Bauxite Việt Nam: Kiến nghị về sửa đổi Hiến Pháp 1992

Chia sẻ bài viết này

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (dưới đây gọi tắt là Dự thảo), chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây, xin trình bày với Quốc hội và Uỷ ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 một số kiến nghị, đồng thời mong mỏi toàn thể đồng bào trong và ngoài nước thẳng thắn nói lên ý kiến để nhân dân ta có một Hiến pháp bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và sự phát triển bền vững của đất nước, mang lại tự do hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai.

Hiến pháp của một quốc gia do dân làm chủ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân và được hình thành từ sự thỏa thuận giữa các thành phần đa dạng trong xã hội. Dự thảo chưa thấu suốt bản chất của một hiến pháp dân chủ, chưa thể hiện sự tin cậy, tín nhiệm của nhân dân với chính quyền theo tinh thần thỏa thuận kiến tạo một môi trường có sự kiểm soát bên trong và bên ngoài đối với quyền lực. Kiểm soát bên trong giữa các nhánh quyền lực nhà nước bằng các cơ chế đối trọng kiềm chế lẫn nhau, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp không thể vượt quá giới hạn được ấn định. Kiểm soát từ bên ngoài đối với công quyền được thực hiện bởi nhân dân với vai trò quan trọng của xã hội dân sự mà tiền đề là các quyền tự do về ngôn luận, báo chí, lập hội, hội họp, biểu tình,...

Hiến pháp phải mang tính chính đáng được đo bằng nhiều tiêu chí. Thứ nhất, hiến pháp phải có mục tiêu bảo vệ độc lập chủ quyền, kiến tạo tự do, dân chủ, công bằng, hạnh phúc; đồng thời đoàn kết toàn dân, loại bỏ mọi sự chia rẽ hay áp bức, hướng đến sự phát triển bền vững của dân tộc. Thứ hai, hiến pháp phải thể hiện ý chí chung của nhân dân, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân để lập ra các cơ quan nhà nước. Thứ ba, hiến pháp phải được xây dựng theo các nguyên tắc pháp luật phổ biến của thế giới văn minh, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Theo tinh thần đó, trước mắt chúng tôi kiến nghị 7 điểm như sau.

Kiến nghị thứ nhất về Lời nói đầu và về Chương I

Lời nói đầu của Dự thảo không làm rõ mục tiêu của hiến pháp và chủ thể quy định hiến pháp. Hiến pháp cần xác định mục tiêu trước hết là để bảo đảm sự an toàn, tự do và hạnh phúc của mọi người dân. Một bản hiến pháp tốt phải hạn chế sự lạm quyền của những người cầm quyền, tạo dựng khuôn khổ cho các sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hoá diễn ra một cách an bình và hiệu quả. Hiến pháp cũng phải hướng đến hạnh phúc của các thế hệ tương lai.

Quyền lập hiến (xây dựng, ban hành hay sửa đổi hiến pháp) là quyền sinh ra các quyền khác (lập pháp, hành pháp và tư pháp) phải thuộc về toàn dân, chứ không thể thuộc về bất kỳ một tổ chức hay cơ quan nào, kể cả Quốc hội. Lời nói đầu cần xác định rõ chủ thể quyết định, ban hành hiến pháp là nhân dân.

Lời nói đầu không phải là chỗ để tuyên dương công trạng của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

Lời nói đầu của Dự thảo không đáp ứng được các yêu cầu trên nên chúng tôi đề nghị bỏ và thay bằng:

Kế tiếp nền văn hiến và truyền thống bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã dựng xây và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân,

vì một xã hội dân chủ, công bằng và pháp quyền, vì tự do và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai,

chúng tôi, nhân dân Việt Nam, quyết định xây dựng và ban hành bản Hiến pháp này.

Trong Chương I, cần nhấn mạnh nguyên tắc chủ quyền nhân dân đòi hỏi phải tôn trọng ý của dân tộc. Nếu hiến pháp thực sự do nhân dân quyết định thì việc định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc về một tổ chức chính trị hay một tầng lớp là trái với quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân và ngược với bản chất của một nhà nước pháp quyền.

Chủ thể nào lãnh đạo xã hội sẽ do nhân dân bầu chọn ra trong các cuộc bầu cử tự do, dân chủ, định kỳ. Một chính đảng thực sự có chính nghĩa, phục vụ lợi ích của nhân dân sẽ không lo bị thất bại trong các cuộc bầu cử như vậy. Hiến pháp của Liên Xô năm 1977 quy định ở Điều 6 vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội đã không tránh được sự sụp đổ của chế độ Xô-viết khi không còn lòng tin của dân.

Việc đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước.

Ý kiến nêu trên được tiếp thu sẽ tạo cơ hội cho Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lại niềm tin đã từng có trong dân để thực sự trở thành lực lượng lãnh đạo chính trị được xã hội chấp nhận.

Kiến nghị thứ hai về quyền con người

Một mục đích của việc thành lập Nhà nước là để bảo vệ các quyền đương nhiên của con người.

Dự thảo đã điều chỉnh thứ tự để đề cao các quyền này so với Hiến pháp hiện hành, nhưng lại có nhiều điểm chưa phù hợp với các quy định và chuẩn mực quốc tế về quyền con người; như các quy định trong Dự thảo về giới hạn quyền (Điều 15), “không lợi dụng quyền con người, quyền công dân” (Điều 16), “quyền không tách rời nghĩa vụ (Điều 20). Dự thảo còn quy định quá nhiều nghĩa vụ một cách tùy tiện (Điều 41, Điều 42, Điều 49,…). Việc nhấn mạnh trong Dự thảo các lý do về quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, ổn định chính trị, việc đưa cụm từ “theo quy định của pháp luật”,... nhằm hạn chế những quyền đó sẽ mở đường cho việc nhân danh hiến pháp để vi phạm quyền con người, đàn áp các công dân thực thi quyền tự do như đã diễn ra trong thực tế những năm qua ở nước ta.

Chúng tôi yêu cầu sửa Dự thảo theo đúng tinh thần của Tuyên ngôn về Quyền Con người năm 1948 và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Nếu các quyền này được ghi trong Hiến pháp mà không được thực thi nghiêm túc như hiện nay, thì việc quy định các quyền ấy cũng trở nên vô nghĩa. Vì vậy chúng tôi yêu cầu Hiến pháp quy định thành lập một Ủy ban Quốc gia về Quyền Con người hoạt động độc lập.

Kiến nghị thứ ba về sở hữu đất đai

Chế độ sở hữu tư nhân về đất đai đã tồn tại từ lâu trên đất nước ta. Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân kể từ Hiến pháp Việt Nam 1980 là sự sao chép Hiến pháp Liên Xô, một điều hoàn toàn xa lạ với nhân dân Việt Nam và đã gây ra rất nhiều bất ổn xã hội. Điều 57 Dự thảo tiếp tục khẳng định đất đai “thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” là duy trì quy định sai trái, bỏ qua những vấn đề ngày càng trầm trọng do quy định này gây ra mà hàng triệu khiếu nại, khiếu kiện về đất đai trong những năm qua chỉ là phần nổi của tảng băng chìm hết sức nguy hiểm.

Không thừa nhận sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng về đất đai cùng tồn tại với sở hữu nhà nước là tước đoạt một quyền tài sản quan trọng bậc nhất của người dân. Đánh đồng sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân về đất đai là tạo điều kiện cho quan chức các cấp chính quyền tham nhũng, lộng quyền, bắt tay với nhiều tư nhân, doanh nghiệp cùng trục lợi, gây thiệt hại cho nhân dân, đặc biệt là nông dân.

Dự thảo còn “hợp hiến hóa” việc thu hồi đất, trong đó lại mở rộng phạm vi áp dụng cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội; đây là một sự thụt lùi so với Hiến pháp 1992 và có thể gây bùng nổ bất ổn xã hội.

Vì thế chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 57 của Dự thảo, trở lại như Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Có thể quy định như sau: “Sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng và nhà nước về đất đai được tôn trọng. Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ và thống nhất quản lý đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và các tài nguyên, nguồn lợi khác ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư.”

Thay thế quy định thu hồi đất bằng trưng mua đất và không áp dụng cho các dự án phát triển kinh tế-xã hội như nêu trong Điều 58 của Dự thảo.

Kiến nghị thứ tư về tổ chức Nhà nước

Tổ chức bộ máy Nhà nước phải phân biệt rạch ròi các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như các cơ quan hiến định khác. Tất cả các cơ quan nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp và luật. Các nhánh quyền lực ràng buộc, chế ước lẫn nhau nhưng không thể bị chi phối bởi bất kỳ một tổ chức hay cá nhân duy nhất nào, nghiêm cấm mọi sự độc quyền quyền lực. Đặc biệt, hệ thống tư pháp phải được bảo đảm trên thực tế quyền xét xử độc lập, chỉ dựa vào Hiến pháp và luật. Tòa án Hiến pháp phải được thành lập, có chức năng phán quyết, chứ không phải là tư vấn, kiến nghị như chức năng của Hội đồng Hiến pháp được quy định trong Dự thảo.

Kiến nghị thứ năm về lực lượng vũ trang

Hiến pháp đặt lợi ích của toàn dân lên trên lợi ích của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào. Mọi hoạt động của các lực lượng vũ trang chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân. Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, như quy định tại Điều 70 của Dự thảo. Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kiến nghị thứ sáu về trưng cầu dân ý đối với Hiến pháp

Quyền lập hiến là quyền của toàn dân, phải phân biệt với quyền lập pháp của Quốc hội. Vì vậy phải có trưng cầu dân ý để phúc quyết Hiến pháp. Chúng tôi đề xuất quy định trong Hiến pháp: “Bảo đảm quyền phúc quyết của nhân dân đối với Hiến pháp, thông qua trưng cầu dân ý được tổ chức thật sự minh bạch và dân chủ với sự giám sát của người dân và báo giới.

Kiến nghị thứ bảy về thời hạn góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp

Việc lấy ý kiến đóng góp của toàn dân về sửa đổi Hiến pháp là một việc hệ trọng đến vận mệnh quốc gia, phải được tiến hành một cách nghiêm chỉnh, không thể tắc trách, lấy lệ. Vì vậy, thời hạn lấy ý kiến của nhân dân chỉ trong vòng ba tháng là quá ngắn, dễ dẫn đến tình trạng làm một cách hình thức cho qua chuyện. Vì vậy chúng tôi kiến nghị gia hạn thời gian lấy ý kiến của nhân dân đến hết năm 2013, đồng thời khuyến khích đề xuất các dự thảo khác để Quốc hội, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp cùng toàn thể đồng bào tham khảo, so sánh, thảo luận nhằm xây dựng một bản hiến pháp phù hợp nhất cho quốc gia. [*]

Sửa Hiến pháp theo tinh thần của các kiến nghị nêu trên sẽ phát huy dân chủ và hoà hợp dân tộc – những đòi hỏi hết sức bức xúc của nhân dân trong giai đoạn trước mắt, cũng như cho sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước.

Chúng tôi tha thiết mong mỏi đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng bản Kiến nghị này bằng cách đăng ký tham gia ký tên theo địa chỉ thư điện tử: kiennghisuadoihienphap2013@gmail.com.

Hà Nội, ngày 19 tháng 1 năm 2013

DANH SÁCH NGƯỜI KÝ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992

  1. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  2. Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu, Hà Nội
  3. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức yêu nước TP Hồ Chí Minh, TP HCM
  4. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM
  5. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
  6. Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động, TP HCM
  7. Phạm Vĩnh Cư, nhà nghiên cứu, Hà Nội
  8. Nguyễn Xuân Diện, TS, Hà Nội
  9. Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  10. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
  11. Nguyễn Văn Dũng, nhà văn, võ sư, Huế
  12. Hồ Ngọc Đại, GS TS, nhà giáo, Hà Nội
  13. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh khóa 4, 5, TP HCM
  14. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
  15. Lê Hiền Đức, Giải thưởng Liêm chính 2007, Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Hà Nội
  16. Phan Hồng Giang, TSKH, Hà Nội
  17. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist), TP HCM
  18. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  19. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội
  20. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
  21. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội
  22. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  23. Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, Thành uỷ TP Hồ Chí Minh, TP HCM
  24. Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thừa Thiên - Huế, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế
  25. Nguyễn Văn Hồng (tức Cung Văn), nguyên Tổng Thư ký Ban chấp hành Sinh viên đoàn Đại học Văn khoa Sài Gòn 1964-1965, Đà Nẵng
  26. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
  27. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, Đà Nẵng
  28. Trần Ngọc Kha, nhà báo, Hà Nội
  29. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM
  30. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  31. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới, TP HCM
  32. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
  33. Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội
  34. Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội
  35. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
  36. Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  37. Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội
  38. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
  39. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An
  40. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
  41. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  42. Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn, Hà Nội
  43. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp Đại học, Hà Nội
  44. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin sáng, TP HCM
  45. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu, Huế
  46. Hoàng Xuân Phú, GS Viện Toán học, Hà Nội
  47. Trần Việt Phương, nguyên trợ lý Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  48. Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại tá Công an, Hà Nội
  49. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  50. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM
  51. Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội
  52. Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn, Hà Nội
  53. Lê Văn Tâm, TS, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Nhật Bản, Nhật Bản
  54. Trần Công Thạch, hưu trí, TP HCM
  55. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
  56. Trần Thị Băng Thanh, PGS TS, Hà Nội
  57. Lê Quốc Thăng, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  58. Đào Tiến Thi, thạc sĩ, Hà Nội
  59. Nguyễn Minh Thuyết, GS TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Hà Nội
  60. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
  61. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM
  62. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  63. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  64. Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, nguyên Chủ tịch Viện IDS, Hà Nội
  65. Lưu Trọng Văn, nhà báo, TP HCM
  66. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội
  67. Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM
  68. Nguyễn Hữu Vinh, nhà báo, Hà Nội
  69. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
  70. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, Huế
  71. Nguyễn Đông Yên, GS TS, Viện Toán học, Hà Nội
  72. Nguyễn Phú Yên, nhạc sĩ, TP HCM

__________________________________

Tài liệu tham khảo:

DỰ THẢO HIẾN PHÁP 2013

LỜI NÓI ĐẦU

Kế tiếp nền văn hiến và truyền thống bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã dựng xây và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì tự do và độc lập của dân tộc,

vì một xã hội công bằng, dân chủ và tôn trọng pháp quyền, vì mục tiêu hạnh phúc và tự do của các thế hệ hiện tại và tương lai,

chúng tôi, nhân dân Việt Nam, thông qua các đại biểu Quốc hội, xây dựng bản Hiến pháp này.

CHƯƠNG I. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Chủ quyền quốc gia

Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Điều 2. Chủ quyền nhân dân

Chủ quyền Việt Nam thuộc về nhân dân và tất cả các quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân. Quyền lập hiến là một quyền không thể bị tước đoạt của nhân dân.

Điều 3. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, có quyền phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

4. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, hội nhập vào sự phát triển chung của đất nước.

Điều 4. Công dân

1. Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được luật quy định.

2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam, giao nộp cho nhà nước khác.

3. Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài.

4. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

5. Người gốc Việt Nam có quốc tịch nước khác hoặc chưa có quốc tịch nước nào có quyền có quốc tịch Việt Nam.

6. Địa vị của người nước ngoài được đảm bảo theo quy định của luật pháp quốc tế và điều ước quốc tế.

Điều 5. Các điều ước quốc tế

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thừa nhận, kế thừa và tôn trọng các điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trước đây ký kết và ban hành không trái với các hiến pháp tương ứng và các quy tắc chung được luật pháp quốc tế công nhận vào thời điểm đó.

2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố nào mà các chính quyền Việt Nam trước đây đã ký kết hoặc đưa ra một cách bí mật, không đúng thẩm quyền hoặc không đúng theo các thủ tục pháp luật vào thời điểm đó.

3. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố do bất cứ đảng phái chính trị, tổ chức phi nhà nước hay cá nhân nào đã ký kết hoặc đưa ra, một cách bí mật hay công khai, liên quan đến chủ quyền hay lãnh thổ Việt Nam.

Điều 6. Tôn trọng hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nỗ lực duy trì hòa bình quốc tế và từ bỏ chiến tranh xâm lược.

2. Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và giữ gìn an ninh quốc gia là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

3. Các lực lượng vũ trang được trao sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.

4. Các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

Điều 7. Tính chất dân sự của lực lượng cảnh sát

Lực lượng cảnh sát có sứ mệnh thực thi luật pháp và giữ gìn trật tự. Cảnh sát thuộc lĩnh vực dân sự, không thuộc về các lực lượng vũ trang.

Điều 8. Trách nhiệm của công chức

1. Công chức là công bộc của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

2. Địa vị và tính trung lập chính trị của công chức được đảm bảo theo quy định của pháp luật

Điều 9. Đảng phái chính trị

1. Các đảng phái chính trị được tự do thành lập và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ. Quyền đối lập chính trị được tôn trọng.

2. Pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các đảng phái chính trị.

Điều 10. Nền kinh tế quốc dân

1. Nền kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dựa trên sự tôn trọng tự do và sáng kiến của các doanh nghiệp và cá nhân trong đời sống kinh tế.

2. Nhà nước có thể quy định và điều phối các hoạt động kinh tế nhằm duy trì sự tăng trưởng cân bằng, bền vững và ổn định, nhằm phân phối thu nhập, ngăn chặn sự thống lĩnh thị trường và lạm quyền kinh tế.

3. Nhà nước có nghĩa vụ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế để có nền kinh tế quốc gia cân đối. Nhà nước thúc đẩy kinh tế bằng việc phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực và khuyến khích sáng tạo.

Điều 11. Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô

1. Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

2. Quốc huy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

3. Quốc ca nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca.”

4. Ngày Quốc khánh là Ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.

5. Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Hà Nội.

CHƯƠNG II. QUYỀN CON NGƯỜI,

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

Điều 12. Nguyên tắc tôn trọng các quyền con người

1. Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các quyền con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế (1948) và các điều ước quốc tế về quyền con người khác mà Việt Nam là thành viên, được tôn trọng và bảo vệ.

2. Các cơ quan nhà nước, công chức và viên chức có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.

Điều 13. Quyền bình đẳng

1. Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào dựa vào giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các yếu tố khác.

2. Các nhóm thiểu số được ưu tiên bảo vệ.

Điều 14. Quyền sống, tự do và an toàn cá nhân

Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân. Quyền sống trong một môi trường trong lành của mọi người phải được tôn trọng và bảo vệ.

Điều 15. Tự do không bị làm nô lệ

Không ai bị bắt làm nô lệ hoặc bị cưỡng bức làm việc như nô lệ. Mọi hình thức nô lệ và buôn bán người đều bị cấm.

Điều 16. Quyền không bị tra tấn và các quyền trong lĩnh vực tư pháp hình sự

1. Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.

2. Không ai bị bắt, giữ hay giam giữ một cách tuỳ tiện. Trong vòng 24 giờ kể từ khi bị bắt, người bị bắt phải được đưa ra trước một tòa án để xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ việc bắt giữ.

3. Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên toà xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình.

4. Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi nào không cấu thành một tội phạm hình sự theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi đó. Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện.

Điều 17. Quyền được tòa án bảo vệ và quyền được xét xử công bằng

1. Mọi người đều có quyền được các toà án có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.

2. Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng, công khai bởi một toà án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ.

