Chí Minh chứ không phải Phạm Văn Đồng

Điều thứ 49
Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà:
a) Thay mặt cho nước.
đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị.
h) Ký hiệp ước với các nước.

==> Hồ Chí Minh chứ không phải Phạm Văn Đồng thay mặt nhà nước. Công hàm này không phải là hiệp ước với TQ

Điều thứ 52
Quyền hạn của Chính phủ:
a) Thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện.
b) Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện.
c) Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban thường vụ, trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt.
...
==> công hàm của PVĐ chưa được luật hóa và chưa được quốc hội phê chuẩn

Điều thứ 53
Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chứ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và tuỳ theo quyền hạn các Bộ, phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký. Các vị Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện.

==> công hàm của PVĐ không phải là sắc lệnh của chính phủ

Điều thứ 54
Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các.
...

==> Phải chăng công hàm của PVĐ về biển là chỉ có chính Phạm Văn Đồng chịu trách nhiệm chính trị ? Không có giá trị pháp lý ?

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 10:45, 06/07/2011 - mã số 36853

Kính thưa quý vị,

Sau đây là một đoạn trong sách của Tiến sĩ Greg Austin bàn về các lý lẽ pháp lý của hai phía VN và TQ về chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa trong giai đoạn Hậu chiến (tức là sau Thế chiến 2, từ năm 1945 đến nay),đặc biệt về vấn đề kế thừa quốc gia (state succession) của CHXHCN VN, tôi xin phép Diễn Đàn post lên đây để quý vị rành Anh ngữ tham khảo (trong khi chờ đợi bản dịch tiếng Việt thuận tiện hơn cho mọi người quan tâm đến HS, TS và Biển Đông)

POST-WAR ISSUES

The two claimants, the PRC and the SRV, have raised explicitly or alluded to some issues arising from the period after 1945 that might influence a judgement on which country has a superior claim to the Paracel Islands: the effect of post-war treaties, the right of self-determination, and the question of state succession. The last two issues are closely linked in the case of the dispute over the Paracel Islands.

The years immediately after the war saw a brief coexistence between French and Chinese forces in the Paracel Islands until 1950. Secondary sources differ as to the exact sequence of events relating to French and Chinese presence in the islands. In March 1946, according to the PRC and some other sources, the ROC sent officials in warships to take possession of the islands where in December 1946 take-over ceremonies were held, stone tablets erected and troops garrisoned. In January 1947, the ROC announced the formal occupation of the Paracel Islands in a communiqué published in Paris by the Chinese Embassy. In May 1950, ROC troops were withdrawn from the Paracel Islands to Taiwan.[80] For its part, France sent forces to the islands for a reconnaissance in March 1946, and occupied at least one of them from January 1947. On 15 October 1950, France officially ceded control of the islands to the RVN, although French troops apparently remained stationed there until late 1956.[81] Accounts differ as to the date of the first arrival of PRC forces – 1950, 1955, or 1956.[82]

In 1951, both the PRC and the Saigon-based government in Vietnam asserted their claims to the Paracel Islands in connection with deliberation by the San Francisco Peace Conference about their status. While the PRC was not represented at the Conference, the Prime Minister, Zhou Enlai, issued a statement asserting PRC sovereignty over the Paracel Islands at a plenary session of the conference one day before the San Francisco Treaty was signed in September 1951.[83] (Since 2 September 1945, a separate Vietnamese state had existed, called the Democratic Republic of Vietnam, based in Hanoi. It remained silent on the question of sovereignty over the islands even though it was in control of the territory of Annam and could be seen as a direct successor state to Annam in this respect.)

One could propose, based on the events of 1951, that the critical date in the dispute between the PRC and the SRV over the sovereignty of the Paracel Islands should not be 1931, nor sometime in the 1930s, but some time after World War II, probably 1951. Such a conclusion could only be reached if the evidence of a dispute between Annam and China in the nineteenth century and between France and China in the 1930s were to be completely disregarded. Some of the implied positions of both the SRV and the PRC appear to favour acceptance of a critical date after 1951. (In fact, PRC and SRV public documents ignore any explicit consideration of the concept of critical date).

Post-war treaties

The PRC seeks to rely on two treaties signed after World War II to buttress its claims to the Paracel Islands – the San Francisco Peace Treaty of 1951 and the ROC-Japan Treaty of 1952. The PRC also relies on these treaties in respect of its claims to the Spratly Islands. In the 1951 treaty, which included the terms of the peace settlement between Japan and the Allied powers, Japan surrendered all right to the Paracel and Spratly Islands which it had occupied during the war. The renunciation in both treaties to ‘all rights, title and claim’ to the Paracel Islands was not made in favour of any countrỵ[84]

An argument could be made that the Japanese renunciation in 1951 was understood by the Japanese at least to have been a tacit reversion of sovereignty to China. The only basis for this argument would seem to be that the Paracel and Spratly Islands were listed in the article of the ROC-Japan treaty of 1952 that Japan had insisted would refer only to those territories related to the ROC.[85]

This interpretation of the 1951 treaty is not borne out by the way in which the various territories renounced by Japan were listed in the article in question. A number of the dispostions in Article 2 have an unambiguous, specific neneficiary in favour of whom Japan renounced sovereignty, while the Paracel and Spratly Islands were relegated to Article 2(f) with no country named or implied. For example, Article 2(a) declared Korea as independent. Article 2(b) noted tha Japan denounced all right to Taiwan and the Pescadores. While China was not named as the beneficiary, the disposition of the territory can only be interpreted as having been made in favour of China because this was agreed between the Allies in the Potsdam Declaration and because there were no other claimants. Article 2(c) noted Japan’s renunciation of all right to territory acquired from Russia by the Treaty of Portsmouth in 1905. That disposition was obviously in favour of the Union of Soviet Socialist Republics as there were no other claimants. Had the Peace Conference intended China to see itself as the beneficiary of Japan’s renunciation of the Paracel and Spratly Islands, it seems likely that they would have been included in Article 2(b) with Taiwan and the Pescadores.

Other evidence demonstrates that the signatories of the 1951 San Francisco had no common understanding of Article 2(f) as disposing of the Paracel and Spratly Islands in favour of China. In the Peace Conference which formulated the 1951 treaty, France had explicitly moved to exclude any reference to a country in the clause referring to the Paracel and Spratly Islands.[86] A counter proposa; by the USSR to indicte specifically in the treaty the reversion or devolution of sovereignty of the Paracel Islands to the PRC was rejected by 46 of the 55 countries represented.[87] The rejection does not itself indicate a consensus against China claim and in favour of France. It may have been related more to the intense disagreement at the Conference over whether the PRC or the ROC was the legitimate government of China than to opposition to the suggestion that Paracel Islands were Chinese territory. Moreover, both the PRC and the then Republic of Vietnam had made their views known, and while Vietnam was represented at the Conference, neither the PRC nor the ROC was present because of a disagreement between the UK and USA over which government should be recognised. The Peace Conference may have wanted to avoid taking sides, either between the two Chinas, between China and France, or between France and Vietnam.

It is also of some interest that the San Francisco Peace Treaty listed the Paracel and Spratly Isalnds as sixth in a list of territories to be surrendered by Japan: Korea, Formosa and the Pescadores, the Kuril Islands and parts of Sakhalin, former trust territories of Japan in the Pacific, parts of Antartica subjected to Japanese activity, and then the Spratly and Paracel archipelagos.[88] This order may suggest that the majority view among participants at the San Francisco Conference was that the two island groups in the South China Sea were less related to sovereignty territory of another state than even Antarctica.