Điều 18. Bảo vệ danh dự, uy tín và quyền riêng tư

1. Danh dự và uy tín cá nhân của mọi người được tôn trọng.

2. Cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở và thư tín của mọi người được tôn trọng.

Điều 19. Quyền tự do đi lại và tự do cư trú

1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia.

2. Mọi người đều có quyền rời khỏi và quyền trở về Việt Nam.

Điều 20. Quyền kết hôn

1. Mọi người khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo hay giới tính.

2. Việc kết hôn chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai.

Điều 21. Quyền sở hữu

1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản tư nhân hoặc sở hữu chung với người khác. Không ai bị tước đoạt tài sản một cách tuỳ tiện.

2. Đất đai có thể thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng hoặc sở hữu nhà nước.

Điều 22. Tư do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo

Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.

Điều 23. Tự do ngôn luận, biểu tình, hội họp và lập hội

1. Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến bằng mọi hình thức. Tư nhân có quyền ra báo, xuất bản.

2. Mọi người đều có quyền tự do biểu tình, hội họp một cách ôn hoà.

3. Mọi người đều có quyền tự do lập hội. Không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ tổ chức nào.

Điều 24. Quyền tham gia chính trị

Mọi công dân đều có quyền tham gia quản lý đất nước, một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu mà họ tự do lựa chọn trong các cuộc bầu cử.

Điều 25. Quyền hưởng an sinh xã hội

Mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội.

Điều 26. Quyền lao động và nghiệp đoàn

1. Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp.

2. Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.

3. Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm.

4. Mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình.

5. Quyền đình công của người lao động được bảo đảm bằng luật.

Điều 27. Quyền có mức sống thích đáng

1. Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, góa bụa, già hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ.

2. Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Mọi trẻ em, dù sinh ra trong hay ngoài giá thú, đều phải được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 28. Quyền học tập

Mọi người đều có quyền học tập. Giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí.

Điều 29. Quyền về văn hóa

1. Mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích xuất phát từ những tiến bộ khoa học.

2. Mọi người đều có quyền được bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật nào mà người đó là tác giả.

Điều 30. Bảo vệ người tiêu dùng

Nhà nước phải có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Điều 31. Nguyên tắc chung của nghĩa vụ

Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng. Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

Điều 31. Nghĩa vụ nộp thuế

Mọi công dân có nghĩa vụ nộp thuế theo các điều kiện luật định.

Điều 32. Bảo vệ Tổ quốc và tri ân những người có công

1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng. Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tôn vinh công lao của tất cả những người đã hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc, ghi nhận và tôn vinh công lao của các thương binh, các cựu chiến binh bất luận họ đã phục vụ trong chính thể nào trong quá khứ và có chính sách hỗ trợ họ trong giáo dục, đào tạo nghề và trong mưu sinh.

Điều 33. Nghĩa vụ quân sự

Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia lực lượng vũ trang dự bị theo luật định.

CHƯƠNG III. LẬP PHÁP

Điều 34. Quốc hội

1. Quyền lập pháp được nhân dân ủy quyền cho Quốc hội. Quốc hội bao gồm Hạ viện và Thượng viện.

2. Thành viên của Quốc hội là các nghị sĩ, gồm Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ. Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ do nhân dân bầu ra thông qua bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

3. Không ai có thể đồng thời là Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ.

4. Quốc hội có quyền lập pháp, phê chuẩn việc bổ nhiệm lãnh đạo các cơ quan hành pháp, bổ nhiệm các thẩm phán, lãnh đạo các cơ quan hiến định độc lập theo quy định của Hiến pháp và luật.

Điều 35. Hạ nghị sĩ

1. Các Hạ nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và có thể được bầu lại.

2. Mỗi đơn vị bầu cử được bầu 1 (một) Hạ Nghị sĩ.

3. Đơn vị bầu cử Hạ Nghị sĩ gồm các đơn vị hành chính cơ sở (cấp xã) nằm trong một vùng sao cho các đơn vị có dân số xấp xỉ ngang nhau.

4. Số đơn vị bầu cử của một đơn vị hành chính cấp tỉnh được tính bằng số nguyên làm tròn của con số được tính bằng dân số của đơn vị cấp tỉnh đó (theo tổng điều tra dân số gần nhất) nhân với 250 rồi chia cho dân số toàn quốc. Một đơn vị hành chính cấp tỉnh có ít nhất một đơn vị bầu cử.

5. Mọi công dân đủ 25 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Hạ nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử nếu: (a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.

6. Tuy các Hạ nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước.

Điều 36. Thượng nghị sĩ

1. Các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và có thể được bầu lại.

2. Mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) là một đơn vị bầu cử Thượng Nghị sĩ.

3. Mọi công dân đủ 30 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Thượng nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử Thượng Nghị sĩ nếu: (a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.

4. Số Thượng nghị sĩ mà mỗi đơn vị được bầu cử là 2. Đối với những tỉnh có người dân tộc thiểu số quá 20 % dân số tỉnh đó, thì bắt buộc phải có 1 Thượng nghị sĩ là người dân tộc thiểu số.

5. Trong lần bầu Thượng nghị sĩ đầu tiên, mỗi đơn vị bầu cử, bằng bốc thăm, chọn ra 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm, sao cho cứ 3 năm sẽ tiến hành bầu lại một nửa số Thượng nghị sĩ của Thượng viện.

6. Tuy các Thượng nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước.

Điều 37. Bầu cử Thượng viện và Hạ viện

1. Việc bầu cử toàn bộ các Hạ nghị sĩ và các Thượng nghị sĩ lần đầu tiên theo Hiến Pháp này được tiến hành trong vòng 100 ngày kể từ ngày bản Hiến pháp có hiệu lực.

2. Nghị sĩ hết nhiệm kỳ vào ngày tính đúng 36 tháng đối với các Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ được bầu lần đầu có nhiệm kỳ 3 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức; vào ngày tính đúng 72 tháng đối với các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức.

3. Trong vòng 100 ngày trước khi các Nghị sĩ hết nhiệm kỳ, phải tổ chức bầu cử các Nghị sĩ mới cho nhiệm kỳ tiếp theo. Nếu đơn vị bầu cử không hội đủ số người đắc cử theo quy định thì phải tổ chức bầu lại từ các ứng viên thất cử của đợt bầu trước đó trong vòng 15 ngày sau khi cuộc bầu cử trước kết thúc. (Các) đợt bầu cử lại này được tiến hành cho đến khi chọn đủ số người đắc cử theo quy định và trong mọi trường hợp phải kết thúc trước ngày các Nghị sĩ đương nhiệm hết nhiệm kỳ 15 ngày.

4. Nếu khuyết Nghị sĩ vì bất cứ lý do gì, thì (a) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại dưới 1 năm sẽ không có bầu cử bổ sung; hoặc (b) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại bằng hay trên 1 năm phải tổ chức bầu bổ sung tại đơn vị bầu cử đó cho đủ số bị khuyết trong vòng 60 ngày kể từ khi các Viện xác nhận sự khuyết. Nhiệm kỳ của người được bầu bổ sung sẽ chấm dứt cùng với nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đương nhiệm.

5. Thủ tục ứng cử, tranh cử, bầu cử được quy định chi tiết trong luật bầu cử.

Điều 38. Sự chuyên trách, tuyên thệ và quyền miễn trừ của Nghị sĩ

1. Trong khi đương nhiệm các Nghị sĩ không được đồng thời giữ bất kỳ chức vụ nào khác tại bất kỳ cơ quan, tổ chức công hay tư, trong các lực lượng vũ trang hay cảnh sát. Nếu đã giữ các chức vụ như vậy trước khi được bầu làm Nghị sĩ thì phải chính thức từ nhiệm các chức vụ đó trước khi thực hiện nhiệm vụ Nghị sĩ và việc từ chối từ nhiệm sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.

2. Các Nghị sĩ được trả lương từ Ngân khố quốc gia.

3. Các Nghị sĩ, trước khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, sẽ phải tuyên thệ trước mỗi Viện: “Tôi long trọng tuyên thệ thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách mẫn cán và tận tâm, để bảo vệ chủ quyền và các lợi ích của nhân dân và đất nước; làm mọi việc trong thẩm quyền của mình vì sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc của nhân dân; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc từ chối tuyên thệ sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.

4. Nghị sĩ sẽ không phải chịu trách nhiệm bên ngoài nghị viện về ý kiến chính thức đã nêu hoặc về việc bỏ phiếu của mình tại Nghị viện.

5. Không Nghị sĩ nào có thể bị bắt hoặc giam giữ mà không được sự đồng ý của với đa số 2/3 của các Nghị sĩ của Nghị Viện mà Nghị sĩ đó là thành viên, ngoại trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Điều 39. Tính liêm chính và tránh xung đột lợi ích của Nghị sĩ

1. Nghị sĩ có nghĩa vụ duy trì chuẩn mực cao về liêm chính, phải ưu tiên lợi ích quốc gia và thực hiện các nhiệm vụ của mình phù hợp với lương tâm.

2. Nghị sĩ không được lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình, không được đòi hỏi các lợi ích về tài sản hay địa vị, hoặc giúp người khác thu lợi, thông qua thông đồng hay sự sắp xếp của nhà nước, các tổ chức công quyền hay các ngành công nghiệp.

3. Nghị sĩ phải khai báo tài sản của mình theo luật định.

4. Nghị sĩ, vợ hay chồng của Nghị sĩ, cũng như các doanh nghiệp do họ sở hữu hay chiếm quyền chi phối, không thể tham dự các cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền và các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu hay chiếm quyền chi phối.

Điều 40. Tổ chức Hạ viện

1. Mỗi Hạ nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Hạ viện.

2. Mọi quyết định của Hạ viện được coi là được thông qua nếu được đa số phiếu, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.

3. Hạ viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.

4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Hạ viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Hạ viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.

5. Hạ viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể thể lập ra Văn phòng Hạ viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời

Điều 41. Tổ chức Thượng viện

1. Mỗi Thượng nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Thượng Nghị Viện.

2. Mọi quyết định của Thượng viện sẽ coi là được thông qua nếu được đa số phiếu tán thành, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.

3. Thượng Nghị Viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.

4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Thượng Nghị Viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Thượng Nghị Viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.

5. Thượng Nghị Viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể thể lập ra Văn phòng Thượng viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời.

Điều 42. Họp Hạ viện, Thượng viện và Quốc hội

1. Trừ trường hợp Hiến pháp hay luật quy định khác, cuộc họp của Hạ viện (hay Thượng viện) là hợp lệ nếu có mặt của đa số trong tổng số Hạ nghị sĩ (hay Thượng nghị sĩ), quyết định hợp lệ được thông qua với đa số phiếu hiện diện.

2. Họp Quốc hội là phiên họp chung của Hạ viện và Thượng viện do Chủ tịch Hạ viện chủ tọa hay Chủ tịch Thượng viện chủ tọa khi Chủ tịch Hạ viện vắng mặt. Quốc hội ban hành quy chế về thủ tục, thể thức họp Quốc hội. Các quyết định của Quốc hội là các quyết định được đưa ra tại các phiên họp chung này.

3. Các cuộc họp của Hạ viện, Thượng viện, Quốc hội được mở công khai cho công chúng, trừ khi đa số thành viên có mặt quyết định, hoặc khi Chủ tịch xét thấy cần thiết vì lợi ích an ninh quốc gia thì công chúng không thể tham dự.

4. Việc công bố công khai các thủ tục của kỳ họp kín sẽ được luật quy định.

5. Biên bản cuộc họp phải đầy đủ, chi tiết, ghi rõ ý kiến và số phiếu biểu quyết của từng Nghị sĩ. Có thể đồng thời ghi âm, ghi hình cuộc họp để lưu trữ. Mọi công dân đều có quyền tiếp cận biên bản của các cuộc họp mở công khai, theo thủ tục do luật định.

Điều 43. Quyền trình dự án luật

1. Các Nghị sĩ, cơ quan hành pháp có thể đệ trình dự án luật.

2. Một nhóm ít nhất 30.000 cử tri có quyền trình dự án luật. Thủ tục về việc này do luật quy định.

3. Dự án luật phải được nộp cho Văn phòng Hạ viện

4. Người, hay nhóm công dân bảo trợ dự án luật, khi đệ trình dự án luật cho Hạ viện, có trách nhiệm giải trình rõ các hệ quả về tài chính của việc thực thi dự án luật.

5. Người, nhóm người hay cơ quan trình dự án luật có thể rút lại dự án luật trong quá trình thẩm định và xem xét thông qua.

Điều 44. Thẩm định, thảo luận, thông qua dự luật

1. Dự án luật, dự thảo luật đã được đệ trình lên Hạ viện được gọi chung là dự luật. Dự luật phải trải qua các khâu thẩm định theo quy định của luật.

2. Hạ viện thảo luận, xem xét dự luật và biểu quyết thông qua với đa số phiếu hiện diện hay bác bỏ. Trong mọi trường hợp nghị quyết thông qua hay bác bỏ, trong vòng 3 ngày dự luật cùng hồ sơ bác bỏ hay thông qua đều phải chuyển sang Văn phòng Thượng viện.

3. Nếu Hạ viện đã thông qua dự luật thì dự luật được Thượng viện xem xét và dự luật được Thượng viện thông qua nếu đạt đa số phiếu hiện diện chấp thuận. Trong trường hợp đó dự luật đã được Quốc hội (cả 2 viện) thông qua.

4. Nếu Thượng viện bác bỏ thì trong vòng 3 ngày dự luật phải được chuyển lại cho Hạ viện cùng với nghị quyết nêu rõ lý do bác bỏ. Hạ viện sẽ xem xét lại và nếu dự luật được Hạ viện thông qua lần nữa với đa số 2/3 của các Hạ nghị sĩ thì dự luật được coi là đã được Quốc hội thông qua, nếu không đạt đa số 2/3 thì vẫn phải chuyển qua Thượng viện xem xét.

5. Trong trường hợp đặc biệt, nếu xét thấy cần, Hạ viện có thể yêu cầu Thượng viện xem xét và biểu quyết trước một dự luật, sau đó Hạ viện mới xem xét và biểu quyết. Khi đó vai trò của mỗi Viện thay thế cho nhau trong quy trình nêu trên.

6. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Thượng viện không được quá một nửa (1/2) thời gian xem xét và biểu quyết tại Hạ viện. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Hạ viện không được quá hai lần thời gian xem xét và biểu quyết tại Thượng viện.

7. Dự án luật không thể bị loại bỏ vì không được thông qua trong kỳ họp mà nó được trình ra, ngoại trừ trong trường hợp nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đã hết.

Điều 45. Dự luật trở thành luật

1. Dự luật đã được Quốc hội thông qua phải được gửi đến Tổng thống trong vòng 7 ngày.

2. Sau khi nhận được dự luật đã được Quốc hội thông qua, Tổng thống có thể chuyển dự luật cho Tòa án Hiến pháp để xét xem có phù hợp với Hiến pháp hay không. Trong trường hợp Tòa án Hiến Pháp xác minh dự luật phù hợp với Hiến pháp, nó trở thành luật. Trong trường hợp dự luật có các điều khoản cụ thể được Tòa án Hiến pháp cho là không hợp hiến và Tòa án Hiến pháp không xác định các điều khoản đó là không thể tách rời toàn bộ dự luật, thì Tổng Thống có thể loại bỏ các điều khoản được cho là vi hiến đó sau khi đã tham vấn ý kiến của Chủ tịch Hạ viện và dự luật trở thành luật với sự loại bỏ đó.

3. Trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được dự luật từ Quốc hội, nếu Tổng thống chấp thuận thì dự luật trở thành luật.

4. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, thì trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được từ Quốc hội, Tổng thống phải gửi trả lại Quốc hội xem xét lại dự luật với giải thích bằng văn bản sự phản đối, nhưng không được yêu cầu Quốc hội xem xét lại từng phần của dự luật hay đưa ra đề xuất sửa đổi.

5. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, nhưng quá thời hạn 15 ngày kể trên mà Tổng thống không trả lại dự luật cho Quốc hội, thì dự luật tự động trở thành luật.

6. Trong trường hợp Tổng thống trả dự luật lại cho Quốc hội, Quốc hội phải xem xét lại dự luật, sau đó: (a) sửa đổi theo trình tự thông thường, hoặc (b) thông qua văn bản gốc của dự luật với đa số 2/3 của các đại biểu có mặt, trường hợp này thì dự luật trở thành luật.

Điều 46. Công bố luật

1. Khi dự luật đã trở thành luật, Tổng thống phải công bố luật không chậm trễ.

2. Trong trường hợp dự luật tự động trở thành luật (theo Khoản 5 Điều 45) hay trở thành luật theo (b) Khoản 6 Điều 45, thì Tổng Thống cũng phải ký công bố không chậm trễ; nếu Tổng Thống vẫn không công bố thì Chủ tịch Hạ viện ký công bố và hành vi này của Tổng Thống có thể trở thành căn cứ cho việc luận tội vi phạm Hiến pháp.

3. Luật được công bố trên Công báo và có hiệu lực vào ngày do luật định hoặc 30 ngày sau ngày ký công bố nếu luật không định rõ ngày có hiệu lực.

Điều 47. Ngân sách

1. Không một khoản tiền nào từ ngân sách nhà nước được chi, cho dù Cơ quan Hành pháp có yêu cầu, nếu chưa được Quốc hội thông qua.

2. Hành pháp sẽ soạn thảo dự luật ngân sách cho mỗi năm tài chính và đệ trình Hạ viện ít nhất 90 ngày trước ngày khởi đầu của năm tài chính mới.

3. Quốc hội không tăng số tiền của bất kỳ khoản chi nào, không tạo ra bất kỳ mục chi mới nào trong dự luật ngân sách nếu không có sự đồng ý của Cơ quan Hành pháp.

4. Hạ viện quyết định về dự luật ngân sách trong vòng 45 ngày kể từ ngày dự luật ngân sách được đệ trình và chuyển cho Thượng viện.

5. Thượng viện quyết định về dự luật ngân sách đã được Hạ viện chuyển qua trong vòng 20 ngày.

6. Nếu dự luật ngân sách không được thông qua trước khi bắt đầu năm tài chính mới, Cơ quan Hành pháp có thể giải ngân, theo cách phù hợp với ngân sách của năm tài chính trước, cho các mục đích sau đây cho đến khi dự luật ngân sách được Quốc hội thông qua: (a) cho việc duy trì hoạt động của các cơ quan được thành lập theo Hiến pháp hay luật; (b) cho việc thực hiện các khoản chi bắt buộc theo quy định của pháp luật; và (c) cho việc tiếp tục các dự án trước đó đã được phê duyệt trong ngân sách.

7. Hạ viện và Thượng viện có thể có phiên họp chung để xem xét và quyết định về ngân sách khi thấy cần thiết.

Điều 48. Kiểm toán thu chi ngân sách

Báo cáo tài chính cuối cùng về thu chi ngân sách quốc gia sẽ được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán hàng năm và trình cho Quốc hội.

Điều 49. Thuế

Các loại và mức thuế được xác định bằng luật.

Điều 50. Nợ

Mọi kế hoạch của Cơ quan Hành pháp về phát hành trái phiếu quốc gia và ký kết hợp đồng mà có thể phát sinh nghĩa vụ tài chính ngoài ngân sách của Nhà nước đều phải được Hạ viện phê chuẩn.