In any event, in the 1952 treaty Japan could not pretend to devolve upon a country of its choosing sovereignty over the Paracel Islands because by then it had already renounced any claims to them. Any mention of them in the ROC-Japan treaty has no legal effect as far as an imputed intention of Japan is concerned, because Japan had no rights to the islands. A state cannot transfer more rights than it itself possesses.[89]

In the absence of further evidence, it is unlikely that the two treaties can be interpreted as having made a definitive disposition of the Paracel or Spratly Islands in favour of China. In fact, the 1951 treaty is silent on the issue and leaves it entirely open. The 1952 treaty is simply not relevant.

Self-determination

The question has been raised whether an Annamese title of the first half of the nineteenth century could have survived during the period of the protectorate status of Annam according to the peremptory norm of self-determination.[90] As diccussed in Appendix I, a new peremptory norm of self-determination can override pre-existing treaty arrangements or other legal dispositions of territory which conflict with that norm. The suggestion is that the norm might protect from France’s colonialist depredations the pre-existing territorial rights of the colonised Annamese people; that France’s failure as protecting power of Annam after 1884 to maintain the superior territorial rights of Annam in the Paracel Islands established in 1816 and subsequently should not be taken as a surrender of those rights by the Annamese people; that the new norm of self-determination should provide some remedy for the modern state of Vietnam in its territorial dispute with the PRC.

This view would suggest that the critical date for the dispute might be sometime after 1945, when the process of decolonisation and self-determination began in Vietnam and when the Vietnamese people could speak for themselves for the first time to protect their pre-existing rights. Where the peremptory norm of self-determination has been applied to a specific territorial dispute by the ICJ, in an advisory option in the Western Sahara case, the court regarded historical institutions and legal relationships as less definitive than the modern aspirations of the population of the Western Sahara for decolonisation.[91] The ICJ held that regardless of the legal status of the links between these communities and other entities (the political communities of modern Mauritania and Morocco) immediately prior to colonisation, the peremptory norm demanded recognition of the aspirations of the people of Western Sahara to participate in an act of self-determination.

But there is a very large difference between the circumstances of the Western Sahara and the Paracel Islands. The former, which was in its entirety the teritory under dispute, was a populated territory with organised political communities before colonisation and had remained populated by the same communities. By contrast, the Paracel Islands had no permanent population, and the main population for most of the time since 1945 has been military personnel, so the question of self-determination of the dispute territory does not arise. The self-determination norm is essentially a human rights norm, and not a norm to redress all territorial dispositions during the period of colonisation.

State succession

Even if an international tribunal were to find the circumstances of the Paracel Islands warranted application of the peremptory norm of self-determination, and thereby restored or remedied the territorial rights of the Annamese state in the Paracel Islands before 1931, it would still be necessary to show that after the exercise of self-determination by the Vietnamese people, these rights were transferred to or taken over by the sucessor states, and never surrendered. A strong case can be made that these rights were surrendered, as discussed below, but this depends very much on an interpretation of succession of rights and duties between parts of divided states through the process of colonisation, decolonisation, civil war, and reunification.

This consideration applies equally to China and to Vietnam in principle. In practice, quite different legal effects can arise in each case as the result of the specific actions of various governments in these two countries, and the responses of the international community of states. As discussed in chapter one, the contemporary view of the PRC and ROC as parts of one multi-state system was not commonly held for several decades. For example, along with other scholars in the 1960s and 1970s, the ROC legal specialist, Hungdah Chiu, argued for the view that a putative unitary China could not be the beneficiary of acts by both governments. For him, since the ROC was denied legitimacy by the PRC, the latter could not therefore rely in international law in any way on the acts of the ROC. He observed: ‘Clearly the PRC can no more claim benefits through a group it does not recognise as legal than it can through a document it has declared null and void’.[92]

Yet the PRC in its claim to the Paracel Islands sees itself as able to rely on the actions of the ROC in respect of the territorial sovereignty of one China regardless of the fact that it has consistently refused to recognise the ROC. The SRV has never had a rival government of Vietnam since it was formed after the formal unification of North and South Vietnam in 1976, but between 1945 and 1976 there were rival governments in Vietnam which consistently refused to recognise each other in exactly the same way as the PRC and ROC refused to.

In 1945, the DRV was established in the north of the country, while France continued to rule the south as an integral part of the French Union, that is, as French territory. The French-occupied territory in the south achieved its independence from France by a gradual process from 1948 to 1954. In 1948, France recognised the independence of a Vietnam associated with the French Union. In 1949, the government of Bao Dai in Vietnam south of 16 N was granted full internal sovereignty and permitted to maintain a national army while France effectively retained the foreign affair power. In 1950, the Bao Dai government received virtually full control over its foreign trade and financial apparatus. Beginning in 1951, the Bao Dai government began to sign treaties in its own name, began to join international organisations, and was recognised by a number of states. In 1954, France granted the RVN full independence.[93]

In 1975, the Government of the Republic of Vietnam (RVN) was replaced by the Provisional Revolutionary Government which joined with the Democratic Republic of Vietnam (DRV) in 1976 to form the Socialist Republic of Vietnam (SRV). The SRV implies that when the RVN as an independent, internationally recognised state joined the unified SRV, the RVN brought with it its territory and rights in territorial disputes. For the SRV to succeed in such a contention, it would have to show the RVN was an internationally recognised, independent state prior to its joining with the DRV in 1976 to form the SRV, thus bringing to the new international entity all the territory and rights in territorial disputes that the former RVN possessed. If the RVN was not an internationally recognised state, then actions of its governing authorities in respect of territory dispute with a recognised independent state (for example, RVN protests at PRC actions) could have no weight on international plane.

There is some authority for the contention that the RVN was an independent, internationally recognised state. It possessed all the attributes of statehood: a permanent population, a defined territory, a government, and the capacity to enter into relations with other states. The RVN in 1968 had been recognised by about 60 states, was a member of twelve specialised agencies of the United Nations, and was a member of 30 international organisations. Two UN General Assembly resolutions (in 1952 and 1957) described the state of Vietnam (the RVN) as a peace-loving state within the meaning of Article 4 of the UN Charter and, therefore, as eligible for membership.[94]

Yet the SRV’s contention that it is a composite of two previously existing states defies the common sense, political facts. The SRV is not only legally the successor to the DRV but is in many respects the same government by another name. The DRV had all along claimed to be the sole legitimate government of the whole of Vietnam, including the territory controlled by the RVN, and the international recognition accorded either the RVN or the DRV was largely on the basis that it was recognised as the sole legitimate government of the whole of Vietnam. Few states formally recognised the two governments, and the split between recognition was basically along ‘party lines’ with the communist states recognising the DRV and the non-communist states recognising the RVN.[95]

If the DRV continually rejected the legality of the existence of the RVN, then the SRV, as essentially the same government as the DRV, is placed in the same legal position as the PRC with regard to the effect given to actions of the rival government – as argued by Chiu and mentioned above. In as much as the PRC may not be able to claim teritorial sovereignty over Taiwan, the SRV may be denied any benefits in international law over territories it has never physically controlled. In any case, the SRV was not a union of the DRV and RVN, but union of the DRV and the Provisional Revolutionary Government of south Vietnam – a fact which further attenuates any SRV succession to RVN rights.

Footnotes

[80] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, pp. 18-19; Heinzig, Disputed Islands in the South China Sea, pp. 22-23; Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 76-7.
[81] Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, pp. 110-11.
[82] Samuels, Contest for the South China Sea, p. 77, suggests 1950; David G. Muller, China as a Maritime Power, Westview Press, Boulder CO, 1983, p. 80, suggests 1955; Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, p. 111 suggests 1956.
[83] Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 78-9.
[84] ibid. p. 77.
[85] ibid. p. 78. Samuels cites the ‘Minutes of Sino-Japanese Peace Negotiations’, initialled on 5 March 1952.
[86] Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, p. 114.
[87] ibid.
[88] Gerardo M.C. Valero, ‘Spratly Archipelago Dispute: Is The Question of Sovereignty Still Relevant?’, Marine Policy, vol. 18, no. 4, July 1994, p. 331n.
[89] Compare, Island of Palmas case, p.96.
[90] Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, p. 102.
[91] S. James Anaya, Indigenous Peoples in International Law, Oxford University Press, New York, 1966, p. 84, citing the Western Sahara case, p. 69.
[92] Hungdah Chiu, ‘The Question of Taiwan in Sino-American Relations’, in Hungdah Chiu, ed., China and the Taiwan Issue, Praeger, New York, 1979, p. 165.
[93] See R. Hull and J. Novogrod, Law and Vietnam, Oceana, Dobbs Ferry NY, 1968, pp. 55-6.
[94] ibid. pp. 57, 64-6. See also Nguyen Huu Tru, Quelques Problèmes de succession d’Etats concernant le Viet-Nam, Etablissements Emile Bruylant, Brussells, 1970, pp. 137-9.
[95] See R. Hull and J. Novogrod, Law and Vietnam, pp. 56-8.

nVhn (khách viếng thăm) gửi lúc 08:16, 06/07/2011 - mã số 36848

Thư ngỏ của Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà gửi Đại tướng Lê Đức Anh:

http://oneviet.co.cc/blog/?p=7610

Xin kính mời quý đồng hương trong và ngoài nước bỏ chừng 5 phút đồng hồ để tham khảo lá thư của TS Luật Sư Cù Huy Hà Vũ gởi cho Đại tướng Lê Đức Anh cuối năm 2007 về câu hỏi vô cùng quan trọng này.

Cám ơn Bà Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà là vợ của TS LS Cù Huy Hà Vũ đã đính kèm lá thư này một lần nữa , và người dân yêu nước Việt Nam lại có thêm một cơ hội nghiên cứu một tài liệu vô cùng quan trọng cho cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn giang sơn gấm vóc Việt Nam.

nVhn

Phùng Thị (khách viếng thăm) gửi lúc 22:01, 05/07/2011 - mã số 36822

Kính thưa Ông.
Cái "lạ lùng" là cái này đây : "...Đằng sau bộ mặt phơi ra cho công chúng biết, rất nhiều người tin chắc chắn có những mật ước giữa hai đảng CS TQ và VN. Vì là mật ước nên phải được giữ kín, nếu không thì chúng sẽ bị giảm/mất giá trị, ngay cả phản tác dụng. TQ không tiết lộ và muốn dùng chúng như cái vòng kim cô để tiếp tục yêu sách, áp lực VN về mọi mặt. Đảng CSVN không muốn tiết lộ vì làm như thế sẽ đánh rơi mặt nạ của một bè lũ phản quốc, và nhất định sẽ bị nhân dân trừng trị.

Cách đây không lâu, trước đại hội đảng CSVN vừa qua, đã có dư luận chống đối việc đưa ông Nguyễn Phú Trọng vào chức TBT với lý do ông này quá thân TQ. Vừa mới nhậm chức một thời gian ngắn đã xảy ra vụ xung đột TQ-VN. Tôi cho rằng dư luận trên rất sáng suốt, không sai và vụ xung đột thực ra là một dàn cảnh, chứ không lẽ ông NPT dám để cho đảng CSVN chống lại CSTQ?

Cho nên chính quyền VN đã có động thái rất "kỳ lạ": một mặt phản đối TQ, hội thảo với Mỹ về Biển Đông, tin đồn về liên minh quân sự với Mỹ, ... một mặt lại phá các cuộc biểu tình chống TQ, và cho đặc sứ sang Bắc Kinh nhằm đưa ra những thỏa thuận "mật" mới.

-- nay kính --
Bà Quả phụ Phùng Thị.

vô cảm mà bày đặt xấc láo (khách viếng thăm) gửi lúc 18:52, 05/07/2011 - mã số 36807
hà viết:
Cái gọi là Công hàm 1958 đâu , chỉ thấy các vị tranh cãi . Ai tin .

Công hàm đây

http://danluan.org/node/9095

Bần-Nông (khách viếng thăm) gửi lúc 17:13, 05/07/2011 - mã số 36796

Công hàm đó có hiệu lực đâu mà phải giải quyết? Xin nói rõ, công hàm đó được viết vào năm nào? Lúc đó HS & TS thuộc chủ quyền của ai? Nếu HS & TS thuộc chủ quyền của chính phủ Bắc Việt lúc đó, thì công hàm mới có hiệu lực. Ngược lại, HS & TS chủ quyền thuộc VNCH, thì thử nghỉ công hàm đó có hiệu lực ko? Nếu Trung Cộng nói có hiệu lực, thì chính quyền ĐCSVN có thể viết công hàm nói đảo Hải Nam thuộc về Hoa Kỳ, thì có được ko? Nói chuyện diễu. Chỉ nhục cái là chính quyền ĐCSVN quá nhu nhược, để TC đè đầu đè cổ mà vẫn nín thinh. Hay là ĐCSVN đã bán cả đất nước VN cho TC rồi? ĐCSVN chỉ biết "tàn bạo" với người dân thấp cổ bé miệng trong nước mà thôi. Đúng là "khôn nhà dại chợ". Xin lỗi, nhân dân trong nước còn can đảm hơn đám người cai trị VN hiện thời. Họ ko chịu khuất phục trước lủ giặc ngoại xâm đâu. Giới trí thức trong & ngoài nước hiện nay nên dùng phương diện thông tin để truyền đạt đến toàn dân để họ quán triệt vấn đề, & có thể dùng sức mạnh toàn dân lật đổ chế độ độc tài, nhu nhược, tàn ác, & đàn áp nhân dân của ĐCSVN hiện nay.

hà (khách viếng thăm) gửi lúc 16:13, 05/07/2011 - mã số 36793

Cái gọi là Công hàm 1958 đâu , chỉ thấy các vị tranh cãi . Ai tin .

Khác (khách viếng thăm) gửi lúc 13:42, 05/07/2011 - mã số 36784
Carom viết:
Cho tôi hỏi một cách nghiêm túc:

Ở Việt Nam, công luận phát hiện có Công hàm này vào thời gian nào? Ở thập niên 5x, 6x, 7x của thế kỷ trước, phía VNCH có biết không?

Cám ơn.

Trích từ phản hồi với mã số 36779:
Công hàm đề ngày 14 tháng 9 và cho đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 năm 1958...

Như thế nghĩa là công hàm có tính công khai, dĩ nhiên VNCH với cơ quan nghiên cứu về đối phương hẳn biết chuyện này. Thật ra trước năm 1975 tôi còn nhỏ cũng đã nghe bà con bàn tán. Câu hỏi của tôi là: lúc ấy bên VNCH có động thái chính thức nào đối với công hàm này không? Nếu có thì chi tiết này có giúp được gì trong việc bảo vệ chủ quyền của VN về biển đảo trước áp lực ngày nay của TQ?

Công hàm do Phạm Văn Đồng ký (khách viếng thăm) gửi lúc 12:30, 05/07/2011 - mã số 36779

Công hàm do Phạm Văn Đồng ký, theo tôi không có giá trị pháp lý và ảnh hưởng đến chủ quyền đối với HS và nhất là với TS. Tôi lặp lại một số ý kiến mà các bạn đã nêu ra ở DL và trong bài này và bổ túc thêm ý của bài dưới đây thuvienphapluat.vn đăng 2007.