Điều 51. Chất vấn

1. Hạ nghị sĩ có quyền chất vấn các Bộ trưởng bằng văn bản hoặc bằng các câu hỏi trực tiếp tại các phiên họp của Hạ viện.

2. Chất vấn bằng văn bản phải được trả lời bằng văn bản trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn.

3. Các Bộ trưởng có trách nhiệm trả lời các câu hỏi được nêu ra trong mỗi phiên họp của Hạ viện.

Điều 52. Điều trần

1. Để phục vụ cho hoạt động lập pháp, các ủy ban của Hạ viện và Thượng viện có thể tổ chức các cuộc điều trần để nghe những người có liên quan giải thích, làm rõ những vấn đề nhất định nhằm tạo cơ sở cho các quyết định lập pháp và giám sát của Quốc hội.

2. Những người được mời điều trần trước các ủy ban có thể là các Nghị sĩ, các quan chức chính phủ, lãnh đạo các tổ chức dân sự, công đoàn, các doanh nhân, chuyên gia, học giả, nhà khoa học...

3. Để chọn ra các quan chức có chất lượng, tất cả các ứng viên tiềm năng vào các chức Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ tịch hay lãnh đạo của các cơ quan hiến định đều phải điều trần trước khi được bổ nhiệm và phê chuẩn

4. Thủ tục mời và tiến hành điều trần do luật định.

5. Biên bản các cuộc điều trần được công bố công khai, trừ các cuộc điều trần liên quan đến an ninh quốc gia, và được lưu trữ theo luật định.

Điều 53. Trưng cầu dân ý toàn quốc

1. Cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có thể được tổ chức về những vấn đề đặc biệt quan trọng đối với nhân dân và quốc gia.

2. Hạ viện có thể quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Tổng thống với sự chấp thuận của Thượng viện có quyền quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Khi có yêu cầu của trên 500 ngàn cử tri thì phải tổ chức trưng cầu dân ý.

3. Kết quả của cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có tính bắt buộc nếu có hơn ½ số người có quyền bầu cử tham gia cuộc trưng cầu dân ý.

4. Các nguyên tắc và thủ tục tổ chức cuộc trưng cầu dân ý do luật định

Điều 54. Giám sát, điều tra và bãi nhiệm

1. Hạ viện có thể giám sát công việc của nhà nước hoặc điều tra những vấn đề cụ thể của công vụ nhà nước, có quyền yêu cầu đệ trình các tài liệu trực tiếp liên quan đến các vấn đề đó, yêu cầu nhân chứng cung cấp lời khai hoặc báo cáo.

2. Dựa trên kết quả giám sát, điều tra, chất vấn và điều trần, Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Bộ trưởng.

3. Các thủ tục và các vấn đề liên quan đến giám sát và điều tra hành chính nhà nước được luật quy định.

Điều 55. Phế truất Tổng thống

1. Quyết định truy tố Tổng thống về việc vi phạm Hiến pháp hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng phải được Hạ viện thông qua bằng nghị quyết với ít nhất đa số 2/3 tổng số thành viên Hạ viện, trên cơ sở đề nghị của ít nhất 60 Hạ nghị sĩ.

2. Quyết định truy tố Tổng thống được xét xử bởi Thượng viện.

3. Từ ngày có quyết định truy tố, Tổng thống bị tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời đảm nhiệm chức vụ quyền Tổng thống. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống vô tội thì việc tạm đình chỉ nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống có tội thì Tổng thống bị phế truất.

Điều 56. Phê chuẩn điều ước quốc tế

1. Quốc hội có quyền đồng ý ký kết và phê chuẩn các điều ước quốc tế liên quan đến an ninh; các điều ước quốc tế liên quan đến các tổ chức quốc tế quan trọng; các điều ước hữu nghị, thương mại và hàng hải; các điều ước quốc tế liên quan đến bất kỳ hạn chế nào về chủ quyền; các điều ước hòa bình; các điều ước quốc tế phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng đối với Nhà nước hoặc nhân dân; và các điều ước quốc tế liên quan đến lập pháp.

2. Đại diện có thẩm quyền và được ủy quyền để ký các điều ước quốc tế chỉ được ký điều ước sau khi đã được sự đồng ý của Quốc hội.

3. Sau khi được Quốc hội phê chuẩn, Tổng thống ký công bố điều ước quốc tế và điều ước có hiệu lực.

Điều 57. Tuyên bố tình trạng chiến tranh

1. Quốc hội có quyền nhân danh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố tình trạng chiến tranh và ký kết hiệp ước hòa bình.

2. Quốc hội chỉ có thể thông qua nghị quyết về tình trạng chiến tranh trong trường hợp có sự xâm lược quân sự đối với lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời gian Quốc hội không họp, Tổng thống có thể tuyên bố tình trạng chiến tranh.

CHƯƠNG IV. HÀNH PHÁP

Điều 58. Quyền hành pháp

1. Quyền hành pháp được nhân dân ủy quyền cho Tổng thống.

2. Tổng thống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nguyên thủ quốc gia và bảo đảm cho sự liên tục của cơ quan nhà nước.

3. Tổng thống có trách nhiệm bảo đảm việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia cũng như sự bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

4. Tổng thống thực hiện nhiệm vụ của mình trong phạm vi và theo các nguyên tắc do Hiến pháp và luật quy định.

Điều 59. Bầu Tổng thống và Phó Tổng thống

1. Tổng thống và Phó Tổng thống cùng đứng chung một liên danh, do cử tri bầu ra trong cuộc bầu cử phổ thông, bình đẳng và trực tiếp bằng phiếu kín.

2. Công dân Việt Nam đủ 35 tuổi, tính đến ngày bầu cử, và có quyền bầu cử Quốc hội, có thể là ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống. Ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống, với tư cách một liên danh chung, phải có được chữ ký ủng hộ của ít nhất 100 ngàn công dân có quyền bầu cử Quốc hội.

3. Liên danh nhận được hơn 1/2 tổng số phiếu bầu hợp lệ sẽ trúng cử chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống.

4. Nếu không liên danh nào nhận được đa số phiếu, thì sẽ tổ chức lại việc bỏ phiếu giữa 2 liên danh đạt số phiếu cao nhất vào ngày thứ 14 sau ngày bỏ phiếu lần thứ nhất.

5. Nếu một trong hai liên danh tham gia vòng bầu thứ hai đồng ý rút khỏi danh sách, một trong hai người trong liên danh mất quyền bầu cử hoặc chết, thì liên danh đạt phiếu cao kế tiếp trong lần bầu thứ nhất sẽ thay thế liên danh đó. Trong trường hợp này, ngày bỏ phiếu sẽ được gia hạn thêm 14 ngày.

6. Liên danh nhận được số phiếu bầu cao hơn trong lần bỏ phiếu lần thứ hai sẽ là những người được bầu làm Tổng thống và Phó Tổng thống.

7. Các nguyên tắc và thủ tục đề cử ứng cử viên Tổng thống, Phó Tổng thống cách thức tiến hành bầu cử cũng như những yêu cầu về tính hợp lệ của cuộc bầu cử Tổng thống sẽ do luật quy định.

8. Chủ Tịch Hạ viện ra quyết định tổ chức cuộc bầu cử Tổng thống không trước 120 ngày và không sau 100 ngày tính đến ngày hết nhiệm kỳ Tổng thống; trong trường hợp khuyết Tổng thống, không muộn hơn 14 ngày kể từ thời điểm bị khuyết. Quyết định tổ chức bầu cử phải quy định rõ ngày bầu cử sẽ là một ngày nghỉ trong khoảng thời gian giữa 60 đến 67 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Điều 60. Tuyên thệ nhậm chức và nhiệm kỳ Tổng thống

1. Tại lễ nhậm chức trước Quốc hội, Tổng thống sẽ tuyên thệ như sau: “Tôi trịnh trọng tuyên thệ trước nhân dân rằng sẽ trung thành thực thi các nghĩa vụ của Tổng thống bằng việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ quốc gia, thúc đẩy tự do và thịnh vượng của nhân dân, nỗ lực bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc”.

2. Tổng thống và Phó Tổng thống có nhiệm kỳ 5 năm tính từ ngày nhậm chức. Một người không thể làm Tổng thống quá hai nhiệm kỳ.

Điều 61. Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ trước thời hạn

1. Nhiệm vụ của Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những trường hợp sau: (a) Tổng thống chết; (b) Tổng thống từ chức; (c) Tổng thống bị truất quyền; và (d) do bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài, Tổng thống không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực, trong trường hợp (d), phải được Quốc hội xác nhận với đa số 3/4 tổng số Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ, sau các cuộc giám định y khoa.

2. Trong trường hợp Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ, Phó Tổng thống sẽ đảm nhận chức Tổng thống trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ.

3. Trong trường hợp khuyết Phó Tổng thống, Thượng viện bầu Phó Tổng thống mới theo đề nghị của Tổng thống.

4. Trường hợp đồng thời khuyết cả Tổng thống và Phó Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời làm quyền Tổng thống cho đến khi Quốc hội bầu ra Tổng thống và Phó Tổng thống mới, theo phương thức đa số, cho thời gian còn lại của nhiệm kỳ.

Điều 62. Thẩm quyền của Tổng thống

Tổng thống có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Hoạch định chính sách quốc gia;

2. Ký ban hành các đạo luật;

3. Ký các điều ước quốc tế, sau khi được Quốc hội phê chuẩn ký ban hành các điều ước quốc tế;

4. Bổ nhiệm các đại sứ với sự phê chuẩn của Thượng viện;

5. Tiếp nhận quốc thư, đón nhận các phái đoàn ngoại giao;

6. Tổ chức các cơ quan hành pháp theo quy định của luật;

7. Chỉ đạo hoạt động của các cơ quan hành pháp;

8. Bổ nhiệm các Bộ trưởng với sự chấp thuận của Quốc hội;

9. Bãi nhiệm các Bộ Trưởng;

10. Tổ chức các Hội đồng tư vấn;

11. Quyết định các vấn đề được luật quy định về đặc xá, giảm án, phục hồi các quyền và đại xá;

12. Trao các tước vị và danh hiệu theo các điều kiện luật định;

13. Trao quốc tịch Việt Nam;

14. Các quyền khác theo luật định.

Điều 63. Thống lĩnh tối cao các lực lượng vũ trang

1. Tổng thống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Thống lĩnh tối cao của các lực lượng vũ trang Việt Nam.

2. Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thống phong cấp bậc quân hàm quân đội theo quy định của luật.

3. Thẩm quyền của Tổng thống về quyền thống lĩnh tối cao đối với các lực lượng vũ trang sẽ được quy định cụ thể trong luật.

Điều 64. Thủ tướng và các thành viên Chính phủ

1. Thủ tướng và các Bộ trưởng là các thành viên Chính phủ, được Tổng thống bổ nhiệm và Quốc hội phê chuẩn.

2. Thủ tướng có trách nhiệm hỗ trợ Tổng thống và điều hành các Bộ theo chỉ đạo của Tổng thống.

3. Không ai trong quân đội có thể được bổ nhiệm làm Thủ tướng trừ khi đã giải nhiệm.

4. Cơ quan công tố thuộc Bộ Tư pháp.

CHƯƠNG V. TƯ PHÁP

Điều 65. Hoạt động tư pháp

1. Quyền lực tư pháp được trao cho các tòa án, gồm các thẩm phán có trình độ chuyên môn theo luật định.

2. Các tòa án gồm: Tòa án Tối cao, tòa án các cấp khác và Tòa án Hiến pháp.

Điều 66. Tổ chức Tòa án Tối cao

1. Trong Tòa án Tối cao có Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.

2. Trong Tòa án Tối cao có thể thành lập các tòa chuyên trách.

3. Việc tổ chức Tòa án Tối cao, các tòa án chuyên trách và các tòa án khác theo luật định.

Điều 67. Thẩm phán Toà án Tối cao

1. Chánh án Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội.

2. Các Thẩm phán Tòa án Tối cao do Tổng thống bổ nhiệm theo đề xuất của Chánh án Tòa án Tối cao và với sự đồng ý của Quốc hội.

3. Các thẩm phán khác do Chánh án Tòa án Tối cao bổ nhiệm với sự đồng ý của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Điều 68. Nhiệm kỳ thẩm phán Toà án Tối cao

1. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án Tối cao là 6 năm và không thể được tái bổ nhiệm.

2. Nhiệm kỳ của thẩm phán của Tòa án Tối cao là 6 năm và họ có thể được tái bổ nhiệm theo quy định của luật.

3. Nhiệm kỳ của các thẩm phán ngoài Chánh án và Thẩm phán của Tòa án Tối cao là 10 năm, họ có thể được tái bổ nhiệm theo các điều kiện luật định.

4. Tuổi về hưu của các thẩm phán được luật quy định.

Điều 69. Tòa án Hiến pháp

Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền xét xử đối với các vấn đề sau đây:

1. Sự phù hợp của luật và điều ước quốc tế với Hiến pháp;

2. Sự phù hợp của các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành với Hiến pháp;

3. Sự phù hợp của mục tiêu, hoạt động của các đảng chính trị với Hiến pháp;

4. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với chính quyền địa phương và giữa các chính quyền địa phương;

5. Khiếu nại của những người cho rằng các quyền hiến định của họ đã bị xâm phạm bởi một đạo luật hay văn bản pháp luật khác trái với Hiến pháp.

Điều 70. Tổ chức Tòa án Hiến pháp

1. Tòa án Hiến pháp gồm 15 thẩm phán được Quốc hội bầu chọn trong số những người có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp có nhiệm kỳ 9 năm và không thể được bầu chọn nhiều hơn một nhiệm kỳ.

2. Chánh án và Phó Chánh án Tòa án Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm trong số các ứng cử viên do Hội đồng thẩm phán Tòa án Hiến pháp giới thiệu

3. Tổ chức và hoạt động của Tòa án Hiến pháp được quy định trong một đạo luật.

Điều 71. Nguyên tắc độc lập

Thẩm phán các tòa án phải xét xử độc lập theo lương tâm, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Thẩm phán không được tham gia các đảng chính trị.

CHƯƠNG VI. CÁC CƠ QUAN HIẾN ĐỊNH ĐỘC LẬP

Điều 72. Các cơ quan hiến định độc lập

Các cơ quan hiến định độc lập, không phải là các cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp, bao gồm Ngân hàng Trung ương, Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban Bầu cử, Ủy ban Nhân quyền và Hội đồng Hoà giải Dân tộc.

Điều 73. Ngân hàng Trung ương

1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ngân hàng Trung ương của Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa

2. Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được quy định bởi một đạo luật.

Điều 74. Kiểm toán Nhà nước

1. Kiểm toán Nhà nước hoạt động theo các nguyên tắc nghề nghiệp.

2. Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các pháp nhân và tổ chức nhà nước về tính hợp pháp, tính kinh tế, hiệu quả và sự mẫn cán.

3. Kiểm toán Nhà nước trực thuộc Hạ viện và có trách nhiệm trình Hạ viện: các báo cáo phân tích việc thực hiện ngân sách và các mục tiêu của chính sách tiền tệ; ý kiến liên quan đến việc chấp thuận quyết toán ngân sách; thông tin về kết quả kiểm toán, kết luận kiểm toán và kiến nghị theo quy định của luật.

4. Chủ tịch Kiểm toán Nhà nước không được tham gia đảng chính trị hay bất cứ hoạt động công vụ nào khác không phù hợp với chức trách của mình.

5. Tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước được quy định bằng một đạo luật.

Điều 75. Ủy Ban Bầu cử

1. Các Ủy ban Bầu cử được thiết lập với mục đích điều hành công bằng các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý toàn quốc, xử lý các vấn đề hành chính liên quan đến các chính đảng.

2. Ủy ban Bầu cử Trung ương gồm 3 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, 3 thành viên do Quốc hội lựa chọn và 3 thành viên do Chánh án Tòa án Tối cao lựa chọn. Các thành viên của Ủy ban thành viên bầu ra một Chủ tịch.

3. Nhiệm kỳ của thành viên Ủy ban là 6 năm.

4. Các thành viên Ủy ban không thể tham gia các đảng chính trị hoặc các hoạt động chính trị.

5. Các chiến dịch tranh cử được thực hiện dưới sự điều hành của Ủy ban Bầu cử mỗi cấp trong phạm vi luật định với nguyên tắc bảo đảm cơ hội bình đẳng cho các ứng cử viên.

6. Tổ chức, chức năng và các vấn đề quan trọng khác của Ủy ban Bầu cử Trung ương và Ủy ban Bầu cử các cấp sẽ do luật quy định

Điều 76. Ủy ban Nhân quyền

1. Ủy ban Nhân quyền là một cơ quan độc lập, có vai trò thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 và trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ủy ban Nhân quyền do Hạ viện thành lập với sự đồng thuận của Thượng viện, gồm 9 thành viên, có sự tham gia của đại diện nhiều thành phần xã hội.

2. Ủy ban Nhân quyền có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a. Giáo dục và nâng cao nhận thức của công chúng, công chức và viên chức về quyền con người;

b. Tư vấn cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội về các vấn đề liên quan đến quyền con người;

c. Nghiên cứu, đề xuất việc gia nhập các điều ước quốc tế về quyền con người;

d. Nhận các khiếu nại về các vi phạm các quyền được quy định tại tại Hiến pháp này hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

3. Thành viên Ủy ban Nhân quyền không giữ bất kỳ chức vụ nào khác, trừ chức vụ giảng viên đại học, cũng không thực hiện bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào khác. Các thành viên cũng không được tham gia đảng chính trị nào, không thực hiện các nhiệm vụ công không phù hợp với chức trách của mình.

4. Phương thức tổ chức và hoạt động của Ủy ban Nhân quyền sẽ được quy định bởi một đạo luật.

Điều 77. Hội đồng Hoà giải Dân tộc

1. Hội đồng Hoà giải Dân tộc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hận, hướng đến việc khắc phục các sai lầm trong quá khứ, nhằm mang lại công bằng, đoàn kết dân tộc, phát huy các năng lực của người Việt Nam trên toàn thế giới.

2. Hội đồng Hoà giải Dân tộc gồm 19 thành viên do Hạ viện bổ nhiệm với sự đồng thuận của Thượng viện. Năm (5) thành viên đến từ mỗi khu vực miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam và bốn (4) thành viên thuộc cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

3. Hội đồng Hoà giải Dân tộc có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a. Nghiên cứu, xác định lại giá trị pháp lý của các luật, điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trong quá khứ ban hành, ký kết trái thẩm quyền hoặc gây hại nghiêm trọng cho quốc dân. Đề xuất với Quốc hội các giải pháp khắc phục các sai lầm quá khứ.

b. Tập hợp thông tin, đề nghị trả tự do, tổ chức việc đối thoại, xin lỗi, bồi thường cho những người đã từng bị xử phạt, điều tra, truy tố, xét xử oan, chỉ vì lý do họ đã có những hành động nhằm thúc đẩy dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, nhằm bảo vệ các quyền con người, hoặc chỉ để thực thi các quyền tự do của mình.

c. Nghiên cứu, trình Quốc hội các chính sách, dự án luật có thể khắc phục những sai lầm khác của các chế độ trong quá khứ nhằm hoà giải và hòa hợp dân tộc.

4. Hội đồng Hoà giải Dân tộc sẽ được Hạ viện giải tán sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ.

CHƯƠNG VII. TỰ QUẢN ĐỊA PHƯƠNG

Điều 78. Chính quyền địa phương

1. Chính quyền địa phương thực hiện các công vụ địa phương, tức là các công vụ không được quy định trong Hiến pháp và trong các đạo luật về các cơ quan khác của Nhà nước. Các công vụ địa phương do nhân dân của địa phương đó tự đề ra. Chính quyền địa phương giải quyết các vấn đề hành chính liên quan đến an sinh của dân cư địa phương, quản lý tài sản và có thể đề ra các quy định liên quan đến tự chủ địa phương trong phạm vi luật định.

2. Chính quyền địa phương ở mỗi cấp có thể có một hội đồng và bộ máy hành chính nhà nước cấp địa phương.

3. Hội đồng địa phương do dân địa phương bầu và có quyền quy định về các công vụ địa phương.

4. Trong địa phương mình, bộ máy hành chính thực thi các công vụ được quy định trong Hiến pháp, luật và các công vụ địa phương. Người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương do nhân dân địa phương đó trực tiếp bầu ra.

5. Xã là đơn vị cơ sở của chính quyền địa phương, nơi dân chủ trực tiếp được thực hiện ở mức cao nhất trong các cấp chính quyền.

6. Chính quyền đô thị được luật quy định.

7. Các loại chính quyền địa phương do luật định

Điều 79. Tổ chức Chính quyền địa phương

Việc tổ chức và thẩm quyền của chính quyền địa phương, thủ tục bầu các thành viên hội đồng (nếu có) và người đứng đầu chính quyền địa phương và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương sẽ do luật định theo nguyên tắc chính quyền cấp càng thấp thì việc áp dụng dân chủ trực tiếp càng cao.

CHƯƠNG VIII. SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Điều 80. Thủ tục sửa đổi Hiến pháp

1. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp có thể được trình bởi các chủ thể sau: ít nhất 1/5 số Hạ nghị sĩ theo luật định, Thượng nghị viện, hoặc Tổng thống.

2. Nếu Tổng thống trình dự luật sửa đổi Hiến pháp thì dự luật không được thay đổi các điều khoản liên quan đến Tổng thống trong Hiến pháp hiện hành

3. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được thực hiện bởi một đạo luật được Hạ viện thông qua và sau đó được Thượng viện thông qua với cùng nội dung trong thời hạn 60 ngày.

4. Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Hạ viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Hạ nghị sĩ theo luật định; Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Thượng Nghị Viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Thượng nghị sĩ theo luật định.

5. Trong vòng 60 ngày kể từ khi Dự luật sửa đổi Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua phải tổ chức trưng cầu dân ý để nhân dân phúc quyết.

CHƯƠNG IX. ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN ĐỔI

Điều 81. Hiệu lực Hiến pháp và quy định chuyển đổi

1. Hiến pháp này có hiệu lực sau 100 ngày kể từ ngày được nhân dân phúc quyết thông qua.

2. Trong vòng 100 ngày sau khi Hiến pháp có hiệu lực, Quốc hội hiện hành (đã thông qua Hiến pháp) phải căn cứ vào đó ban hành các luật mới về bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng thống. Các cuộc bầu cử Hạ viện, Thượng viện và Tổng thống đầu tiên được tổ chức theo quy định của các luật đó trong vòng 180 ngày từ khi luật có hiệu lực.

3. Chính phủ, trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, phải rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành, đệ trình để Quốc hội sửa đổi các quy định trái với Hiến pháp và ban hành các luật mới nhằm thực thi Hiến pháp.

4. Trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, pháp luật đang có hiệu lực vào thời điểm Hiến pháp được Quốc hội thông qua vẫn còn giá trị. Sau thời hạn 2 năm này, tất cả các quy định trái với Hiến pháp này đều trở nên vô hiệu, các quy định khác vẫn còn giá trị.

[*] Theo tinh thần đó, một số chuyên gia luật ở trong nước đã soạn một dự thảo hiến pháp được gửi kèm Kiến nghị này như một tài liệu để tham khảo và thảo luận.

Admin gửi hôm Thứ Ba, 22/01/2013
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Ngô Ngọc Trai - Bài toán khó về các nhóm lợi ích

Nguyễn Ngọc Già - Thư gửi Nguyễn Chí Đức

Mai Thái Lĩnh - Làm thế nào để Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Dân?

Tùng Lâm - "Văn hóa từ chức" trên một nền tảng "không còn gì và chưa có gì"?

Nhật Ký Yêu Nước - Nước vẫn trẻ con


Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 08:40, 01/02/2013 - mã số 78112

Danh sách những người ký tên vào bản kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp 1992 đã có rồi ạ
Đợt 10:

1743. Lê Hữu Đức, Trung tướng, Hà Nội

1744. Nguyễn Gia Năng, đảng viên, CLB Hưu trí, Hà Nội

1745. Lê Ngọc Anh, kỹ sư, Hà Nội

1746. Phạm Trung Hiếu, kinh doanh, TP HCM

1747. Vo Viet Long, TSKH, Pháp

1748. Nguyễn Trọng Thành, Lithuania

1749. Trương Tấn Phát, kinh doanh, Australia

1750. Trần Bích Lệ, kinh doanh, Australia

1751. Nguyễn Việt Hà, kỹ sư, TP HCM

1752. Dương Văn Hiền, công dân, Bình Thuận

1753. Trần Mai Anh, Hà Nội

1754. Quách Hồng Khánh, sinh viên, Hà Nội

1755. Nguyễn Công Khanh, thương gia, Australia

1756. Bùi Hoài Nam, kỹ sư, Hà Tĩnh

1757. Nguyễn Văn Hiếu, TP HCM

1758. Vũ Tuấn, GS TS, Nhà giáo Nhân dân, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội

1759. Gioan Bao-ti-xi-ta Hoàng Đông Dương, linh mục Giáo phận Vinh

1760. Trần Thế Phượng, buôn bán, TP HCM

1761. Hoàng Đông Dương, linh mục Giáo phận Vinh

1762. JB. Nguyễn Khắc Bá, linh mục, Giám đốc Đại chủng viện Vinh Thanh

1763. Ngọc Thạch, kỹ sư, TP HCM

1764. Nguyễn Thị Tình, giảng viên, Đại học Đồng Tháp, Đồng Tháp

1765. Phạm Ngọc Côn, PGS TS, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Khoa học Quản lý, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

1766. Nguyễn Văn Luật, Hoa Kỳ

1767. Cao Văn Hoàng, sinh viên, TP HCM

1768. Lê Đình Lượng, nghề nghiệp tự do, Nghệ An

1769. Nguyễn Duy Trung, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội

1770. Pham Minh Sơn, Hà Nội

1771. Le Xuan Phuong, kỹ sư, Đà Nẵng

1772. Võ Nguyên Thạch, kiến trúc sư, TP HCM

1773. Lương Văn Vũ, kinh doanh, Hà Nội

1774. Andy Vu, công nhân, Australia

1775. Nguyễn Bá Toàn, kỹ sư, đã nghỉ hưu, Hà Nội

1776. Phùng Mạnh Cường, kỹ sư, CHLB Đức

1777. Phạm Kim Bảng, Trưởng phòng kinh doanh, Bến Tre

1778. Hồ Liên, TS, giảng viên trường Viết văn Nguyễn Du, Đại học Văn hóa Hà Nội, đã nghỉ hưu

1779. Trần Quang Ngọc, nghiên cứu, Hoa Kỳ

1780. Nguyễn Văn Hùng, sinh viên, Hà Tĩnh

1781. Phạm Công Thăng, sinh viên, Hà Tĩnh

1782. Nguyễn Hoàng Diệu, sinh viên, Hà Tĩnh

1783. Đậu Văn Tuấn, sinh viên, Nghệ An

1784. Phan Quang Thuần, sinh viên, Hà Tĩnh

1785. Trần Thị Đào, sinh viên, Nghệ An

1786. Nguyễn Diệu, sinh viên, Nghệ An

1787. Tê-rê-sa Nguyễn Thị Nhã, sinh viên, Nghệ An

1788. Nguyễn Thị Thu, sinh viên, Hà Tĩnh

1789. Maria Nguyễn Hồng Phúc, sinh viên, Nghệ An

1790. Lê Văn Thượng, sinh viên, Hà Tĩnh

1791. Phan Thị Thu, sinh viên, Hà Tĩnh

1792. Lê Thị Mai Lan, sinh viên, Hà Tĩnh

1793. Nguyễn Ngọc Thạch, sinh viên, Hà Tĩnh

1794. Ngô Thị Thanh Ngân, sinh viên, Nghệ An

1795. Trần Thị Thu Hằng, sinh viên, Hà Tĩnh

1796. Phan Thị Vinh, sinh viên, Nghệ An

1797. Lê Thị Kim Loan, sinh viên, Hà Tĩnh

1798. Đặng Thị Tiến, sinh viên, Hà Nội

1799. Nguyễn Thị Liễu, sinh viên, Nghệ An

1800. Nguyễn Thế Tú, sinh viên, Nghệ An

1801. Đào Thị Anh, sinh viên, Vĩnh Phúc

1802. Lê Văn Tú, sinh viên, Nghệ An

1803. Đào Thu Thủy, sinh viên, Vĩnh Phúc

1804. Nguyễn Thị Kim Chi, sinh viên, Hà Tĩnh

1805. Ngô Thị Quyên, sinh viên, Hà Tĩnh

1806. Chu Đình Thanh, sinh viên, Nghệ An

1807. Nguyễn Văn Hồng, sinh viên, Nghệ An

1808. Nguyễn Thế Hùng, sinh viên, Hà Tĩnh

1809. Nguyễn Văn Dũng, sinh viên, Nghệ An

1810. Cao Thị Thịnh, sinh viên, Hà Tĩnh

1811. Lê Văn Quang, sinh viên, Nghệ An

1812. Trần Văn Thiên, sinh viên, Nghệ An

1813. Nguyễn Thị Thủy, sinh viên, Hà Tĩnh

1814. Hoàng Thị Ngọc Mai, sinh viên, Nghệ An

1815. Trần Thị Hiền Vinh, sinh viên, Nghệ An

1816. Hồ Sỹ Long, sinh viên, Nghệ An

1817. Nguyễn Huy Chiến, sinh viên, Hà Tĩnh

1818. Nguyễn Văn Toàn, sinh viên, Nghệ An

1819. Trần Khắc Điệp, sinh viên, Hà Tĩnh

1820. Hoàng Hà Giang, sinh viên, Hà Tĩnh

1821. Lê Danh Thương, sinh viên, Hà Tĩnh

1822. Trương Thị Lý, sinh viên, Nghệ An

1823. Nguyễn Văn Phúc, sinh viên, Hà Tĩnh

1824. Phạm Văn Huấn, sinh viên, Nghệ An

1825. Nguyễn Thị Thuận, sinh viên, Nghệ An

1826. Phạm Văn Đại, sinh viên, Nghệ An

1827. Phạm Thị Thơm, sinh viên, Nghệ An

1828. Nguyễn Văn Hường, sinh viên, Nghệ An

1829. Mạnh Thị Phương Mai, sinh viên, Hà Tĩnh

1830. Đặng Hữu Tuấn, sinh viên, Nghệ An

1831. Lê Văn Ưu, sinh viên, Nghệ An

1832. Lưu Chí Tèo, sinh viên, Nghệ An

1833. Nguyễn Thị Huyền, sinh viên, Nghệ An

1834. Nguyễn Khâm Tính, sinh viên, Nghệ An

1835. Cao Thị Lan, sinh viên, Hà Tĩnh

1836. Phạm Thị Bích Huệ, sinh viên, Hà Tĩnh

1837. Võ Thị Thu Hương, sinh viên, Nghệ An

1838. Phạm Thị Thanh Nga, sinh viên, Nghệ An

1839. Lê Thị Hương, sinh viên, Nghệ An

1840. Trần Thị Mỹ, sinh viên, Nghệ An

1841. Đoàn Thị Nga, sinh viên, Nghệ An

1842. Nguyễn Thị Lan Anh, sinh viên, Nghệ An

1843. Hoàng Thị Hạnh, sinh viên, Nghệ An

1844. Phạm Thị Hường, sinh viên, Nghệ An

1845. Hà Duy Quyết, sinh viên, Hà Tĩnh

1846. Trần Tuấn Vũ, sinh viên, Hà Tĩnh

1847. Trần Văn Viết, sinh viên, Hà Tĩnh

1848. Nguyễn Thúc Ngọc, sinh viên, Nghệ An

1849. Nguyễn Quang Tú, sinh viên, Nghệ An

1850. Nguyễn Xuân Sơn, sinh viên, Nghệ An

1851. Nguyễn Quốc Bằng, sinh viên, Hà Tĩnh

1852. Phạm Văn Sỹ, sinh viên, Nghệ An

1853. Nguyễn Thị Ngọc, sinh viên, Nghệ An

1854. Lê Mai Ca, sinh viên, Nghệ An

1855. Nguyễn Xuân Hải, sinh viên, Nghệ An

1856. Đinh Duyên, sinh viên, Hà Nam

1857. Trần Thị Vui, sinh viên, Nam Định

1858. Đào Thị Ngọc, sinh viên, Vĩnh Phúc

1859. Nguyễn Thị Kiều, sinh viên, Vĩnh Phúc

1860. Nguyễn Kim Vọng, sinh viên, Vĩnh Phúc

1861. Phạm Văn Lượng, sinh viên, Nghệ An

1862. Phạm Thị Dung, sinh viên, Nghệ An

1863. Hoàng Đức Thành, sinh viên, Nam Định

1864. Cao Văn Đồng, sinh viên, Hà Tĩnh

1865. Nguyễn Thị Hương, sinh viên, Nghệ An

1866. Hoàng Đức Danh, sinh viên, Nghệ An

1867. Nguyễn Công Bắc, nghề nghiệp tự do, Vinh

1868. Nguyễn Hữu Trung, công dân Việt Nam, kỹ sư, Hà Nội

1869. Truong The Minh, Hoa Kỳ

1870. Trịnh Trọng Thủy, đảng viên đã bỏ sinh hoạt 3 năm nay, cựu cán bộ VietinBank, Hà Nội

1871. Hoàng Mạnh Cường, giáo viên, Nam Định

1872. Trần Anh Dũng, kỹ sư, Hà Nội

1873. Trần Văn Nam, Hải Dương

1874. Hà Minh Phượng, kỹ sư, CHLB Đức

1875. Pham Tuan Tu, họa sĩ, Hà Nội

1876. Đặng Thanh Quý, nhân viên, Hoa Kỳ

1877. Lê Nguyên Long, Đại học Quốc gia Hà Nội

1878. Nguyễn Xuân Long, Đại học Michigan, Hoa Kỳ

1879. Peter Ho, TP HCM

1880. Nguyen Van Danh, TP HCM

1881. Hien Anh, Hoa Kỳ

1882. Nguyen Minh Diep, Logistic officer, Australia

1883. Trần Thị Mộng Thu, nội trợ, TP HCM

1884. Phan Thanh Bình, Hoa Kỳ

1885. Châu Ngô, Hoa Kỳ

1886. Lê Xuân, cựu học sinh Phan Châu Trinh, kỹ sư, Đà Nẵng

1887. Le Cong Qui, kỹ sư, TP HCM

1888. Trần Châu, sinh viên, TP HCM

1889. Thu San Nguyễn Thế Hùng, TS, Viện Vật lý, Hà Nội

1890. Nguyễn Quang Vinh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội

1891. Đinh Nguyên Tùng, nghiên cứu viên, Viện Hóa, Singapore

1892. Nguyễn Xuân Cường, giảng viên, Huế

1893. Hà Quốc Nam, cử nhân, Bến Tre

1894. Mai Thanh Bình, cử nhân, TP HCM

1895. Lê Hồng Sơn, kỹ sư, Bình Dương

1896. Ngô Quốc Thanh, kỹ sư, Hà Nội

1897. Phạm Bá Quế, linh mục Giáo phận Hà Nội

1898. Lê Minh Tâm, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hưu trí, Thái Bình

1899. Bùi Ngọc Kết, kinh doanh, TP HCM

1900. Đào Thị Phán, nghỉ hưu, Hà Nội

1901. Bùi Chát, nhà xuất bản Giấy Vụn, TP HCM

1902. Hoàng Ngọc Cầm, TSKH, Hà Nội

1903. Nguyễn Thượng Thành, Hà Nội

1904. Vũ Văn Sim, nghề nghiệp tự do, Đồng Nai

1905. Nguyễn Kiến Phước, nhà báo, TP HCM

1906. Nguyễn Văn Vinh, linh mục Quản hạt Văn Hạnh, Giáo phận Vinh

1907. Trần Việt Hoàng, chuyên gia khoa học, Hoa Kỳ

1908. Nguyễn Đình Khuyến, họa sĩ, Hà Nội

1909. Đào Việt Dũng, dân thường, Hà Nội

1910. Nguyễn Tiến Chinh, bác sĩ, cán bộ nhà nước, Đak Lak

1911. Đoàn Khôi, cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa của miền Nam trước 1975, Hoa Kỳ