1) Công hàm do Phạm Văn Đồng ký viết riêng cho VNDCCH và "sẽ chỉ thị cho các cơ quan". Nó không liên quan gì đến VNCH, nước đang có chủ quyền đối với HS&TS lúc ký công hàm. Bây giờ CHXHCNVN bao gồm VNDCCH và VNCH vậy cần phải đưa ra quốc hội của cả nước biểu quyết lại + trưng cầu ý dân

2) Việc liên quan đến chủ quyền lãnh hải phải được bàn thảo trước quốc hội và nếu cần tổ chức trưng cầu ý dân. Công hàm do Phạm Văn Đồng ký chỉ nói đơn phương đến chính phủ VNDCCH chứ không hề đề cập đến việc quốc hội chấp thuận thông qua một đạo luật biển và đã có một nghị quyết chính phủ. Việc này đúng ra Hồ Chí Minh cũng đã phải lên tiếng với tư cách là chủ tịch nước
Chính phủ VNDCCH lên tiếng "tôn trọng quyết định" bản tuyên bố của chính phủ CHNDTH thì rõ ràng chẳng có giá trị pháp lý quốc tế bởi cả hai không nêu rõ đã được QH của hai nước phê chuẩn thông qua một đạo luật biển
TQ vẫn viện cớ là QH của họ chưa phê chuẩn luật biển quốc tế cho nên họ không tôn trọng luật quốc tế này

3) TQ ra yêu sách 12 hải lý và tất cả các nước như VN, Phi, Indo, Mã Lai cũng ra yêu sách 12 hải lý này thì mọi người phải tuân theo luật biển quốc tế

4) Nước A có chủ quyền đảo C sát gần nước B hơn. Việc tuyên bố chủ quyền biển của B không có nghĩa là đảo C phải thuộc về B mà phải tôn trọng một vùng hải phận quanh đảo C của nước A theo luật biển quốc tế

5) Đảng CSVN và TQ vốn tráo trở, không đáng tin cậy, cho nên TQ ra sức ép VN phải đàm phán song phương để dễ dàng uy hiếp. Có thể Mao đã bảo Hồ Chí Minh rằng : chú cứ bảo Đồng nó ký đi. Đây chỉ là chiêu để loè Mỹ mà thôi. Hồ Chí Minh tuy vĩ đại những lại thích bị lừa vì CS giống như Đỗ Mười bị CSTQ đánh nhưng vẫn thích !?

6) Nếu công hàm do Phạm Văn Đồng ký có hiệu lực pháp lý quốc tế, TQ đã đưa vụ việc ra tòa án quốc tế và LHQ rồi chứ không chỉ đòi đàm phán song phương

Người dân VN không thể tin tưởng hai cái tập đoàn CSVN và TQ tráo trở này

http://www.thuvienphapluat.vn/Default.aspx?CT=NW&NID=5586

Công hàm của TT Phạm Văn Đồng không thể là cơ sở để TQ lấn chiếm Hòang Sa của VN.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cập nhật: Chủ nhật, 09/12/2007

9g00, 9/12/2007, nên tham gia phản đối Quốc vụ viện TQ, tại Đại sứ quán và Lãnh sứ quán nước này?
Tường thuật biểu tình phản đối Quốc Vụ viện Trung Quốc, tại Hà Nội và TP. HCM.
Bối cảnh ra đời của Công Hàm:
Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chu Ân Lai, Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công khai tuyên bố với quốc tế về quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Hoa Lục, có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, trong đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa.
Cùng lúc bấy giờ, chiến tranh với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Bối cảnh ấy, TT Phạm Văn Đồng đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc, nhằm gây một lực lượng phản công lại với mối đe doạ của Mỹ.
Lời lên tiếng ủng hộ Trung Quốc của TT Phạm Văn Đồng, thực hiện bằng 1 Công hàm Và hình như giờ đây TQ viện dẫn vào Công hàm ấy để nói rằng VN đã đồng ý Hòang Sa là của họ. Công hàm đề ngày 14 tháng 9 và cho đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 năm 1958...
Nội dung:

Công hàm của TT Phạm Văn Đồng

Sau đây là bài phân tích giá trị Pháp Lý của Công Hàm trên Tạp chí Thời Đại :

(Bài phân tích dùng nhiều thuật ngữ Công pháp Quốc tế, sẽ khó đọc cho một số độc giả - THƯ VIỆN PHÁP LUẬT)
Những lời tuyên bố trên không có hiệu lực vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hoà; mà các chính phủ Việt Nam Cộng hoà luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Còn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng không tuyên bố điều gì có thể làm hại đến chủ quyền này cả. Tác giả Monique Chemillier-Gendreau đã viết như sau:

“Dans ce contexte, les declarations ou prise de position éventuelles des autorités du Nord Vietnam sont sans consequences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement competent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité…”

(Có thể dịch là: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không kiểm soát được…”).

Một lý lẽ thứ hai nữa là đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hoà và Philippin. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.

Nếu đặt giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết “estoppel” để khẳng định những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Điều 38 Quy chế Toà án Quốc tế không liệt kê những lời tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn gốc của luật pháp quốc tế. Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Câu tục ngữ thường dùng để định nghĩa nó là “one cannot at the same time blow hot and cold.”[72] Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó.

Thuyết estoppel bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh, được thâu nhập vào luật quốc tế. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:

1. Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch (clair et non equivoque).

2. Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh-Mỹ gọi là “reliance”.

3. Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.

4. Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…

Ngoài ra, nếu lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó.

Thuyết estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ quốc tế áp dụng rất nhiều. Trong bản án “Thềm lục địa vùng Biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Đan Mạch/Hà Lan, Toà án quốc tế đã phán quyết rằng estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong quá khứ nhằm công nhận nội dung của Công ước Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên bố đó.

Trong bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết như sau: “… ‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia, nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được phát biểu một cách rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động, và do đó phải chịu thiệt hại”.

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2/ và 3/ đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa rất thân thiện, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị Hoa-Việt. Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.

Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì (declaration d’intention). Thật vậy, đây là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc, và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.

Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Toà án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí” (intention de se lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances). Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thoả ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Toà sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc.

Trong bản án “Những cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc/Tân Tây Lan và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ ngừng thí nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp bị ràng buộc bởi lời hứa vì Pháp thực sự có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó.

Trong trường hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên bố sẽ tôn trọng lãnh hải của Trung Quốc, không hề có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Ông đã phát biểu những lời tuyên bố trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Ông đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm gây một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của Mỹ.

Lời tuyên bố năm 1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là tình trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là những lời tuyên bố có tính chính trị, chứ không phải pháp lý.

Nếu xét yếu tố liên tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội đủ tiêu chuẩn này. Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời. Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng, vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp. Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay.

Tóm lại, những lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu nhiều yếu tố để có thể áp dụng thuyết estoppel. Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có dựa vào lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và yếu tố “ý chí” (tức là quốc gia phát biểu lời hứa có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan trọng. Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong việc hoạch định chính sách ngoại giao. Các quốc gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính sách ngoại giao lỗi thời. Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách ngoại giao của quốc gia kia thay đổi, thì chính sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay đổi. Các quốc ga đổi bạn thành thù và đổi thù thành bạn là chuyện thường.

Còn những lời hứa đơn phương trong đó quốc gia không thật tình có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những lời hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các chính khách, các ứng cử viên trong cuộc tranh cử. Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ quyền quốc gia” (état souverain) rất quan trọng. Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều luật của Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc gia ngoài ý muốn của mình, khi mà quốc gia này không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác. Vì vậy ý chí của quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một lời hứa đơn phương

Vài lời từ Trung Tâm Dữ Liệu Hoàng Sa:

Chúng tôi đã rất đắn đo khi đưa công hàm này vào Hoàng Sa Wiki, tuy nhiên do vấn đề này là một phần của lịch sử về Hoàng Sa nên không thể né tránh được. Chúng tôi mong muốn các bạn thanh niên trong và ngoài nước không nên dùng vấn đề này để bới móc lẫn nhau,cái cần của chúng ta là hiểu rõ vấn đề này. Cũng hy vọng rằng qua vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa, tất cả chúng ta có thể ngồi xuống với nhau, và tạo hơn nữa sự đoàn kết để tất cả vì tương lai của đất nước Việt Nam.

Xin cám ơn các bạn.

(Bài từ dự án mở Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa - Hoàng Sa Wiki)

Nguồn: THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 05:47, 05/07/2011 - mã số 36768

Hậu quả tai hại của Công hàm đại họa Phạm Văn Đồng :

Tàu TQ cản đường không cho ngư dân Việt ra khơi

(Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=133489&z=1&template=viewmainNVO.htm )

ÐÀ NẴNG (TP) - Ba người thuyền trưởng ngồi lại kể chuyện hành trình gian nan trên vùng biển Hoàng Sa đi đến kết luận rằng Trung Quốc đang áp dụng chiêu mới: Cho tàu ngăn cản, chặn đường, lấn ép để tàu đánh cá Việt Nam không thể tiến ra biển khơi.

Ba người thuyền trưởng tàu đánh cá Việt Nam neo đậu tại bến Thọ Quang, Ðà Nẵng gồm các ông Nguyễn Văn Tư, Lê Xuân Dũng và Nguyễn Văn Dũng lần lượt kể về cuộc hành trình gian khổ của tàu mình trong nỗi đau vò xé.

Ông Nguyễn Văn Tư nói: “Chuyến đi vừa rồi của tôi dự định kéo dài 11 ngày. Nhưng vừa xuất phát thì trông thấy nhiều tàu cá Trung Quốc đứng dàn hàng ngang bao quanh một tàu ngư chính. Sau đó tôi mới biết họ đã án ngữ tại vùng biển đó từ lâu rồi. Ðó là giờ trưa, họ truy đuổi chúng tôi, buộc phải trở đầu lại chứ không cho đi qua lằn ranh mà họ đã chận ngang trong khi đó là con đường duy nhất để đến được với luồng cá Hoàng Sa mà chúng tôi vẫn thường đến đánh bắt trước đây.”

Ông Tư cũng cho rằng tàu Trung Quốc áp dụng chiêu “cắt đường biển của tàu cá Việt Nam từ 1 tháng trở lại đây. Trước đây có lúc họ đuổi nhưng cũng có lúc họ cho đi. Nhưng nay thì họ quyết liệt không cho mình vượt qua lằn ranh mà họ án ngữ để đi ra xa mặc dù đó vẫn còn là vùng biển thuộc lãnh hải Việt Nam”.

Còn ông Lê Xuân Dũng thì nói rằng tàu của ông đã bị tàu ngư chính Trung Quốc truy đuổi quyết liệt, buộc phải trở đầu đi vào. Theo ông, tàu ngư chính là loại tàu sắt sơn màu trắng xanh, trang bị vũ khí và công suất rất mạnh. Thuyền trưởng tàu ÐNA 90406 của ông Nguyễn Văn Dũng cũng bị một “bức màn phông” án ngữ, che thềm không thể tiến xa hơn được nữa.

Một người khác là ông Lê Nam đầy kinh nghiệm trong việc bị tàu Trung Quốc dọa nạt, đẩy lùi trên vùng biển thuộc lãnh hải Việt Nam cho biết: “Tàu Trung Quốc không muốn mang tiếng cướp bóc nên không dùng bạo lực với ngư dân Việt Nam. Họ dùng chiêu cắt đường biển không cho mình đi xa hơn để làm nghề cá, mục đích làm ngư dân mình nản lòng, bán tàu chuyển nghề, coi như biển Ðông đương nhiên thuộc về họ”.

Theo báo Tiền Phong trong thời gian gần đây, các thuyền trưởng tàu đánh cá Việt Nam được khuyên nên đi thành từng nhóm để tránh bị bắt nạt bởi “tàu lạ” Trung Quốc. (P.L.)

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 03:17, 05/07/2011 - mã số 36760
VN2006A viết:

Tôi cho rằng ở đây bạn đang dùng Rhetorik, chứ không phải phân tích về luật. Công hàm của ông PVĐ công nhận và tán thành tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của TQ không nhất định đồng nghĩa với từ bỏ chủ quyền về lãnh hải của VN.

Chuyện VNDCCH vẽ bản đồ với chi tiết TS-HS của TQ cũng như sách giáo khoa nói HS-TS là của TQ xin mời bạn đưa ra dẫn chứng!!!

Tôi đi học trước 1975 và trong suốt thời gian ở VN chưa hề thấy sách và bản đồ nào như bạn nói. Tôi không thấy, không có nghĩa là không có, nhưng bạn phải chứng minh.

Để biết sơ qua thế giới nghĩ gì về lý lẽ của hai phía VN và TQ trong tranh chấp về HS và TS kính mời bạn VN2006A và quý vị đọc ý kiến dưới đây của Tiến sĩ Stein Tonnesson (vài chỗ in đậm là do tôi muốn nhấn mạnh). Tôi xin lỗi là không kịp dịch ra tiếng Việt để mọi người theo dõi dễ hơn.

THE TWO SOVEREIGNTY CLAIMS

Since the economic importance of the Paracels is so limited, and their strategic value can only be realised in an offensive strategy, the main driving force behind the sovereignty dispute is probably national pride. In addition, the Chinese and Vietnamese governments must concern themselves with the fact that the Paracels may be used as a basis for making extensive claims to a continental shelf and economic zone. National pride and the desire for maritime space keep the sovereignty dispute alive and incite the parties to build exaggerated views of the islands’ significance. In 1996, China illegitimately drew a so-called ‘archipelagic baseline’ around the whole of the Paracels, thus subsuming the waters within the group as internal Chinese waters. The main purpose was probably to make it possible to claim an extensive continental shelf and economic zone measured from baselines around the Paracels.

What are the main strengths and weaknesses of the rival sovereignty claims? Archaeological findings and ancient historical sources are often evoked by both sides in support of their view that the islands have belonged to them for hundreds, if not thousands of centuries. These arguments will not be repeated here. They are hardly valid in modern international law. The fact that subjects of the Chinese or Vietnamese dynasties visited the Paracels or harvested feathers or turtles there in ancient times does not give ground for a sovereignty claim today. The fact that geographers knew of and described the islands as a danger to shipping also does not help to establish a sovereignty claim. It must furthermore be remembered that for long periods historically much of today’s Vietnam was either a part of China (until 1000 AD) or had a status as a tributary state to China (until the Franco-Chinese treaty of 1887). This makes it even more complicated to use ancient historical evidence to decide whether the islands are Chinese or Vietnamese. The most valid arguments must be found in modern history.

Vietnam may advance the following arguments:[18]

- Nguyen emperor Gia Long officially claimed the Paracels in 1816, and emperor Minh Mang sent an expedition to set up a marker and build a pagoda there in 1835.[19]
- A Qing dynasty official, the “Vice-Roy of Canton”, allegedly stated to a British official in 1898 that China carried no responsibility in connection with the looting of two ships who
had stranded in the Paracels, since the islands had been abandoned and belonged neither to China nor to Annam, and no police authority existed there. The statement may be claimed to represent an estoppel of previous Chinese claims, if there were any.[20]
- After the Qing dynasty sent expeditions to the Paracels in 1902 and 1908 or 1909, and stated a claim to the Paracels, subsequent Chinese governments did little to follow it up through effective utilisation or occupation.[21]
- The French protectorate Annam revived the Nguyen dynasty’s claim in 1931, and permanently occupied the islands from 1938 to 1945 (alongside a Japanese presence).
- Franco-Vietnamese forces re-established their presence in a part of the Paracels in 1947, and at each stage of Vietnam’s road to independence from colonial rule, France and Vietnam
agreed that the Paracels were part of the Vietnamese territory.[22] A statement to the effect that the Paracels were under Vietnamese sovereignty was made by the Vietnamese delegation at the San Francisco peace conference in 1950. (At the conference, Japan surrendered its claim to sovereignty in Taiwan, the Paracels, Spratlys and other South China Sea islands, but the peace treaty did not say to whom Japan surrendered this claim.)
- Between 1950 and 1955 Vietnam continuously occupied the western part of the Paracels, while no Mainland Chinese troops replaced the nationalist Chinese garrison after it had been withdrawn in 1950. Only in December 1955 did the PRC establish a regular military presence in the eastern Paracels.[23]
- The PRC took the western Paracels in January 1974 by force. This renders the acquisition invalid because of the prohibition against the use of force in international law.
- Since the unification of Vietnam in 1975-76, the Socialist Republic of Vietnam has consistently upheld the Republic of Vietnam’s claim to the Paracels through numerous official statements.