1912. Francois Xavier Nguyễn Đình Tùng, giáo dân, TP HCM

1913. Nguyễn Hồng Lĩnh, Hoa Kỳ

1914. Võ Đoàn Phong, chuyên viên, TP HCM

1915. Lữ Quỳnh, nhà văn, Hoa Kỳ

1916. Tran Van Loc, kỹ sư, Australia

1917. Tran Ngoc Suong, hưu trí, Australia

1918. Trần Đình Sơn Cước, nguyên hội viên Hội Luật gia thành phố Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ

1919. Trần Ngọc Thạch, bán bánh mì vỉa hè, TP HCM

1920. Đào Tấn Anh Trúc, thợ điện, Pháp

1921. Dương Thế Tuyền, cựu giáo chức, Nam Định

1922. Lê Văn Quyền, cựu giáo chức, Nam Định

1923. Dương Mạnh Tới, cựu giáo chức, Nam Định

1924. Nguyễn Thị Nhài, cựu giáo chức, Nam Định

1925. Dương Văn Tưu, cựu giáo chức, Nam Định

1926. Nguyễn Văn Hội, cựu giáo chức, Nam Định

1927. Nguyễn Xuân Nghĩa, kỹ sư, Hải Dương

1928. Hoàng Nguyễn Thụy Khê, TP HCM

1929. Hoàng Linh Mục, Hà Nội

1930. Hoàng Thị Mỹ Linh, sinh viên, Giáo phận Vinh

1931. Lê Trần Linh, thợ điện, TP HCM

1932. Nguyễn Hữu Giải, linh mục Tổng Giáo phận Huế, Quản xứ An Bằng, Thừa Thiên-Huế

1933. Phan Văn Lợi, linh mục thuộc Giáo phận Bắc Ninh, thành phố Huế

1934. Nguyễn Kinh Đức Thắng, sinh viên, Hà Nội

1935. Vu Van Thiem, kỹ sư, TP HCM

1936. Gioanna Hoàng Thị Mỹ Linh, sinh viên, Giáo phận Vinh

1937. Phạm Văn Hội, TS, Đại học Nông nghiệp Hà Nội

1938. Paul Hồ Văn Nam, sinh viên, Hà Nội

1939. Vũ Ngọc Sửu, TP HCM

1940. Lê Văn Thảo, sinh viên, lưu học sinh lại Cộng hòa Liên bang Nga

1941. Dương Thanh Sơn, cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa của miền Nam trước 1975, Australia

1942. Trần Đình Phương, Hoa Kỳ

1943. Hoaǹg Thùy Khen, Hoa Kỳ

1944. Ngô Ngọc Hân, kỹ sư, TP HCM

1945. Đàm Minh Tuấn Anh, sinh viên, Hà Nội

1946. Nguyễn Thanh Nga, MBA, Hà Nội

1947. Nguyễn Thanh Hải, kỹ sư, Huế

1948. Nguyễn Thanh Sơn, kỹ sư, Hà Nội

1949. Thái Văn Đô, Hoa Kỳ

1950. Nguyễn Thanh Nhàn, cử nhân, Nam Định

1951. Vũ Hồng Phong, Tp HCM

1952. Chu Quốc Khánh, kỹ sư, Hà Nội

1953. Phạm Văn Trí, công nhân, Hà Nội

1954. Đặng Văn Lớp, công dân, Long An

1955. Trần Minh Vỹ, TP HCM

1956. Ho Xuan Khanh, sĩ quan quân đội, Hà Nội

1957. Ta Xuan Quang, giáo dân, Đak Nông

1958. Ta Xuan Que, lái xe, Đak Nông

1959. Hàn Khánh, kỹ sư, Hà Nội

1960. Vũ Anh Tuấn, kỹ sư, Hà Nội

1961. Nguyễn Quang Đạo, cựu chiến binh, Hà Nội

1962. Tạ Văn Hải, sinh viên, Nghệ An

1963. Trần Quốc Hưng, Đồng Nai

1964. Hà Hoàng Nhật Lệ, sinh viên, Vinh

1965. Ngô Minh Danh, công dân Việt Nam, TP HCM

1966. Phạm Thị Nết, nội trợ, Hoa Kỳ

1967. Võ Thị Hoài Phương, sinh viên, Hoa Kỳ

1968. Võ Thị Thùy Dung, y tá, Hoa Kỳ

1969. Yên Nguyễn, học sinh, Hoa Kỳ

1970. Nguyễn Trung Thông, Hoa Kỳ

1971. Nguyễn Trung Kiên, Hoa Kỳ

1972. Nguyen Tuan Hiep, Nghệ An

1973. Lưu Trung Tuyên, TS, CHLB Đức

1974. Nguyễn Đắc Lộc, kỹ sư, Đà Nẵng

1975. Trần Thị Mai, Australia

1976. Đinh Văn Khoa, nông dân, Hà Tĩnh

1977. Đinh Thị Phương, nông dân, Hà Tĩnh

1978. Trần Quang Hưng, Phó Phòng Kinh doanh, Đồng Tháp

1979. Nguyễn Đức Giang, kinh doanh, Thanh Hóa

1980. Trần Đức Hà, chủng sinh, Giáo phận Vinh

1981. Lê Mai Anh, luật gia, Hà Nội

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 06:46
Nhãn: Hiến pháp

HongLac (khách viếng thăm) gửi lúc 06:53, 30/01/2013 - mã số 77934

Một bài viết hay, cám ơn bác KQĐ. Hy vọng Dân Luận cho đăng bài nầy http://diendanctm.blogspot.com.au/2013/01/y-nghia-tu-viec-kien-nghi-sua-oi-hien.html làm bài chủ để độc giả bàn luận.

Tuy nhiên, tôi không nghĩ là các “nhân sĩ trí thức” đó sẽ làm cái việc “đưa chế độ CS ở Việt Nam ra trước Uỷ Ban Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc” như tác giả Tấn Hà đề nghị! (cái nầy gọi là “xúi dại”, ngu gì!)

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 05:56, 30/01/2013 - mã số 77932

Ý nghĩa từ việc kiến nghị sửa đổi hiến pháp của một số nhân sĩ trí thức

Tấn Hà

Tác giả gửi đến DienDanCTM

(Nguồn: http://diendanctm.blogspot.com.au/2013/01/y-nghia-tu-viec-kien-nghi-sua-oi-hien.html )

Ngày 19/01/2013 một số nhân sĩ trí thức người Việt đã đồng ký tên và cho ra đời một bản kiến nghị sửa đổi hiến pháp. Động tác này trước hết là hoàn toàn phù hợp với việc Quốc Hội Việt Nam hiện nay tuyên bố công khai lấy ý kiến nhân dân về việc sửa đổi Hiến Pháp Năm 1992. Hiện tại theo thống kê trên trang Bauxite và trang Ba Sàm số lượng người tham gia ký tên ủng hộ vẫn đang ngày một tăng. Nhưng dư luận trong và ngoài nước đang có những ý kiến trái chiều. Có lẽ để cho vấn đề thêm sáng tỏ, chúng ta rất cần phân tích một số ý nghĩa của việc kiến nghị sửa đổi hiến pháp này.

Trước hết cần phải khẳng định ngay rằng, Quốc Hội Việt Nam (dưới quyền trực tiếp lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam - ĐCSVN) sẽ để ngoài tai bản kiến nghị sửa đổi hiến pháp của các nhân sĩ trí thức. Mặc dù họ cũng đã ra hẳn một lời kêu gọi xin trích như sau: "Quốc hội kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hưởng ứng và tích cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng bản Hiến
pháp thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới". Kêu gọi như vậy nhưng vấn đề là ở chỗ, kiến nghị gì thì cũng phải do chính quyền tiến hành "thảo luận" và hoàn toàn theo sự "hướng dẫn" của họ. Trong khi đó bản kiến nghị của các nhân sĩ trí thức là một bản kiến nghị, tạm gọi là "tự do".

Các nhân sĩ trí thức khởi xướng và tham gia ký vào bản kiến nghị kể trên có biết rằng Quốc Hội sẽ không đếm xỉa đến tiếng nói của họ hay không? Chắc chắn là họ biết, vì trong lịch sử xã hội Cộng Sản ở Việt Nam từ 1945 đến nay, chuyện lập hiến và lập pháp đều do ĐCSVN tự làm, nhân dân Việt Nam chỉ việc chấp nhận chúng như một sự hợp pháp, vì họ chưa bao giờ được trao cho quyền tham gia lập hiến chứ chưa nói gì đến chuyện lập pháp. Nhưng các nhân sĩ trí thức vẫn quyết tâm làm một việc tưởng như vô ích, đó là vì sao?

Nếu nhìn qua danh sách 72 nhân sĩ trí thức ký tên đầu tiên trong bản kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp năm 1992 và bản dự thảo do họ lập ra, chúng ta thấy nhiều những gương mặt quen thuộc, những nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học, nhà giáo vv.., hầu hết họ đều là đảng viên của ĐCSVN mà tên tuổi của họ gần đây đã gắn liền với những kiến nghị về vụ Bô Xít, về đề nghị tổ chức biểu tình chống Tàu. Tất nhiên như đã nói, những ý kiến kiến nghị của họ đều bị chế độ Cộng Sản bỏ ngoài tai. Nhiều người còn bị công an ngăn cản, sách nhiễu, gây khó khăn... Có lẽ hơn ai hết, họ chính là những người Cộng Sản tiến bộ, đã kịp nhận ra rằng: Cần phải có sự thay đổi!

Có thể tạm nhận định rằng, những nhân sĩ trí thức ra bản kiến nghị sửa đổi hiến pháp lần này chính là một sự tự diễn biến (theo cách nói của chế độ CS). Họ hiểu rằng, hơn bao giờ hết, muốn thay đổi xã hội, theo lý thuyết sẽ phải bắt đầu từ khâu thay đổi hiến pháp. Nhưng đó chỉ là về mặt nhận thức, vì hiến pháp mới chỉ là văn bản tiền đề hướng dẫn. Để hiến pháp áp dụng được vào đời sống thì còn phải luật hoá nó bằng các bộ luật, đạo luật cụ thể. Thậm chí vai trò của các văn bản dưới luật, hướng dẫn thi hành luật cũng đóng vai trò không nhỏ khi áp dụng vào đời sống xã hội. Đơn cử như Hiến Pháp năm 1992 quy định rõ ràng quyền biểu tình của người dân, nhưng nó chưa bao giờ được áp dụng, vì chưa có Luật Biểu Tình...

Những người soạn thảo và ký văn bản kiến nghị sửa đổi hiến pháp lần này, phải làm một việc bất đắc dĩ, vì họ chẳng thể làm được gì hơn. Tuy trong lòng họ đã ghét cay ghét đắng chế độ Cộng Sản mà họ đã phải đổ bao mồ hôi nước mắt, tuổi thanh xuân và cả máu xương của mình để tạo dựng nên nó. Nhưng bản thân họ không thể dám đấu tranh quyết liệt như năm nào họ đã "chống Mỹ cứu nước" vì một mặt là nay họ đều đã qua lứa tuổi sung sức, điều thứ hai là họ còn vướng víu chút quyền lợi cá nhân và đặc biệt là quyền lợi của con cháu họ trong chế độ hiện hành. Quyền lợi cá nhân thì họ có thể dám hy sinh vì họ đều là những người yêu nước và không phải là những kẻ yếu hèn. Nhưng hy sinh quyền lợi của con cháu họ (vì nếu họ dấn thân chắc chắn con cháu họ sẽ bị ảnh hưởng - do sự trả thù hèn hạ của chế độ) thì họ sẽ chẳng dám làm...

Có thể nói, việc ngày nay ở Việt Nam ngày càng có nhiều nhân sĩ trí thức tỉnh ngộ và họ nhận thức một cách rất đúng đắn rằng, cần phải thay đổi cơ chế "đảng lãnh đạo" phản dân chủ hiện nay. Nhưng họ vẫn loay hoay trong cái vòng "công an trị" mà ĐCSVN đã tạo ra từ bao năm qua. Mặt khác, đứng trước mặt họ vẫn là những đồng chí, đồng đội của họ, mặc dù những "đồng chí" đó nay đang coi họ là những thành phần "tự diễn biến" thậm chí là phản động, thì ít nhiều họ vẫn có gì đó còn ngần ngại...

Có thể khẳng định một cách chắc chắn tuyệt đối rằng, mọi chế độ Độc tài Cộng Sản đều không thể sửa chữa. Chế độ CS ở Việt Nam, về bản chất không hề giống chế độ Độc tài Myanmar. Vì vậy mọi mơ ước "Việt Nam sẽ thay đổi giống như Myanmar" là điều hoang tưởng. Vì vậy chỉ có duy nhất một con đường đó là đấu tranh trực diện với chế độ CS buộc nó phải chấp nhận trao trả quyền lực về tay nhân dân mà thôi. Như vậy thì những kiến nghị như của các nhân sĩ trí thức ngày 19/01/2013 nhằm "góp ý" với chế độ để điều chỉnh hiến pháp là vô giá trị?

Không! Kiến nghị của các nhân sĩ trí thức nhắc đến ở trên cũng có những giá trị nhất định của nó. Tuy nó không thể cảm hoá hay đánh thức lương tâm chế độ, nhưng nó cũng chính là những hồi chuông cảnh báo ĐCSVN rằng, đã có một bộ phận không nhỏ các nhân sĩ trí thức bất đồng với chế độ. Họ chưa đối lập hoàn toàn với chế độ, nhưng nếu cứ theo đà này thì họ sẽ phải có những việc làm khác để biến những quan điểm chính trị của họ thành những gì thật sự có ích cho nước và có lợi cho dân.

Thật vậy, nếu như bản kiến nghị sửa đổi hiến pháp lần này được đưa xuống làm phụ lục của một bản kiến nghị khác, thậm chí đó là một bản cáo trạng về sự vi phạm nhân quyền, đưa chế độ CS ở Việt Nam ra trước Uỷ Ban Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc. Điều này hoàn toàn khả thi vì Việt Nam đã tham gia ký kết Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền. Hành động kiến nghị sửa đổi hiến pháp thực ra cũng xuất phát từ những bất công trong việc tôn trọng nhân quyền mà ra. Vì hiến pháp được ban hành rốt cuộc cũng chỉ nhằm bảo vệ quốc gia và con người trong quốc gia đó mà thôi.

Việc đưa chế độ CS ở Việt Nam ra trước Uỷ Ban Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc sẽ trở nên một vũ khí lợi hại vì do những công dân đang sống trong nước tiến hành. Điều đó thực sự là một áp lực lớn với chế độ, vì ngày nay sự hội nhập với quốc tế ngày một sâu sắc, mỗi nước muốn có cơ hội làm ăn, muốn có cơ hội phát triển đi lên, đều phải nhờ vào sự hội nhập (nhất là đối với những nước nghèo như Việt Nam). Tin chắc rằng Liên Hợp Quốc sẽ không thể ngồi yên trước những đòi hỏi thực thi nhân quyền chính đáng của nhân dân một nước. Họ sẽ phải hành động theo thẩm quyền để bảo vệ con người...

Lịch sử đã chứng minh, mọi chế độ độc tài trên thế giới, nhất là những chế độ Độc tài Cộng Sản, sẽ không bao giờ ban tặng cho người dân quyền lực, nếu họ chỉ biết ngửa tay xin xỏ. Ngoài việc bị lật đổ bởi những cuộc cách mạng, chúng chỉ chịu chấp nhận trao trả quyền lực cho nhân dân khi bị những áp lực vô cùng lớn ngoài khả năng chống đỡ của chúng. Trong mọi trường hợp, áp lực quốc tế là những sức mạnh mà không một kẻ độc tài nào dám coi thường. Nếu không có sự quan tâm của quốc tế, không có những ràng buộc quốc tế, thì chỉ có những cuộc cách mạng bạo lực mới có thể hạ bệ nổi một chế độ độc tài. Vì nếu một chế độ độc tài chẳng biết sợ ai, họ cứ bắt giam vô tội vạ, xả súng bừa bãi vào bất cứ ai có tư tưởng chống đối họ mà không có ai can thiệp, thì có lẽ không bao giờ những người đấu tranh ôn hoà có cơ hội chiến thắng...

Đối với bản kiến nghị của các nhân sĩ trí thức gửi lên quốc hội của nhà cầm quyền do ĐCSVN đứng đầu, nó còn mang một tác dụng khác, đó là vô tình nó đã tiếp tục gắn kết và mở rộng sự gắn kết đối với những người có cùng quan điểm. Tuy những quan điểm hay cao hơn, đó là những tư tưởng của họ chưa phải là đối lập với chế độ, nhưng tư tưởng của con người vốn dĩ cũng như một quán tính, một khi đã có đà thì nó sẽ tiếp tục tiến về phía trước. Phía trước đó là gì thì nó sẽ tỉ lệ thuận với thái độ của kẻ cầm quyền. Như vậy sự lo lắng về chuyện "tự diễn biến" của ĐCSVN là hoàn toàn có cơ sở.

Xin được nhấn mạnh rằng, Liên Hợp Quốc sẽ không can thiệp và không có quyền can thiệp trực tiếp vào một bản hiến pháp của một quốc gia thành viên. Nhưng với những bản tố cáo hay cáo trạng về hành vi vi phạm nhân quyền của một nhà nước đối với nhân dân của quốc gia nào đó thì họ hoàn toàn có quyền can thiệp. Thậm chí họ có thể lập ra một uỷ ban giám sát ngay tại quốc gia đó để trực tiếp theo dõi hiện tượng vi phạm nhân quyền. Vì vậy, khi trong nước (trường hợp này là Việt Nam) chưa có những áp lực đáng kể nào hầu cho kẻ cầm quyền phải run sợ, thì áp lực từ Liên Hợp Quốc chắc chắn sẽ có những tác động to lớn. Việc này chỉ duy nhất những người đang sống trong nước như các vị nhân sĩ trí thức đã kến nghị sửa đổi hiến pháp làm thì mới có hiệu quả.

Tấn Hà

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 03:36, 30/01/2013 - mã số 77926

Đợt 9 đã có rồi các bác ạ. Lần này có chữ ký của Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt.
Đợt 9:
1645. Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám mục, nguyên Tổng Giám mục Hà Nội
1646. Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội
1647. Nguyễn Long Việt, công dân Hà Nội, Hoa Kỳ
1648. Gioan Maria Nguyễn Văn Hoan, linh mục, Giáo xứ Nghĩa Thành, Giáo phận Vinh
1649. Phạm Văn Phương, kỹ sư, TP HCM
1650. Nguyễn Văn Hớn, nguyên Đại tá kỹ sư, Hà Nội
1651. Nguyễn Võ Văn, giáo viên, Nam Định
1652. Nguyễn Đoàn, nông dân, Phú Thọ
1653. Lê Hồng Quận, TP HCM
1654. Nguyễn Xuân Hòa, giáo viên, Nam Định
1655. Phạm Xuân Sơn, TS, Nga
1656. Vũ Thị Bích, Pháp
1657. Nguyễn Thanh Linh, cử nhân, Dak Lak
1658. Nguyễn Xuân Tiến, kỹ sư, hưu trí, Thụy Sĩ
1659. Cao Thị Nhung, công dân Việt Nam, TP HCM
1660. Dương Giao Ước, cựu giáo viên, Cần Thơ
1661. Nguyễn Thành Trung, công nhân, Bình Dương
1662. Nguyễn Đức Hiền, cử nhân, TP HCM
1663. Trần Năm, hưu trí, TP HCM
1664. Trần Mai Hiền, biên dịch, Hà Nội
1665. Vũ-Đình Bon, TS, Hoa-Kỳ
1666. Nguyễn Lương Thành, Quảng Ngãi
1667. Vũ Thành Hiếu, doanh nhân, TP HCM
1668. Nguyễn Trọng Thủy, lao động tự do, Hà Nội
1669. Đặng Minh Phương, nghề nghiệp tự do, Đồng Nai
1670. Nguyễn Thành Trung, Bà Rịa - Vũng Tàu
1671. Trần Bích Đào, Bà Rịa - Vũng Tàu
1672. Quyen Van Doan, chuyên viên, Hoa Kỳ
1673. Nguyễn Ngọc Trinh, kỹ sư, CHLB Đức
1674. Lê Hoàng, Cộng hòa Czech
1675. Joseph Le, Australia
1676. Đặng Hồng Quân, cử nhân, Hà Nội
1677. Phạm Định, chuyên viên, TP HCM
1678. Tô Đình Đài, hưu trí, Hoa Kỳ
1679. Nguyen Thanh Quang, Hoa Kỳ
1680. Trần Quốc Hùng, cựu giáo viên, TP HCM
1681. Hồ Ngọc Hòa, cử nhân, TP HCM
1682. Nguyễn Văn Thông, sinh viên, Vinh
1683. Nguyễn Như Một, cựu ứng viên Quốc hội khóa 13, Long An
1684. Bùi Vũ Huy Hoàng, kỹ sư, Vũng Tàu
1685. Tiết Hùng Thái, hưu trí, Vũng Tàu
1686. Huỳnh Ngọc Tiến, dược sĩ, Đak Lak
1687. Huỳnh Thị Thu, nhân viên, Đồng Nai
1688. Phạm Thanh Nghiên, Hải Phòng
1689. Lê Bảo Ngọc, y tá, Yên Bái
1690. Lê Gia Quốc Thống, TS, giảng viên University of New South Wales, Australia
1691. Lương Xuân Khánh, hưu trí, Hà Nội
1692. Nguyễn Văn Mạnh, kỹ sư, Đồng Nai
1693. Đặng Văn Hiến, kinh doanh, TP HCM
1694. Đỗ Minh Thư, lập trình viên, TP HCM
1695. Peter Nguyễn Văn Hùng, linh mục, Giám đốc Văn phòng trợ giúp công nhân, cô dâu Việt Nam, Đài Loan
1696. Lý Minh Tú, dược sĩ, Hoa Kỳ
1697. Trần Thiện Kế, kỹ sư, Vũng Tàu
1698. Nguyễn Đăng Quang, Hà Nội
1699. Cao Thanh Hưu, cựu giáo chức, Nam Định
1700. Ngô Xuân Cộng, cựu giáo chức, Nam Định
1701. Mai Thị Thơm, cựu giáo chức, Nam Định
1702. Nguyễn Thị Chắn, cựu giáo chức, Nam Định
1703. Mai Quang Sen, cựu giáo chức, Nam Định
1704. Nguyễn Thụ Khoan, cựu giáo chức, Nam Định
1705. Hoàng Văn Giang, cựu giáo chức, Nam Định
1706. Bùi Trọng Tỉnh, cựu giáo chức, Nam Định
1707. Nguyễn Thị Viển, cựu giáo chức, Nam Định
1708. Pet. K. Nguyễn Duy Khanh, linh mục Giáo phận Vinh
1709. Đào Nhật Đình, chuyên gia tự do, thạc sĩ, Hà Nội
1710. Lê Minh Đức, kỹ sư, Hà Nội
1711. Trần Thái Hoa, kỹ sư, Đồng Nai
1712. Dat Nguyen, kỹ sư, Hoa Kỳ
1713. Vũ Chí Dũng, kỹ sư, Hà Nội
1714. Minh Xuân Nguyễn, sinh viên, Hoa Kỳ
1715. Đinh Ngọc Tú, hướng dẫn viên du lịch, Hà Nội
1716. Trần Minh Hải, linh mục, Hàn Quốc
1717. Lục Duyên Linh, sinh viên, Hoa Kỳ
1718. Antôn Phan Trọng Khánh, Giáo xứ Sơn La, Giáo phận Vinh, Nghệ An
1719. Phero Nguyen Ngoc Giao, linh mục Quản xứ Lãng Điền, Giáo phận Vinh, Nghệ An
1720. Việt Nguyễn, kinh doanh, Cộng hòa Czech
1721. Nguyễn Văn Vũ, sinh viên, Cộng hòa Czech
1722. Ngô Điều, sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã nghỉ hưu, đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, Hà Nội
1723. Hoàng Linh, luật sư, Hà Nội
1724. Đặng Thế Hải, nhân viên, Hà Nội
1725. Bùi Đức Dũng, cử nhân, thương binh, Hà Nội
1726. Trần Đình Lợi, sinh viên, Vinh
1727. Nông Văn Trọng, kỹ sư, Cao Bằng
1728. Trần Văn Nhân, họa sĩ, TP HCM
1729. Trương Nguyễn Linh, họa sĩ, TP HCM
1730. Đinh Huyền Hương, giáo viên, TP HCM
1731. Đinh Ngoc Bich, hưu trí, TP HCM
1732. Nguyễn Anh Dũng, nhà giáo, cựu chiến binh, hưu trí, Hà Nội
1733. Ngô Quốc Thái, sinh viên, TP HCM
1734. Nguyễn Văn Kế, cựu chiến binh, dân thường, Đồng Nai
1735. Lê Mạnh Chiến, cán bộ về hưu, Hà Nội
1736. Đỗ Thị Hòa, giáo viên đã nghỉ hưu, Hà Nội
1737. Hoàng Quốc Thành, cử nhân, Hà Nội
1738. Hồ Trung Sĩ, lao động tự do, An Giang
1739. Quang Nguyen, kỹ sư, CHLB Đức
1740. Phạm Xuân Trường, sinh viên, Thái Bình
1741. Phạm Văn Thắng, nghề nghiệp tự do, TP HCM
1742. Nguyễn Xuân Lập, nguyên Phó Chủ tịch Hội Y Dược Việt Nam, Trưởng đoàn sinh viên Phật tử Sài Gòn (trước 1975), TP HCM
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 00:46
Nhãn: Hiến pháp

Nguyễn SG (khách viếng thăm) gửi lúc 01:38, 30/01/2013 - mã số 77921
Trích dẫn:
https://danluan.org/tin-tuc/20130107/le-thang-long-lam-gi-de-co-mot-hien-phap-dan-chu

Innova gửi lúc 20:36, 11/01/2013 - mã số 76473

Sửa đổi Quốc kỳ và Quốc ca
Tôi kính gửi ý tưởng sửa đổi Quốc kỳ và Quốc ca như sau: 1. Quốc kỳ: Vẫn giữ nền đỏ, nhưng thay sao vàng 5 cánh thành hình Trống đồng có ngôi sao vàng 16 cánh. 2. Quốc ca: Vẫn giữ phần nhạc bài "Tiến quân ca" nhưng đặt thêm lời 2 (lời 1 vẫn có mang nội dung khánh chiến chống Pháp...; lời 2 mới đổi có nội dung bảo vệ và xây dựng Tổ quốc). Ý tưởng thay đổi Quốc ca, Quốc kỳ đã đề đề xuất từ năm 1980. Trân trọng!
Trần Xuân An - góp ý cho: điều 13
11/01/2013 16:53:38 +07:00Ý kiến hay: 3Góp ý

Về Quốc ca, Quốc kỳ ..., theo tác giả Trần Xuân An đã có đề nghị thay đổi từ 1980.

Tôi có ý kiến đóng góp về Quốc ca, Quốc kỳ, Quốc huy.

Quốc kỳ :
Một số cuộc biểu tình ở miền nam Đức, thay cờ bằng các bức ảnh hình nước VN. Viet Nam là nước có nhiều bờ biển, dân tộc da vàng và ba miền.
Tôi đề nghị lá cờ VN :
- ba màu : vàng, màu xanh nước biển và màu đỏ (?)
- giữa lá cờ có hình nước VN (+ HS và TS ?)

Quốc ca : bài Tiến Quân Ca có thể giữ làm quốc ca với điều kiện phải đổi lời hợp cho thời bình, nhìn về tương lai và thanh niên rường cột

Nếu không, đề nghị có hai bài khác có thể dùng làm quốc ca như bài Việt Nam thanh niên hành khúc của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và Viet Nam, Việt Nam của nhạc sĩ Phạm Duy

Quốc huy :
- có hình nước VN và hình trống đồng

Ủng hộ Kiến nghị về sửa đổi Hiến Pháp 1992 tức là cùng đóng góp ý kiến để có nhiều hợp lý và nhiều sự đồng thuận hơn cả

Quyenluc (khách viếng thăm) gửi lúc 20:39, 29/01/2013 - mã số 77907

Hãy tập trung vào việc thay đổi hiến pháp đi các bạn ơi!

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 19:07, 29/01/2013 - mã số 77900

KÍNH GỬI CÁC BẠN DƯ LUẬN VIÊN CUẨ ĐCSVN
Tôi sẽ viết không nháp nên đầy lỗi chính tả ( Cái lỗi “chính tả” của tôi ĐCSVN phải chịu một phần trách nhiệm vì tôi học cấp 1 ở những ông thầy vừa học xong lớp 4 BÌNH DÂN HỌC VỤ…..)
Tôi có thể nói với các bạn rằng ĐCSVN bây giờ được SỞ HỮU CỦA KHOẢNG 300 THẰNG TRÙM MAFIA VN. Các bạn chỉ là những kẻ “đâm thuê, chém mướn” không hơn không kém!!!
Tôi, nếu tính theo năm, theo Đảng của HCM còn hơn cả TT Nguyễn Tấn Dũng!!!
Tôi thách đấu thế này: MỘT MÌNH TÔI TRANH LUẬN VỀ SỰ ĐÚNG SAI CỦA CN MÁC-LEENIN VỚI 14 VỊ ỦY VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ ĐCSVN . CUỘC TRANH LUẬN NÀY PHẢI TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP!!!
Các bạn ơi !!! Các bạn cứ tính số lượng mà không tính tới CHẤT LƯỢNG. Theo phương trâm ” lấy vũ khi địch đánh địch” của ĐCSVN thì tôi thử hỏi hồi trước năm 1945 số lượng ĐẨNG VIÊN là bao nhiêu??? Khác với ĐCSVN, những người DÂN CHỦ chúng tôi không xây căn cứ địa cách mạng trên rừng, trên núi mà chúng tôi xây dựng ngay ở Thủ Đô Hà Nôi, ngay ở Trung tâm các Thành Phố Lớn ngay trong tim những TRÍ THỨC, SINH VIÊN, NHỮNG NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÍ ÓC-BỘ NÃO CỦA DÂN TỘC
72 Nhân Sỹ của chúng tôi có thể đọ với toàn bộ TƯ ĐCSVN hàng trăm người !!!
1644 người đã ký tên có thể đọ với 3 triệu đảng viên ĐCSVN !!!
ĐCSVN kích động bạo lực , chúng tôi kích đông lương tri
ĐCSVN chỉ có 4 người bạn trên trường quốc tế, chúng tôi có cả thế giới
……
Nhiều lắm, anh không kể hết.
Các bạn hãy quay lại với nhân dân VN đi kẻo sẽ muộn.
Bài mới nhất trong mục Chính Luận của báo QĐND đã phải mềm đi trông thấy
Hãy quay lại với nhân dân, các bạn sẽ được mẹ Âu Cơ tha thứ

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 08:03, 29/01/2013 - mã số 77853

Đợt 8, những người ký tên vào bản kiến nghị sửa đổi hiến pháp 1992 đã có rồi các bác ạ. Lần này có đặc biệt là rất nhiều vị Linh mục đã ký, rất nhiều quân nhân của Quân Đội Nhân Dân VN ký....Số người đã lên đến 1644 người

Đợt 8:

1399. Đặng Quốc Dũng, nguyên cán bộ An ninh T4 (Khu Sài Gòn – Gia Định), TP HCM
1400. Đoàn Phương, nguyên cán bộ Ban Giao bưu Trung ương Cục miền Nam, TP HCM
1401. Viễn Kính, nhà báo, TP HCM
1402. Đỗ Xuân Khôi, TS, Hà Nội
1403. Nguyễn Trọng Tân, kỹ sư, Hà Nội
1404. Nguyễn Tùng Anh, sinh viên, Hà Nội
1405. Giuse Đinh Hữu Thoại, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, TP HCM
1406. Đặng Ngọc Cảnh, sinh viên, TP HCM
1407. Vũ Trọng Tín, thợ cơ khí ô tô, Cộng hòa Czech
1408. Do Huu Thang, sinh viên, Hà Nội
1409. Lê Hải, nhà nhiếp ảnh, Đà Nẵng
1410. Nguyễn Việt Long, dịch giả, biên tập viên, Hà Nội
1411. Nguyễn Thị Lan, Dr, blogger, Hoa Kỳ
1412. Bui Tony, Pháp
1413. Bui Duc Thong, kỹ sư, CHLB Đức
1414. Võ Nhân Trí, TS, kinh tế gia, Pháp
1415. Toi Duong, kinh doanh, Hoa Kỳ
1416. Nguyen Xuan Bach, kỹ sư, CHLB Đức
1417. Nguyễn Thanh Sơn, báo Đàn Chim Việt, www.danchimviet.info, Ba Lan
1418. Nguyễn Vân Muồi, cử nhân, giáo viên, Hoa Kỳ
1419. Nguyễn Văn Hiển, Cộng hòa Hungary
1420. Nguyễn Hữu Tiến, Hoa Kỳ
1421. FX. Nguyễn Văn Lượng, linh mục Giáo phận Vinh, Quản xứ Sơn La, Nghệ An
1422. Giuse Nguyễn Xuân Phương, linh mục Giáo phận Vinh, Quản xứ Yên Lĩnh, Nghệ An
1423. Nguyễn Thị Tuyết Xuân, TP HCM
1424. Nguyen Q Minh, công nhân, Hoa Ky
1425. Dương Văn Nam, công nhân viễn thông, Ninh Bình
1426. Giuse Nghiêm Văn Sơn, linh mục, Giáo phận Thanh Hóa
1427. Phạm Mạnh Hùng, kỹ sư, Hà Nội
1428. Gioan B Nguyen Dinh Luu, linh mục phụ trách Giáo xứ Trung Hòa, Nghệ An
1429. Nguyễn Quốc Việt Hùng, Hoa Kỳ
1430. Diệp Chí Huy, Đà Nẵng
1431. Mai Dao, công nhân, Hoa Kỳ
1432. Đào Lê Tiến Sỹ, sinh viên, Hà Nội
1433. Nguyễn Văn Đức, du học sinh, Australia
1434. Trịnh Hữu Ý, tư vấn công nghệ thông tin, TP HCM
1435. Lương Châu Phước, cư sĩ Phật Giáo, Canada
1436. Hạ Đình Luân, giáo viên, TP HCM
1437. Bùi Quốc Tuấn, TS, về hưu, Hà Nội
1438. Hoàng Thanh Tâm, kỹ sư, Australia
1439. Nguyễn Cảnh Toàn, TP HCM
1440. Trần Văn Lạc, kỹ sư, TP HCM
1441. Ngo Binh Minh, kỹ sư, Hà Nội
1442. Đào Văn Bính, kỹ sư, Hà Nội
1443. Trần Xuân Toàn, trí thức, Hà Nội
1444. Dương Quốc Huy, cựu chiến binh, Hà Nội
1445. Lê Minh Khôi, cử nhân, Bình Thuận
1446. Nguyễn Tiến Dũng, TS, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Tự động hóa Việt Nam, nguyên giảng viên Học viện Kỹ thuật Quân sự, Hà Nội
1447. Lê Minh Cương, nông dân, Tiền Giang
1448. Trần Tuấn Dũng, hưu trí, Canada
1449. Nguyễn Tiến Duyên, sinh viên, Thái Nguyên
1450. Nguyễn Đăng Thùy Ân, dịch thuật, Lâm Đồng
1451. Trịnh H. Triết, kỹ sư, Hoa Kỳ
1452. Võ Toàn Thắng, công chức, luật sư, Đồng Nai
1453. Tạ Trí Hải, nghệ sĩ đường phố, Hà Nội
1454. Lê Gia Khánh, công dân Việt Nam, Hà Nội
1455. Phùng Thị Châm, kỹ sư nghỉ hưu, Hà Nội
1456. Nguyen Le Minh, kỹ sư, TP HCM
1457. Hoàng Đức Doanh, công dân Việt Nam, Hà Nam
1458. Nguyễn Hồng Điệp, công dân Việt Nam, Hà Nam
1459. Nguyễn Văn Tuấn, công dân Việt Nam, Hà Nam
1460. Tuan Dang, kỹ sư, Hoa Kỳ
1461. Nguyễn Duy Hòa, nhân viên kỹ thuật, TP HCM
1462. Lê Triều Quang, hội viên Hội Âm nhạc TP HCM, nhạc sĩ, kỹ sư, TP HCM
1463. Antôn Nguyễn Văn Đính, linh mục, Quản hạt Thuận Nghĩa, Giáo Phận Vinh, Nghệ An
1464. Lê Thế Hiệp, kiến trúc sư, đã nghỉ hưu, Thanh Hoá
1465. Trần Hữu Lực, kỹ sư, TP HCM
1466. Dương Minh Khải, viên chức, Hà Nội
1467. Nguyễn Hữu Phong, thạc sỹ, Hoa Kỳ
1468. Lê Thị Phi, TS, Hà Nội
1469. Hoàng Trung Hoa, linh mục, Quản xứ Làng Nam, Giáo phận Vinh
1470. Lê Trung Kiên, sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phục viên, Yên Bái
1471. Đỗ Đình Hùng, cử nhân, Hà Nội
1472. Nguyễn Thanh Cường, nghề nghiệp tự do, TPHCM
1473. Nguyễn Văn Nghi, TS, Hà Nội
1474. Mai Hiền, nhà báo, TP HCM
1475. Nguyen Quoc Viet, Ha Noi
1476. Nguyễn Văn Dũng, hưu trí, TP HCM
1477. Trần Đình Thắng, cựu giảng viên, TP HCM
1478. Trần Như Lực, kinh doanh, Nha Trang
1479. Đặng Thị Ngọc Hân, học sinh, TP HCM
1480. Nguyễn Hoài Đăng Khoa, sinh viên, TP HCM
1481. Đặng Hồng Hà, Hà Nội
1482. Lương Vĩnh Kim, Đoàn Luật sư TP.HCM, Giám đốc công ty, TP HCM
1483. Đỗ Việt Khoa, người đương thời, Hà Nội
1484. Lý Liêm, Inspector, Chandler, Hoa Kỳ
1485. Hoàng Hưng, kỹ sư, TP HCM
1486. Tạ Đắc Thường, Hà Nội
1487. Hoàng Ngọc Khanh, kỹ sư, Hoa Kỳ
1488. Hoàng Dũng, TP HCM
1489. Chiêu Anh Hải, công dân Việt Nam, TP HCM
1490. Đỗ Ngọc Công, cử nhân, Đồng Nai
1491. Phạm Andrea, sinh viên, CHLB Đức
1492. Nguyễn Đình Hợp, kỹ sư, TP HCM
1493. Lê Viết Tuấn, sinh viên, Nghệ An
1494. Nguyễn Minh Đào, cán bộ hưu trí, An Giang
1495. Nguyễn Hùng, cử nhân, Đồng Nai
1496. Trần Văn Nam, sinh viên mới ra trường, làm nghề tự do, Nghệ An
1497. Phêrô Trần Phúc Chính, linh mục Giáo phận Vinh
1498. Đào Quốc Việt, công dân, Hà Nội
1499. Nguyễn Thị Nguyệt, giáo viên tự do, Nghệ An
1500. Le Nguyen Quang, kỹ sư, TP HCM
1501. Khoi Nguyen, thầu khoán, Hoa Kỳ
1502. Nguyễn Minh Hoàn, sinh viên, Pháp
1503. Nguyễn Thế Anh, lao động tự do, Vinh
1504. Nguyễn Thị Mai Hương, nhân viên y tế, Ninh Bình
1505. Bùi Tường Anh, cán bộ về hưu, nguyên chuyên viên Vụ Thẩm định Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Hà Nội
1506. Phi Long, nhà báo, TP HCM
1507. Thanh Hà, nhà báo, TP HCM
1508. Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn, Hà Nội
1509. Nguyễn Thị Ngọc Trai, nhà văn, Hà Nội
1510. Phạm Lê Chi, TS, Hà Nội
1511. Ngô Thị Kim Thu, thạc sĩ, Hà Nội
1512. Đặng Thái Duy, học sinh, Ninh Thuận
1513. Vũ Trọng Đản, cựu chiến binh, 40 năm tuổi Đảng, chuyên viên chính Đại học Giao thông Vận tải, Hà Nội
1514. Nguyễn Anh Cường, xe ôm, Hà Nội
1515. Nguyễn Hải Yến, Hà Nội
1516. Phạm Phước Nguyên, cán bộ đã nghỉ hưu, Hà Nội
1517. Dieu Longacre, Hoa Kỳ
1518. Trung Trần, cử nhân, Vinh
1519. Hoàng Thị Thanh Nhàn, PGSTS, Hà Nội
1520. Trần Kiên Quyết, Đại tá Cựu chiến binh, Hà Nội
1521. Hoàng Kim Khánh, giáo viên, Huế
1522. Nguyễn Phú Cường, TP HCM
1523. Nguyễn Thị Lan, TP HCM
1524. Nguyễn Thế Việt, sinh viên, Bắc Giang
1525. Nguyễn Văn Cận, Thái Bình
1526. Nguyễn Văn Chín, Thái Bình
1527. Phạm Thị Cậy, Thái Bình
1528. Nguyễn Thị Tươi, Thái Bình
1529. Vũ Văn Tới, Thái Bình
1530. Nguyễn Văn Oanh, Thái Bình
1531. Nguyễn Thành Ban, Thái Bình
1532. Trần Anh Tuấn, Phú Thọ
1533. Nguyễn Thị Viễn, Phú Thọ
1534. Nguyễn Ngọc Hoá, Thái Bình
1535. Nguyễn Thị Nếp, Thái Bình
1536. Nguyễn Thị Thái, Thái Bình
1537. Phạm Lê Bắc, TP HCM
1538. Phùng Hồng Kổn, giáo viên, Hà Nội
1539. Đỗ Hữu Thạo, cựu giáo chức, cựu chiến binh, Thanh Hóa
1540. Nguyễn Khánh Trung, TS, Pháp
1541. Nguyen Cong Nghia, TS, bác sĩ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội
1542. Lê Thị Mỹ Tiên, công nhân, Pháp
1543. Nguyen Thanh Trung, Bà Rịa - Vũng Tàu
1544. Phạm Huy Việt, Đại tá về hưu, Hà Nội
1545. Hoang Cuong, hưu trí, CHLB Đức
1546. Minh Trình Nguyễn, cựu chiến binh, nguyên cán bộ nghiên cứu Viện Mác-Lênin Hà Nội, CHLB Đức
1547. Thị Bích Hằng Nguyễn, CHLB Đức
1548. Phêrô Nguyễn Văn Khải, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, sinh viên, Italia
1549. Đặng-Vũ Dzũng, thanh tra Bộ Tư pháp Vương quốc Bỉ, sĩ quan Hoàng gia Vương Quốc Bỉ, hai lần nhận Huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh từ nguyên Tổng thống Pháp Jacques Chirac, Bỉ
1550. Trần Đức Chính, nhà báo, Hà Nội
1551. Huynh Long Giang, nghệ sĩ, Hoa Kỳ
1552. Tuan Nguyen, thợ tiện, Hoa Kỳ
1553. Nguyễn Nam Tiến, kiến trúc sư, TP HCM
1554. Tayson DeLengocky, Dr., Clinical Assistant Professor of Surgery at UICMP at Peoria, Hoa Kỳ
1555. Lý Văn Bình, Khánh Hòa
1556. Huỳnh Minh Tú, kinh doanh tự do, CHLB Đức
1557. Phùng Đức Thu, Tổng biên tập Báo điện tử quangda.de Hội Đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng tại CHLB Đức
1558. Nguyễn Minh Khanh, kỹ sư, Pháp
1559. Nguyễn Thị Tuyết Xuân, TP HCM
1560. Le Huu Hoang Loc, thạc sĩ, Vĩnh Long
1561. Nguyễn Thị Thu Hà, công nhân, Hoa Kỳ
1562. Trần Thị Nga, công dân Việt Nam, Hà Nam
1563. Nguyễn Hữu Điền, nghỉ hưu, Hà Nội
1564. Vũ Luân, kỹ sư, TP HCM
1565. Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư, Hà Nội
1566. Nguyễn Kiên Giang, sáng tác văn chương, TP HCM
1567. Hoàng Thị Tươi, giáo viên, Lạng Sơn
1568. Nguyễn Thị Lan, tư thương, Hà Nội
1569. Đõ Công Thắng, nghề nghiệp tự do, cựu chiến binh, Hà Nội
1570. Vũ Thach Sơn, cựu chiến binh, Hà Nội
1571. Phạn Thị Bình, cán bộ hưu trí, Hà Nội
1572. Phạm Văn Cần, cán bộ hưu trí, Hà Nội
1573. Phạm Thị Kiệm, cán bộ hưu trí, Hà Nội
1574. Mai Văn Bời, cán bộ hưu trí, Hà Nội
1575. Lê Như Duy, Hà Nội
1576. Chi Tran, kỹ sư, Australia
1577. Nguyễn Văn Tuệ, hưu trí, Qui Nhơn
1578. Nguyễn Quỳnh Hoa, giáo viên, Hà Nội
1579. Nguyễn Hoàng Phương, Thiếu úy quân đội, Hà Nội
1580. Nguyen Duy Toan, Hoa Kỳ
1581. Nguyễn Huyền Trang, thạc sĩ, CHLB Đức
1582. Nguyễn Tiến Hưng, Đồng Nai
1583. Trần Văn Trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hà Nội
1584. Mai Xuân Dũng, công dân Việt Nam, Hà Nội
1585. Trần Văn Ngọc, giáo viên, Hà nội
1586. Nguyễn Hoàng Anh, kỹ sư, Hà Nội
1587. Hải Triều, bác sĩ, Hà Nội
1588. Trần Thân, kế toán, Hà Nội
1589. Trần Khắc Xuân, giáo viên, Hà Nội
1590. Lê Quốc Quyết, doanh nhân, TP HCM
1591. Phạm Hoàng Phiệt, Giáo sư Y học đã nghỉ hưu, TP HCM
1592. Nguyễn quốc Sỹ, thạc sĩ, Hà Nội
1593. Nguyễn Văn Cung, nhạc sĩ, Thượng tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội
1594. Lê Quang Huy, công dân Việt Nam, TP HCM
1595. Nguyễn Thế Hùng, kỹ sư, Australia
1596. Dư Thị Hoàn, nhà thơ, Hải Phòng
1597. Trịnh Hoài Giang, nhà giáo, nhà thơ, Hải Phòng
1598. Phạm Như Hiển, giáo viên, Thái Bình
1599. Gioan Baotixita Nguyen Dinh Thuc, linh mục Giáo phận Vinh, Nghệ An
1600. Vũ Thị Tuyết, giảng viên đại học, Hà Nội
1601. Nguyễn Minh Sơn, công dân Việt Nam, Hà Nội
1602. Trần Văn Toàn, công dân Việt Nam, Hà Nội
1603. Trần Thăng Long, kỹ sư, Bắc Ninh
1604. Nguyễn Thị Thanh Hoa, giáo viên, TP HCM
1605. Nguyen Thi Ngoc Suong, buôn bán, TP HCM
1606. Giuse Nguyễn Viết Nam, linh mục Giáo phận Vinh
1607. Hà Xuân Thông, PGS TS, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, Bộ Thủy sản (cũ), Hà Nội
1608. Ngọ Bình Minh, kỹ sư, Hà Nội
1609. Nguyễn Huy Hoàng, kỹ sư, Hà Nội
1610. Nguyễn Thị Hồng Hà, giáo viên, Hà Nội
1611. Lê Anh Tuấn, kỹ sư, Phú Thọ
1612. Đoàn Viết Hiệp, kỹ sư, Pháp
1613. Nguyễn Quốc Thản, kỹ sư, Nhật Bản
1614. Nguyễn Quốc Túy, cử nhân kinh tế, Trưởng ban điều hành tín dụng, tiền tệ tòa thị chính Thành phố Halle, Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Halle và vùng phụ cận, CHLB Đức
1615. Vũ Trí Loan, TP HCM
1616. Bùi Trọng Tuấn, dược sĩ chuyên khoa 2, Chủ tịch Hội Dược học thành phố Hải Dương, Hải Dương
1617. Nguyễn Đăng Lập, kỹ sư, thành phố Bà Rịa, Bà Rịa – Vũng Tàu
1618. Đinh Văn Minh, linh mục, Quản xứ Yên Hoà, Nghệ An
1619. Nguyễn Hoàng Vinh, kỹ sư, TP HCM
1620. Trần Mạnh Sỹ, nhà báo, Nam Định
1621. Nguyễn Xuân Tùng, TS, Mine Finance Corporation, Hà Nội
1622. Phạm Văn Thắng, nghề nghiệp tự do, Bắc Ninh
1623. Nguyễn Thành Trung, kĩ thuật viên, Bình Dương
1624. Trần Phước Thịnh, giáo viên, Long An
1625. Nguyễn Thị Bích Liên, Hà Nội
1626. Nguyễn Thị Thu, Hà Nội
1627. Nguyễn Tử Bình, Hà Nội
1628. Nguyễn Văn Thắng, Hà Nội
1629. Dương Thị Hoàng, Hà Nội
1630. Nguyễn Văn Vòng, Hà Nội
1631. Dương Văn Sơn, Hà Nội
1632. Nguyễn Thị Hoa, Hà Nội
1633. Nguyễn Thị Tiến, Hà Nội
1634. Nguyễn Văn Diên, Hà Nội
1635. Nguyễn Thị Mười, Hà Nội
1636. Dương Thị Khuê, Hà Nội
1637. Dương Thị Hằng, Hà Nội
1638. Nguyễn Thị Tâm, Hà Nội
1639. Đặng Bá Dư, Hà Nội
1640. Dương Văn Sự, Hà Nội
1641. Dương Thị Tỉnh, Hà Nội
1642. Đặng Đình Thiện, Hà Nội
1643. Nguyễn Thị Thanh, Hà Nội
1644. Nguyễn Thị Thúy, Hà Nội
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 07:07
Nhãn: Hiến pháp