China could possibly use the following arguments:

- In the 19th and 20th centuries, fishermen operating from Hainan inhabited the Paracels for major parts of the year. They were Chinese subjects. The visits by Vietnamese fishermen were much less frequent.
- When the Qing dynasty sent expeditions to the Paracels in 1902 and 1908 or 1909, hoisting the Chinese flag, and the Guangdong government officially stated the island group to be under Chinese sovereignty, more than half a century passed since any state had laid claim to it. The Vietnamese Nguyen dynasty did not follow up its former claim through effective
utilisation or occupation, not even through official statements. That claim may therefore be said to have lapsed. Also, France did not issue a protest against the Chinese claim.[24]
- In the 1920s, when Japanese companies were established to extract guano in the Paracels, concessions were sought from both French and Chinese (Guangdong) authorities. The French refused to issue any concessions and did not state that the islands were under French
sovereignty, so operations were based on Chinese concessions.[25]
- In the interwar period, Britain considered the Paracels to be Chinese.[26]
- When a French garrison was established in the Paracels in 1938, France diplomatically informed China that this was only meant to counter Japanese expansionism and would in no way prejudice the sovereignty dispute between China and France (on behalf of Annam).[27]
- In early 1947, Chinese naval forces established a garrison on Woody Island, the largest of the Paracels. Later in the month, when French naval forces arrived and tried to persuade the Chinese to leave, the Chinese commander refused. The French then left Woody Island in the Amphitrite Group and established counter-presence on Pattle Island in the Crescent Group.
A diplomatic crisis ensued during which France proposed to send the dispute to international arbitration. French diplomatic sources reveal that France was also contemplating in this connection the possibility of recognising Chinese sovereignty to the Paracels in return for a Chinese concession in another area.[28]
- After the Chinese nationalist troops left the Paracels in 1950, France did not proceed to occupy the eastern Paracels, and fishermen from the PRC, using the PRC flag, continued to inhabit the islands during much of the year until a proper PRC garrison was established in 1955-56.
- Officials of the Democratic Republic of Vietnam (DRV, North Vietnam) on several occasions issued statements in support of the PRC claim to the Paracel group, which was considered by all the socialist countries to belong to China. So did the official press of North Vietnam. These statements probably amount to an estoppel of any previous Vietnamese claim to the Paracels.[29] Today’s Socialist Republic of Vietnam is a successor state to the DRV and the Provisional Revolutionary Government of South Vietnam (PRG), not to the Republic of Vietnam, and is therefore legally bound by statements made by officials of the DRV government during the 1950s and 1960s. The sovereignty claims of the Republic of Vietnam lapsed with the fall of that regime in 1975.
- When the PRC forces ousted the South Vietnamese forces from the western Paracels in 1974, the purpose was to reinstate the order from December 1946, when Chinese sovereignty to the whole of the Paracels was upheld through occupation of Woody Island (the largest of the islands in the archipelago) and the erection of markers in other islands.
- Since 1974 the whole of the Paracels has been under permanent occupation and utilisation by the PRC.

There thus seem to be some good arguments on both sides, and it is not evident that one or the other has a superior claim. A decision will depend on what is seen to be the critical date. If the Paracels could be considered as a number of individual islands (or two groups) rather than one entity, then a compromise solution where China gains sovereignty to the eastern part and Vietnam to the western part is conceivable. It does, however, seem unrealistic to expect China to cede any part of its alleged sovereignty in an area where it is in full military and administrative control. The most likely scenario of conflict resolution is one where Vietnam gives up its claim in return for a Chinese concession in another area, just as France considered doing in 1947.

Stein Tonnesson

Footnotes

[18]The list of arguments here is not exhaustive, and it must be emphasised that the present author has no legal training. Two books that treat the question exhaustively and end up with the view that the Vietnamese claim is superior are Monique Chemillier-Gendreau’s book (cited above) and an exhaustive, well-researched doctoral thesis by the Vietnamese legal scholar Nguyen Hong Thao. Le Vietnam face aux problèmes de l'extension maritime dans la mer de Chine mériodinale. Villeneuve d'Ascq: Presses Universitaires du Septentrion, 1998 (2 volumes). The Australian international affairs analyst Greg Austin reaches the opposite conclusion in China’s Ocean Frontier, pp. 98-130 (the chapter on the Paracels).
[19] Marwyn Samuels. Contest for the South China Sea. New York: Methuen, 1982, p. 61.
[20] Le Gouverneur Général de l’Indochine (Pasquier) à Ministre des Colonies, 20 mars 1930, annexe 5 dans Monique Chemillier-Gendreau. La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys. Paris: l’Harmattan, 1996, pp. 157-162. (An English translation is now available: Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. The Hague: Kluwer Law International, 2000.)
[21] Samuels. Contest for the South China Sea, pp. 53-54. According to Samuels, the expedition took place in 1908, while French sources place it in 1909.
[22] By contrast to the Spratlys. Fiche sur la situation juridique des Paracels, Forces Maritimes d’Extrême Orient, 2ème Bureau, Saigon 16.9.54, dos. P01, UU-Sup 2, SHM.
[23] Note d’Information, signée par le Vice-Amiral Jozan, Commandant les Forces Maritimes d’Extrême-Orient, No. 3/EM2, Saigon 7.1.56, dos. “Activités des forces maritimes...”, UU-Sup. 32, SHM. Briefing prepared for internal use in the Foreign Office, 1956, FC1082/4, FO 371/120937, PRO.
[24] The French Consul in Guangzhou recommended to the French Foreign Minister that France turn its eyes the other way and refrain from issuing a protest, since “Une intervention de notre part serait susceptible de faire surgir un nouveau mouvement de chauvinisme qui nous ferait peut être plus de mal que ne vaudrait la possession reconnue des îles Paracels.”
Beauvais (Canton) à MAE No. 92, 4.5.09, dos. 312, sous-série Chine, série Asie 1918-1929, Ministère des Affaires Étrangères, Paris. (Also printed as annexe 13 in Chemillier-Gendreau. La souveraineté sur les archipels..., pp. 196-197.)
[25] Marwyn Samuels. Contest for the South China Sea. New York: Methuen, 1982, pp. 55ff. Steven Kuan-Tsyh Yu. “Who Owns the Paracels and Spratlys?” in Hill, R. D., Norman G. Owen and E.V. Roberts (eds.). Fishing in Troubled Waters. Proceedings of an Academic Conference on Territorial Claims in the South China Sea. Hong Kong: University of Hong Kong, Centre of Asian Studies Occasional Papers and Monographs no. 97, 1991, p. 51.
[26 ]“His Majesty’s Government have regarded China as having the best claim to the Paracel Islands.” Minute by C.G. Jarrett for the Head of Military Branch, 1.3.39, ADM 1/9951, Public Record Office (London).
[27] “en Juillet 1938 le Gouvernement français avait averti le Gouvernement chinois de l’envoi d’un détachement dans l’archipel en précisant que cette opération n’avait pas pour objet d’affecter les positions juridiques de la Chine et de la France vis-à-vis de ces iles ou d’être préjudiciable à un règlement satisfaisant de la question. Par un mémorandum remis au Département le 18 Juillet de la même année, l’Ambassade de Chine avait pris note au nom de son Gouvernement de ces indications, se bornant à réserver les droits de souveraineté de son pays.” Ministre des Affaires Étrangères (signé Chauvel) à M. Meyrier, Ambassadeur de France à Nankin, no. 87 à 90, 24 janvier 1947, marqué PB/LD, c.a.d. conçu par Philippe Baudet, dossier 214, sous-série Chine, fonds Asie-Océanie 1944–1955, Ministère des Affaires Étrangères (Paris).
[28] “…il convient de rappeler que sur ce dernier terrain notre position a toujours été considérée comme assez incertaine”, a French Foreign Ministry study said. It emphasised that Chinese authorities had manifested their claim to the Paracels on several occasions between 1909 and 1931 while France had not made any representations concerning Annam’s claim before 1931. Note pour le Secrétaire Général a.s. Iles Paracels, MAE Asie-Océanie, marquée RB/MP, 18.3.47, dos. 215, s/s. Chine, série Asie-Océanie 1944-1955, MAE.
[29] A summary of these statements may be found in Greg Austin. China’s Ocean Frontier, pp. 126-130. The most important was an official communication from Vietnamese Prime Minister Pham Van Dong in 1956 in support of the PRC’s territorial sea declaration. The declaration mentioned the Paracels as Chinese territory. The DRV’s estoppel of the Vietnamese claim forms one of the two premises for Greg Austin’s conclusion that China has a superior claim to the Paracels. The other main premise is that France failed to uphold the former Annamese claim in the period 1885-1931.
[30] An English translation of the treaty on fishery cooperation, including a discussion of it, can be found in Zou Keyuan. “Sino-Vietnamese fishery agreement in the Gulf of Tonkin”. East Asia Institute Working Paper, no. 77. Singapore: 23 May 2001. The treaty on the maritime border has unfortunately not yet been publicised, and the Agreement on fishery
cooperation, which is linked to the delimitation agreement, has not yet entered into force. The Agreement is stipulated to have a duration of 12 years.

con dê tế thần (khách viếng thăm) gửi lúc 02:57, 05/07/2011 - mã số 36757

Công hàm của ông PVĐ không có giá trị mạnh và lâu dài về mặc công pháp quốc tế, vì vậy mà TQ không trưng ra chính thức mà chỉ nói ám chỉ; và chính quyền VN cũng không đá động gì đến nó. Công hàm PVĐ được nhắc đến TQ gián tiếp chỉ như là một cái cớ để nhấn mạnh thêm lý lẽ trong tuyên truyền tâm lý.

"Làm sao giải quyết công hàm PVĐ 1958" thiết nghĩ là cần đánh tan luận điệu cho rằng qua công hàm đó (một mục tiêu giả) mà TS-HS đã được bán cho TQ cũng như thủ phạm là PVĐ (một con dê tế thần).

Đằng sau bộ mặt phơi ra cho công chúng biết, rất nhiều người tin chắc chắn có những mật ước giữa hai đảng CS TQ và VN. Vì là mật ước nên phải được giữ kín, nếu không thì chúng sẽ bị giảm/mất giá trị, ngay cả phản tác dụng. TQ không tiết lộ và muốn dùng chúng như cái vòng kim cô để tiếp tục yêu sách, áp lực VN về mọi mặt. Đảng CSVN không muốn tiết lộ vì làm như thế sẽ đánh rơi mặt nạ của một bè lũ phản quốc, và nhất định sẽ bị nhân dân trừng trị.

Cách đây không lâu, trước đại hội đảng CSVN vừa qua, đã có dư luận chống đối việc đưa ông Nguyễn Phú Trọng vào chức TBT với lý do ông này quá thân TQ. Vừa mới nhậm chức một thời gian ngắn đã xảy ra vụ xung đột TQ-VN. Tôi cho rằng dư luận trên rất sáng suốt, không sai và vụ xung đột thực ra là một dàn cảnh, chứ không lẽ ông NPT dám để cho đảng CSVN chống lại CSTQ?

Cho nên chính quyền VN đã có động thái rất "kỳ lạ": một mặt phản đối TQ, hội thảo với Mỹ về Biển Đông, tin đồn về liên minh quân sự với Mỹ, ... một mặt lại phá các cuộc biểu tình chống TQ, và cho đặc sứ sang Bắc Kinh nhằm đưa ra những thỏa thuận "mật" mới.

Như thế không thể gọi là "khó hiểu". Đảng CSVN vẫn đang trung thành với đảng CSTQ anh em đấy. Nhưng họ đang ra những chiêu có vẻ trái ngược để tung hỏa mù, đánh lừa dư luận. Đồng thời cũng "đu dây" mong tìm những lợi nhuận được giá hơn, như đòi hỏi TQ và cả Mỹ giúp về kinh tế, giải quyết tình hình quá tồi tệ hiện nay.

Về thông tin về các nhân vật quan trọng phải đi "thụ huấn quân sự", cái này chỉ là tên gọi thôi. Thực ra chắc chắn đó là nhứng buổi nhồi sọ chính trị về đường lối của "đảng ta" với đảng TQ anh em, nhấn mạnh lòng trung thành và dò xét thái độ phản kháng. Ngoài ra thông tin ấy cũng góp phần tạo ra hỏa mù, cho rằng chính quyền VN "ra sức" đang chống lại TQ và làm loãng đi những biến động tiêu cực hiện nay về kinh tế, xã hội.

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 01:53, 05/07/2011 - mã số 36749
VN2006A viết:

Bạn có thể nói rõ được chính quyền Gia Long đã xác lập quyền thụ đắc HS và TS qua những thủ tục pháp lý được thừa nhận nào, ai thừa nhận??? Và TQ liệu có những bằng chứng nào để phủ nhận???

Tôi hỏi là vì đối với người VN hiển nhiên HS-TS là của VN. Đối với người TQ đương nhiên là của họ. Phần còn lại của thế giới nhận định như thế nào lại là 1 vấn đề khác. Đứng vội nghĩ rằng chân lý nằm trong tay VN?!

Tôi dựa vào phân tích của Tiến sĩ Greg Austin, trong cuốn sách của ông nhan đề China’s Ocean Frontier–International Law, Military Force and National Development, nhà xuất bản Allen & Unwin, Sydney, 1998, 430 pp.

Sau đây là một đoạn trích từ sách này cho thấy VN đã xác lập được quyền thủ đắc trên Hoàng Sa từ năm 1816 (Bà Giáo sư luật Monique Chemillier-Gendreau cũng kết luận như vậy trong cuốn sách [32] trong phần footnotes).

AN ANNAMESE TITLE AFTER 1816 ?

The earliest date at which any Vietnamese political entity unambiguously sought to assert sovereign authority in the Paracel Islands appears to have been 1816, when the king of Annam purported to annex the islands. This act may have been sufficient to establish an inchoate title.[32]

The annexation and subsequent Annamese acts would not have displaced a pre-existing Chinese title if the government of China had continued to manifest the will and some capacity to exercise sovereignty there at the time. But China had not done so. The PRC has presented no evidence of any official administrative act undertaken by China on the islands between 1279 and 1816. The PRC has cited documents which refer to the islands as Chinese territory; a claim that the islands were administered by a local government authority on Hainan Island; and information on a naval patrol that passed through the general area of the islands.[33] Other evidence includes three official maps (1775, 1810 and 1817) and several chronicles referring to the Paracel Islands as Chinese.

The PRC has presented evidence of physical activities undertaken by Chinese people in the Paracel Islands between 1279 and 1816, and these included fishing activities, guano collection and salvage of shipwrecks. But at best, this historical evidence shows that in the period between 1279 and 1816 China did little more than express its intention to remain sovereign of the Paracel Islands.

The decisive consideration is that notwithstanding such evidence of Chinese activity, there is a clear absence of actual exercise of sovereignty by China in the Paracel Islands between 1279 and 1816. The PRC has not been able to provide evidence of what the ICJ regarded as essential: ‘acts which relate to the exercise of jurisdiction and local administration and to legislation’.[34] In the Minquiers and Ecrehos case , the ICJ put no store in the visits to the island of Ecrehos by fishermen from England as evidence of English (and later UK) sovereignty.[35] The court also put little store in hydrographical surveys by both the United Kingdom and France in the general vicinity of the islands; and it rejected the proposition that laying of buoys outside the reefs of the group could be manifestation of state authority in respect of the islands themselves.[36] In the light of the court’s attitude to these acts, the report of a dispatch by China, in about 1710, of a naval patrol to the general vicinity of the Paracel Islands, with no record of enforcement actions in respect of the islands, can probably be disregarded as evidence of state authority by China in the Paracel Islands. One could also cite the Grisbadarna case, where the placing of navigational aids was not regarded as conclusive by itself of Swedish sovereignty.[37]

By 1816, China therefore appears to have relinquished any title to the Paracel Islands that it may have established in the thirteen century.[38] If so, the islands would have been terra nullius at that time and subject to acquisition by occupation. The SRV can point to some events just after the annexation which, by analogy with the Clipperton Island arbitration, may have satisfied the contemporary requirements for effective occupation of the Paracel Islands by Annam. Its king, Minh Mang, ordered the erection of sovereignty markers on the islands and surveys of them to calculate their resources.[39] The first survey expedition in 1834 produced a map of one island but without completing any more detailed survey work.[40] A second mission, sent in 1838, was more successful and details of the flora and fauna were collected.[41] Some of this information was published in the Dai Nam Nhat Thong Toan Do (Complete Map of Vietnam) printed about 1838 and the Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien (Official Records of Dai Nam) of 1848.[42]

Of equal significance is that after 1816, China failed to exclude Annamite activity in the Paracel Islands. For most of the eighteenth century and part of the nineteenth century Annam maintained links with the islands that were probably as close as those maintained by China (fishing, salvage, and guano collection) without any evidence of protests by China.[43] During the nineteenth century, international law began to demand more regular exercise of sovereignty as a necessary proof of continued title to sovereignty, especially in respect of claims to territory resting on acts several centuries earlier.[44] The length of time elapsed between 1279 and 1816 is not of itself a decisive factor, but becomes so when taken with the total absence of any official Chinese presence on the Paracel Islands or official act in respect of them at that time.[45] The earliest indication in modern period of any Chinese interest in asserting sovereignty over the Paracel Islands came in 1883 when China reportedly protested the survey activities of a German military detachment on the Paracel Islands.[46]

Footnotes

[32] Monique Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys [Sovereignty of the Paracel and Spratly Islands], L’ Harmattan, Paris, 1996, p. 78. This scholar concluded that the Annamese rights established by the formal annexation represented only an inchoate title which remained to be consolidated. This view would appear to be consistent with international law.
[33] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, p.17.
[34] Minquiers and Ecrehos case , p. 65.
[35] ibid. p. 64. The Court said:
The close relationship between the Ecrehos and Jersey ceased and for a considerable period thereafter the islets were only occasionally visited by Jerseymen for the purpose of fishing and collecting seaweed.
Also, in the Bulama Arbitration , the activity of cutting timber on an island was considered a neutral act from the point of view of a claim to sovereignty. See D.W. Bowett, The Legal Regime of Islands in International Law , Oceana Publications, Dobbs Ferry NY, 1979, p.55.
[36] Minquiers and Ecrehos case , p. 70.
[37] Bowett, The Legal Regime of Islands in International Law , p. 54.
[38] Jennings, The Acquisition of Territory in International Law , p.30, says that a title once established can be relinquished by tacit abandonment by the state of its claim. Lindley, The Acquisition and Government of Backward Territory in International Law , p.51 asserts:
...a State has no right, by the mere repetition of an expression of its intention, or a merely fictitious occupation, to keep the territory without any authority for the protection of such persons as may live in it or resort to it.
Lindley (p.53) goes on to suggest how abandonment can in general terms be determined for a territory that has once been occupied:
In the absence of any definite statement of abandonment and any expression of an intention to reoccupy, or to occupy effectively, a reasonable time, depending on all the circumstances, must be allowed to elapse before the territory can be regarded as abandoned or forfeited; but even when such an intention is expressed, it amounts to nothing more than an element to be considered in determining what is a reasonable time.
[39] ‘Text of White Book’, K7- K8.
[40] Samuels, Contest for the South China Sea , p. 43.
[41] ibid.
[42] ‘Text of White Book’, K7- K8; Samuels, Contest for the South China Sea , p. 43.
[43] Samuels, Contest for the South China Sea , pp. 32-44, describes the activities of China and Annam in the Paracel Islands in the eighteenth century. There is no evidence in sources cited by the PRC or other commentators that the government of China knew of the Annamite activity in the Paracel Islands or of an Annamite claim to sovereignty over them. The evident lack of awareness by China of these events throughout the nineteenth century may provide an indirect indication of the degree to which China’s government had lost contact with the islands.
[44] Lindley, The Acquisition and Government of Backward Territory in International Law , pp. 132, 141. By 1816, the practice of demanding more regular exercise of sovereignty as proof of continued title had not crystallised fully but several precedents did exist. It was no longer sufficient that a state had performed a formal act to take possession. It is more than likely that in the early 1800s other states and international tribunals would have expected a state which had based a claim to territory only on one event of the thirteenth century to have maintainted some exercise of sovereignty since the thirteenth century.
[45] Tao, ‘The Sino-Japanese Dispute over the Tiao-yu-tai (Sensaku) Islands and the Law of Territorial Acquisition’, p. 239, concludes that international tribunals have not regarded time periods of several centuries between events demonstrating exercise of sovereignty as necessarily having the effect of nullifying title. International law does not set specific time periods in such matters but merely requires that ‘a reasonable time, depending on all the circumstances, must be allowed to elapse before the territory can be regarded as abandoned’. Lindley, The Acquisition and Government of Backward Territory in International Law , p.53.
[46] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, p. 17. By contrast, Heinzig, Disputed Islands in the South China Sea , pp. 25-6, says that the German detachment went to the Spratly Islands, but the author observes in a footnote that a British Admiralty Chart reports a German survey of the Paracel group in 1883. A statement made by a Chinese ambassador in his account of a voyage to the UK in 1876, to the effect that the Paracel Islands belong to China has also been cited by the PRC and Western commentators, but this statement cannot be considered as an act of the exercise of sovereignty over the islands. Compare, Heinzig, Disputed Islands in the South China Sea , p. 24; Samuels, Contest for the South China Sea , p. 52.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
16 + 0 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Bấm vào đây để xem thể lệ cuộc thi sáng tác video Quyền Con Người và Tôi 2013

Suy ngẫm

Nhiều người đấu tranh cho dân chủ tuyên bố nhân quyền là giá trị phổ quát, cần được bảo vệ ở Việt Nam. Nhưng bản thân họ lại ca ngợi hành vi xịt hơi cay vào Đàm Vĩnh Hưng của Lý Tống. Phải chăng chỉ có Đảng CSVN mới cần học cách tôn trọng con người?

— Tqvn2004

Mới Mới Mới

Từ khóa trong bài viết