HongLac (khách viếng thăm) gửi lúc 02:55, 29/01/2013 - mã số 77838
Trích dẫn:

Tôi cũng đi vào lịch sử đây, bác KQĐ ơi! Bác ngày càng hơi... nhỏ mọn đấy! Cạnh khóe anh em bạn bè làm gì!

Nothing in the world is more dangerous than sincere ignorance and conscientious stupidity.

Martin Luther King, Jr.

The difference between stupidity and genius is that genius has its limits.

Albert Einstein

visitor (khách viếng thăm) gửi lúc 01:20, 29/01/2013 - mã số 77832

Tôi ủng hộ phần lớn bản dự thao HP với việc xem xét bổ xung các điểm sau đây:
- Tòa án phân chia theo cấp xét xử: TATC, Tòa án Vùng, Tòa Dân sự, Tòa Quân sự, và Tòa Án HP. Các vùng bao phủ bởi Tòa án Vùng không phân chia theo đơn vị hành chính mà theo sự thuận tiện cho việc sử án và để đảm bảo sự độc lập, tránh bị can thiệp bởi các cấp chính quyền hành chính địa phương.

Một điểm nữa tôi mong muốn là làm sao các điều khoản của HP cô đọng đủ để không cần phải có cái đuôi "theo quy định của pháp luật", tránh cái vòng lẩn quẩn PL phải phù hợp, tuân thủ HP, để rồi một số điều của HP lại phải tuân thủ quy định của PL.

Quyenluc (khách viếng thăm) gửi lúc 21:15, 28/01/2013 - mã số 77814

Bác Già ơi! Quên KQĐ đi!
hãy xem giáo xứ THÁI HÀ,Daklak ký kiến nghị!
Bác nghĩ xem:toàn bộ các giáo xứ+63 tỉnh thành cùng ký kiến nghị có phải là một điều quá tuyệt vời không?

Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 21:07, 28/01/2013 - mã số 77813
Khách Qua Đường viết:
Đỗ Xuân Thọ viết:
Thọ thông báo 3 tin vui cho các đồng chí (những người cùng ý chí cho việc hiện thực hóa bản HP MỚI 2013 do các nhân sỹ đề nghị trên trang BAUXITEVN soạn thảo)
1) Một số nhà sử học xịn của VN coi bản kiến nghị này và những người ký tên ủng hộ là MỘT DẤU MỐC LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM. Con , cháu, chăt..của những người ký tên hoàn toàn có quyền tự hào với mọi người sau này là:” Cụ tao, ông tao, bố tao đã tham gia vào việc cho ra đời một HIẾN PHÁP tốt như Hoa kỳ ở Việt Nam từ năm 2013″
2) Cục 2 của bộ Quốc Phòng và cục 5 của bộ Công An đang bật đèn xanh cho chúng ta lấy chữ ký của sinh viên các trường Đại Học, chữ ký của Công Nhân và Nông Dân
3) Các trang web, các báo điện tử trong và ngoài nước đang hồi hộp chờ tin và ủng hộ chúng ta

VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH SẼ CÓ MỘT EN-SIN NHƯ NƯỚC NGA!!! MỘT SỰ SỤP ĐỔ CỦA CNXH Ở VN CÓ ĐIỀU KHIỂN!!!
NHÂN DÂN TA QUYẾT DÀNH LẤY QUYỀN LÀM NGƯỜI !!!
VIỆT NAM SẼ CÓ MỘT HIẾN PHÁP TIẾN BỘ NHƯ HOA KỲ !!!!

Xin chúc mừng bác Đỗ Xuân Thọ đã đi vào lịch sử. Cung hỷ! Cung hỷ!

Tôi cũng đi vào lịch sử đây, bác KQĐ ơi! Bác ngày càng hơi... nhỏ mọn đấy! Cạnh khóe anh em bạn bè làm gì!

Quyenluc (khách viếng thăm) gửi lúc 20:43, 28/01/2013 - mã số 77809

Đây là cơ hội 80 năm!

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 15:03, 28/01/2013 - mã số 77790
Đỗ Xuân Thọ viết:
Thọ thông báo 3 tin vui cho các đồng chí (những người cùng ý chí cho việc hiện thực hóa bản HP MỚI 2013 do các nhân sỹ đề nghị trên trang BAUXITEVN soạn thảo)
1) Một số nhà sử học xịn của VN coi bản kiến nghị này và những người ký tên ủng hộ là MỘT DẤU MỐC LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM. Con , cháu, chăt..của những người ký tên hoàn toàn có quyền tự hào với mọi người sau này là:” Cụ tao, ông tao, bố tao đã tham gia vào việc cho ra đời một HIẾN PHÁP tốt như Hoa kỳ ở Việt Nam từ năm 2013″
2) Cục 2 của bộ Quốc Phòng và cục 5 của bộ Công An đang bật đèn xanh cho chúng ta lấy chữ ký của sinh viên các trường Đại Học, chữ ký của Công Nhân và Nông Dân
3) Các trang web, các báo điện tử trong và ngoài nước đang hồi hộp chờ tin và ủng hộ chúng ta

VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH SẼ CÓ MỘT EN-SIN NHƯ NƯỚC NGA!!! MỘT SỰ SỤP ĐỔ CỦA CNXH Ở VN CÓ ĐIỀU KHIỂN!!!
NHÂN DÂN TA QUYẾT DÀNH LẤY QUYỀN LÀM NGƯỜI !!!
VIỆT NAM SẼ CÓ MỘT HIẾN PHÁP TIẾN BỘ NHƯ HOA KỲ !!!!

Xin chúc mừng bác Đỗ Xuân Thọ đã đi vào lịch sử. Cung hỷ! Cung hỷ!

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 14:13, 28/01/2013 - mã số 77788

Thọ thông báo 3 tin vui cho các đồng chí (những người cùng ý chí cho việc hiện thực hóa bản HP MỚI 2013 do các nhân sỹ đề nghị trên trang BAUXITEVN soạn thảo)
1) Một số nhà sử học xịn của VN coi bản kiến nghị này và những người ký tên ủng hộ là MỘT DẤU MỐC LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM. Con , cháu, chăt..của những người ký tên hoàn toàn có quyền tự hào với mọi người sau này là:” Cụ tao, ông tao, bố tao đã tham gia vào việc cho ra đời một HIẾN PHÁP tốt như Hoa kỳ ở Việt Nam từ năm 2013″
2) Cục 2 của bộ Quốc Phòng và cục 5 của bộ Công An đang bật đèn xanh cho chúng ta lấy chữ ký của sinh viên các trường Đại Học, chữ ký của Công Nhân và Nông Dân
3) Các trang web, các báo điện tử trong và ngoài nước đang hồi hộp chờ tin và ủng hộ chúng ta

VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH SẼ CÓ MỘT EN-SIN NHƯ NƯỚC NGA!!! MỘT SỰ SỤP ĐỔ CỦA CNXH Ở VN CÓ ĐIỀU KHIỂN!!!
NHÂN DÂN TA QUYẾT DÀNH LẤY QUYỀN LÀM NGƯỜI !!!
VIỆT NAM SẼ CÓ MỘT HIẾN PHÁP TIẾN BỘ NHƯ HOA KỲ !!!!

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 07:44, 28/01/2013 - mã số 77763

Danh sách những người đã ký tên vào bản KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HP 2013 đợt 7 đã có. Lần này bà con Đaklak tham gia rất mạnh. Như vậy cho đến nay đã có 1405 người ký
Đợt 7:

1207. Lữ Phương, nhà nghiên cứu, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, TP HCM

1208. Huỳnh Phi Lomg, công dân Việt Nam, TP HCM

1209. Huỳnh Phương Liên, GS TS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học công nghệ Vabiotech, Hà Nội

1210. Phạm Thị Trịnh, Đaklak

1211. Ngô Văn Đạt, Đaklak

1212. Lý Thị Thơm, Đaklak

1213. Lê Văn phong, Đaklak

1214. Nguyễn Văn Tuynh, Đaklak

1215. Lý Văn Quân, Đaklak

1216. Triệu Thị Tân, Đaklak

1217. Bàn Văn Thắng, Đaklak

1218. Trần Văn Chiến, Đaklak

1219. Hoàng Văn Trọng, Đaklak

1220. Nguyễn Đàm Minh, Đaklak

1221. Bùi Đình Long, Đaklak

1222. Nông Văn Hiếu, Đaklak

1223. Mã Thị Nôm, Đaklak

1224. Vi Thị Lố, Đaklak

1225. Hoàng Văn Huyên, Đaklak

1226. Bùi Thị Hòa, Đaklak

1227. Huỳnh Quốc Tuấn, Đaklak

1228. Huỳnh Thị Nhi, Đaklak

1229. Nông Văn Đức, Đaklak

1230. Hoàng Thị Hòa, Đaklak

1231. Nông Văn Dũng, Đaklak

1232. Bàn Thị Hồng, Đaklak

1233. Triệu Mùi Pham, Đaklak

1234. Bàn Mùi Diến, Đaklak

1235. Triệu Mùi Sỉnh, Đaklak

1236. Nông Văn Thịnh, Đaklak

1237. Triệu Văn Hùng, Đaklak

1238. Triệu Văn Phùng, Đaklak

1239. Đăng Quang Phong, Đaklak

1240. Nông Văn Tấn, Đaklak

1241. Lê Văn Lợi, Đaklak

1242. Nông Văn Biết, Đaklak

1243. Huỳnh Ngọc Tân, Đaklak

1244. Lục Thị Miến, Đaklak

1245. Lục Văn Cường, Đaklak

1246. Nông Thị Oanh, Đaklak

1247. Triệu Văn Đông, Đaklak

1248. Nông Văn Long, Đaklak

1249. Triệu Văn Tình, Đaklak

1250. Hoàng Văn Hải, Đaklak

1251. Sầm Đức Anh, Đaklak

1252. Nông Văn Nghĩa, Đaklak

1253. Tô Doanh Thầm, Đaklak

1254. Trần Thị Mỹ Linh, Đaklak

1255. Hoàng Văn Nghị, Đaklak

1256. Nguyễn Văn Hoài, Đaklak

1257. Dương Văn Toàn, Đaklak

1258. Điểu Thị Siêu, Đaklak

1259. Điểu Vưng, Đaklak

1260. Điểu Thị Giai, Đaklak

1261. Điểu Khon, Đaklak

1262. Thị Ít, Đaklak

1263. Thị Palat, Đaklak

1264. Thị Pasai, Đaklak

1265. Thị Vong, Đaklak

1266. Điểu Nơ Dông, Đaklak

1267. Hoàng Văn Quý, Đaklak

1268. Mai Thị Hồng, Đaklak

1269. Lưu Kim Lân, Đaklak

1270. Phan Trọng Đại, công dân Việt Nam, kỹ sư, Cộng hòa Czech

1271. Nguyễn Bạch Liên Hương, nội trợ, CHLB Đức

1272. Hong Nguyen, làm việc tai University of Florida, Hoa ky

1273. Nguyễn Thị Hoài Thu, công dân, thành phố Vinh

1274. Ông Văn Duật, kỹ sư cơ khí, công dân Việt Nam, Cộng hòa Czech

1275. Trương Hữu Quý, quản lý nhà hàng, Hà Nội

1276. Văn Đắc An, Hoa Kỳ

1277. Lâm Phước Đông, kỹ thuật viên, Hoa Kỳ

1278. Peter Ng, Australia

1279. Phan Châu Vi Hòa, Freelance Web Developer, TP HCM

1280. Trương Hoài Phước, lao động tự do, Trà Vinh

1281. Phuong Tran, Australia

1282. Phêrô Trần Mạnh Hùng, linh mục, Pháp

1283. Lê Bạch Dương, TS, học giả Fulbright, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, Hà Nội

1284. Vũ Hoàng Tùng, kỹ sư, CHLB Đức

1285. Phan Ha Huy, giảng viên đại học, Tp HCM

1286. Nguyễn Thanh Minh, cử nhân, Hoa Kỳ

1287. Đoàn Công Nghị, Nha Trang

1288. Trần Phước Lộc, bán hàng tự do, TPHCM

1289. Trần Thị Như Thủy, nghiên cứu viên khoa học, Canada

1290. Khúc Hải Vân, Hà Nội

1291. Nguyễn Văn Dương, kỹ sư, Vĩnh Phúc

1292. Nguyễn Thị Mười, nội trợ, T PHCM

1293. Hoàng Quân, sinh viên, Hoa Kỳ

1294. Nguyễn Văn Hương, linh mục, TS, Chánh văn phòng Tòa Giám mục Giáo phận Vinh

1295. Phung Nguyen, Hoa Kỳ

1296. Tran Tram, Hoa Kỳ

1297. Nguyen Ngoc Trung, Hoa Kỳ

1298. Phat Van Nguyen, Hoa Kỳ

1299. Nguyễn Ngọc Minh, nhân viên thiết kế, TP HCM

1300. Nguyễn Ngọc Anh, chủ doanh nghiệp, TP HCM

1301. William Truong, Hoa Kỳ

1302. Phạm Lê Quốc Việt, nghiên cứu sinh, Đại học Freiburg, Thụy Sĩ

1303. Nguyễn Ích Tráng, Bình Định

1304. Phan Thanh Ngà, kỹ sư xây dựng, Giám đốc doanh nghiệp, TP HCM

1305. Khuất Thu Hồng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, Hà Nội

1306. Nguyễn Hồng Việt, Giám đốc, TP HCM

1307. Giuse Đỗ Văn Tuyến, linh mục, Giám luật, tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse, Hà Nội

1308. Trần Quốc Thuận, công nhân hưu trí, Hoa Kỳ

1309. Phạm Đức Chính, nhân viên phân tích, TP HCM

1310. Phung Thi Ly, nghề nghiệp tự do, TP HCM

1311. Đặng Minh Toàn, Software Engineer, Bình Định

1312. Micae Trần Định, linh mục Giáo phận Vinh, Quản xứ Kẻ Đọng, Hà Tĩnh

1313. Nguyễn Thiện Chí, sinh viên công giáo, Huế

1314. Hoàng Huy, doanh nghiệp nhỏ, Hà Nội

1315. Nguyễn Đào Trường, cán bộ hưu trí, Hải Dương

1316. Le anh Phong, công nhân, Canada

1317. Hanh Tran, Library Technician, Australia

1318. Jasmine Phuong Tran, sinh viên, Pháp

1319. Tallys Thu Tran, accountant, Pháp

1320. To Minh Chi, hưu trí, Australia

1321. Nguyễn Quang Tuấn, linh mục, Hà Tĩnh

1322. Trần Phương Linh, du học sinh, Anh Quốc

1323. Lê Thị Hồng Thủy, giảng viên Đại học, TP HCM

1324. Phaolô Nguyen Xuan Hoa, linh mục Giáo phận Vinh, Quản xứ kiêm Quản hạt Kỳ Anh, Hà Tĩnh

1325. Nguyen Huu Hinh, công nhân, Hoa Kỳ

1326. Ngô Khiết, TP HCM

1327. Trần Hùng, cựu chiến binh, Bình Dương

1328. Dương Hồng Lam, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn Miền Nam, TP HCM

1329. Nguyễn Huy Châu, kỹ sư, thạc sĩ, Đà Nẵng

1330. Nguyễn Hoành Hùng, kỹ sư, Vũng Tàu

1331. Ha V Chuong, programmer, Australia

1332. Ngô Quốc Sĩ, Hoa Kỳ

1333. Trương Tâm Đạt, kinh doanh, Australia

1334. Biện Xuân Bộ, kỹ sư, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Công ty, Bắc Ninh

1335. Nguyễn Lê Kim Đan, sinh viên, Đà Nẵng

1336. Nguyễn Nhật Khánh, sinh viên, TP HCM

1337. Nguyễn Nhật Trường, sinh viên, TP HCM

1338. Phạm Thanh Liêm, công dân, Vũng Tàu

1339. Trương Toàn Phương, sinh viên, TP HCM

1340. Phêrô Trần Văn Thành, linh mục Quản xứ Kinh Nhuận, Quảng Bình

1341. Mai Quốc Đạt, du học sinh, Nhật Bản

1342. Tôn Thất Quỳnh, Trưởng phòng Xuất nhập khẩu công ty nước ngoài, TP HCM

1343. Nguyễn Nam Thiên, doanh nhân, TP HCM

1344. Do Van Tien, Nhật Bản

1345. Nguyễn Lưu Sơn, giảng viên khoa Toán, Đại học Puerto Rico, Hoa Kỳ

1346. Phạm Xuân Kế, linh mục Quản xứ, Quản hạt Đông Tháp, Nghệ An

1347. Phêrô Trần Phúc Chính, linh mục Giáo phận Vinh

1348. Phan Ngọc Hoà, kỹ sư, Hoa Kỳ

1349. Hoàng Cao Nhân, cử nhân, TP HCM

1350. Trần Trung Giang, luật gia, Hà Nội

1351. Văn Thị Hạnh, TS, TP HCM

1352. Giuse Chu Quang Hai, linh mục Dòng Phanxicô

1353. Phạm Hoài Đức, TS, đã nghỉ hưu, Hà Nội

1354. Phạm Minh Đức, kỹ sư, CHLB Đức

1355. Trần Đức Mai, linh mục nhà thờ An Nhiên, Hà Tĩnh

1356. Nguyen Ba Cuong, giáo viên về hưu, Đồng Nai

1357. Nguyễn Khắc Kế, kỹ sư, Nha Trang

1358. Nguyễn Tiến Tuân, kỹ sư, Hà Nội

1359. Trần Xuân Bình, cán bộ hưu trí, Hà nội

1360. Nguyen Ha Phuong, kinh doanh, Cộng hòa Czech

1361. Nguyễn Hoàng Triêu, sinh viên, Đà Nẵng

1362. Phạm Văn Nhân, công dân Việt Nam, Hàn Quốc

1363. Bùi Khôi Hùng, cán bộ hưu trí, Hà Nội

1364. Antôn Trần Đình Văn, linh mục Quản xứ Mẫu Lâm, Giáo phận Vinh

1365. Vũ Hải Hồng, kỹ sư hưu trí, Pháp

1366. Nguyễn Bá Lợi, giáo viên, TP HCM

1367. Jos Nguyễn Anh Tuấn, linh mục Giáo phận Vinh

1368. Đỗ Đình Tuân, nguyên Phó Hiệu trưởng trường THPT Chí Linh, Hải Dương

1369. Hàn Dũng, giáo viên, Hà Nội

1370. Truong Van Hanh, hưu trí, Pháp

1371. Tran Thi Minh Thy, lao động tự do, Hàn Quoc

1372. Nghiêm Ngọc Trai, kỹ sư, về hưu, Hà Nội

1373. Nguyễn Đình Bá, thạc sĩ, giảng viên, Đà nẵng

1374. Phan Hoàng Tĩnh Xuyên, nhà báo, Đà Lạt

1375. Nguyễn Đức Minh, kinh doanh, TP HCM

1376. Nguyễn Chí Công, kỹ sư, TP HCM

1377. Nguyễn Khoa Hoàng Vũ, kỹ sư, Đà Nẵng

1378. Phan Văn Phong, kỹ sư, Hà Nội

1379. Lê Ngọc Sang, Bình Dương

1380. Phạm Công Cường, TS, nguyên cán bộ Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia Việt Nam, Hà Nội

1381. Tu Thi Nga, công chức, Canada

1382. Lê Kim Anh, cử nhân, Hà Nội

1383. Tống Ngọc Anh, lập trình viên, Hà Nội

1384. Nguyễn Hồng Hà, TS, CHLB Đức

1385. Jb Nguyễn Duy Khánh, sinh viên, Đà Nẵng

1386. Vương Thiện Đức, bác sĩ thú y, Đồng Nai

1387. Nguyễn Huy Lưu, linh mục Giáo phận Vinh

1388. Tran The Khoa, kinh doanh tự do, Hà Nội

1389. Nguyen Duc Gia, nghề nghiệp tự do, TP HCM

1390. Nguyễn Huy Hiền, linh mục, Quản xứ Mỹ Dụ, Nghệ An

1391. Hoàng Sĩ Hướng, linh mục Quản hạt Cầu Rầm, Nghệ An

1392. Vũ Ngô Đàn, sinh viên, TP HCM

1393. Phạm Dúc Quý, chuyên viên, hưu trí, Hà Nội

1394. Trần Tấn Cung, kỹ sư, CHLB Đức

1395. Vũ Đức Hiếu, sinh viên, Nam Định

1396. Thanh Bui, Hoa Kỳ

1397. Dương Khôi Nguyên, giáo viên, Nam Định

1398. Nguyen Dưc Viet, lao động tự do, Nghệ An

1399. Mai Khắc Bân, kỹ sư, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội

1400. Đinh Nam Thành, doanh nhân, Ba Lan

1401. King Song Luong, Na Uy

1402. Vũ Hội, xây dựng, Thanh Hóa

1403. Hoàng Ngọc Quyền, giám đốc, Nghệ An

1404. Trần Thị Quỳnh Trang, sinh viên, Nghệ An

1405. Nguyễn Hũu Bảo, chuyên viên, đã nghỉ hưu, Hà Nội

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 07:10
Nhãn: Hiến pháp

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 03:05, 27/01/2013 - mã số 77684

Danh sach những người ký tên đợt 6

Đợt 6:

1036. Đào Công Tiến, PGS, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP HCM, TP HCM

1037. Nguyễn Hoàng Giang, nhà hóa học, Hoa Kỳ

1038. Nguyễn Đình Quảng, thạc sĩ, kỹ sư, Hàn Quốc

1039. Bùi Hồng Hải, kỹ sư, Đà Nẵng

1040. Lê Thiện Toàn, kỹ sư, Thanh Hóa

1041. Nhữ Xuân Thạo, cán bộ hưu trí, Vũng Tàu

1042. Phan Thành Khương, nhà giáo, Ninh Thuận

1043. Phan Thanh Minh, Quảng Nam

1044. Dương Kỳ Thịnh, sinh viên cao học, TP HCM

1045. Trương Phước Đức, bác sĩ, TP HCM

1046. Phan Triều Giang, TS, giảng viên đại học, TP HCM

1047. Dang Hung, kỹ sư, TP HCM

1048. Nguyễn Anh Tuấn, linh mục Giáo phận Vinh

1049. Nguyễn Tấn Nhựt, sinh viên, TP HCM

1050. Nguyễn Anh Minh, kinh doanh, TP HCM

1051. Phạm Quang Tuấn, kỹ sư, TP HCM

1052. Phạm Thị Minh Đức, nhân viên văn phòng, Hà Nội

1053. Ngô Quang Trưởng, IT, Hà Nội

1054. Trần Minh Hải, kỹ sư, Nhật Bản

1055. Nguyễn Anh Tuấn, PGS TS, cán bộ Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội

1056. Nguyễn Ánh Tuyết, chuyên viên kỹ thuật, Hà Nội

1057. Lương Nguyễn Trãi, giáo viên, TP HCM

1058. Cao Văn Phếng, TP HCM

1059. Nguyễn Hoàng Việt, kinh doanh, k TP HCM

1060. Võ Tấn, làm thuê đủ thứ nghề, Ninh Thuận

1061. Nguyễn Đình Cương, sinh viên Đại học Sunderland, TP HCM

1062. Hà Văn Chiến, cựu chiến binh, Thái Bình

1063. Ngô Sách Thân, nhà giáo nghỉ hưu, Bắc Giang

1064. Cao Tuấn Huy, Xử lý Môi trường, Đồng Nai

1065. Lê Mạnh Cường, kỹ thuật viên, Ninh Bình

1066. Nguyễn Phúc Tăng, kinh doanh café, Thái Bình

1067. Nguyen Van Tien Si, kỹ sư, TP HCM

1068. Đào Thế Trường, học sinh, Thái Bình

1069. Nguyễn Tòng Khang, kỹ sư, TP HCM

1070. Nguyễn Thành Trung, học sinh, TP HCM

1071. Hoàng Mạnh Dũng, nhân viên thiết kế, Bà Rịa - Vũng Tàu

1072. Phạm Minh Khôi, CHLB Đức

1073. Trương Phước Lai, TS, Pháp

1074. Trương Khánh Ngọc, kỹ sư, TP HCM

1075. Than Hai Thanh (Ba Vinh), nguyên Tổng Giám đốc Benthanhtourist, TP HCM

1076. Đỗ Đình Nguyên, giáo viên hưu trí, TP HCM

1077. Nguyen Van Quang, CHLB Đức

1078. Trần Khang Thụy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học Kinh tế, Đại học Kinh tế TP HCM

1079. Nguyen Hien, linh mục, Pháp

1080. Nguyễn Văn Định, sinh viên, TP HCM

1081. Phạm Đan Sa, thạc sĩ, Hà Nội

1082. Nguyễn Văn Hòa, cựu chiến binh, kỹ sư, CHLB Đức

1083. Huỳnh Phước Hòa, kỹ sư, TP HCM

1084. Nguyễn Thượng Long, nguyên giáo viên, thanh tra giáo dục Hà Tây cũ, Hà Nội

1085. Lê Tấn Tài, Bà Rịa - Vũng Tàu

1086. Nguyễn Hải Nam, TS, đã về hưu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hà Nội

1087. Nghiêm Hữu Hạnh, PGS TS, Hà Nội

1088. Hoàng Đức Ngọc Lễ, giáo viên, Hoa Kỳ

1089. Nguyễn Chính, thạc sĩ, Nha Trang

1090. Trọng Hải, sinh viên, Hải Phòng

1091. Lê Ngân, luật gia, nhà báo, Hà Nội

1092. Nguyễn Đức Long, CHLB Đức

1093. Võ Phương Nam, kỹ sư, TP HCM

1094. Nguyễn Trường Thọ, kỹ sư, Hà Nội

1095. Nguyen Phuc Nguyen, kỹ sư, Hà Nội

1096. Lê Lan Chi, nhân viên thư viện, Canada

1097. Trịnh Hoàng Phi, học sinh, Hải Phòng

1098. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Pháp

1099. Vũ Hồng Ánh, nghệ sĩ đàn cello, TP HCM

1100. Tran Thanh Van, mục sư, Hoa kỳ

1101. Nguyễn Hoàng Vũ, nghiên cứu viên, Hà Nội

1102. Nguyễn Hữu Nhiên, TP HCM

1103. Vũ Quang Chính, nhà lý luận phê bình điện ảnh, Hà Nội

1104. Nguyễn Tiến Bính, Hà Nội

1105. Nguyễn Sỹ Tuấn, hoạ sỹ, TP HCM

1106. Lê Cường, kỹ sư, Hoa Kỳ

1107. Hoàng Thị Ngọc Lài, giáo viên, TP HCM

1108. Đoàn Khắc Xuyên, nhà báo, TP HCM

1109. Đào Anh Trường, sinh viên, Pháp

1110. Đào Đức Phương, sinh viên, Thuỵ Điển

1111. Chu Nguyet Anh, nhân viên văn phòng, Hà Nội

1112. Tran Thi Dung, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội

1113. Chu Toan Thang, nhân viên, Hà Nội

1114. Lê Thị Hồng Lan, cựu giáo viên, TP HCM

1115. Trịnh Thị Kim Dự, cựu viên chức, TP HCM

1116. Huỳnh Lan Hương, sinh viên, TP HCM

1117. Nguyễn Thanh Hà, kỹ sư, TP HCM

1118. Phan Trần Phú Huy, sinh viên trường Đại học RMIT, TP HCM

1119. Nguyễn Thị Thúy Hằng, sinh viên, Thanh Hóa

1120. Nguyễn Hải Như, cử nhân, Đà Nẵng

1121. Vu Minh Hiep, Technician Polish, Hoa Kỳ

1122. Do Thi Binh, giảng viên, TP HCM

1123. Nguyễn Dương, thợ tiện, Hoa Kỳ

1124. Huỳnh Việt Lang, nhà báo, Thái Lan

1125. Ngô Sĩ Tư, chuyên viên văn phòng, Hà Nội

1126. Dinh Nguyen, doanh nhân, Hoa Kỳ

1127. Trương Văn Tài, công dân, TP HCM

1128. Kim Ngoc Huynh, Hoa Kỳ

1129. Nguyen Le Thu My, cán bộ hưu trí, TP HCM

1130. Vo Van Giap, kỹ sư, Canada

1131. Đinh Văn Nghị, sinh viên, Nghệ An

1132. Nguyễn Ngọc Nam Phong, linh mục, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1133. Lương Văn Long, linh mục, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1134. Nguyễn Xuân Đường, linh mục, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1135. Nguyễn Kim Hùng, linh mục, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1136. Vũ Khởi Phụng, linh mục, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1137. Nguyễn Văn Phượng, linh mục, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1138. Nguyễn Văn Huyến, linh mục, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1139. Trần Văn Bắc, TS, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội “

1140. Xuân Diệu, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1141. Nguyễn Thị Thản, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1142. Lê Thị Mây, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1143. Vũ Văn Hoàn, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1144. Trần Thị Hương Xuân, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1145. Nguyễn Thị Thúy Hằng, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1146. Nguyễn Văn Huệ, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1147. Đào Thị Anh, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1148. Nguyễn Thị Lan, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1149. Nguyễn Trường Sơn, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1150. Nguyễn Xuân Sơn, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1151. Nguyễn Xuân Giảng, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1152. Phạm Thị Trang, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1153. Đoàn Thị Lan, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1154. Phạm Thị Yến, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1155. Lưu Đại Dương, Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

1156. Lê Thị Nguyên, Giáo xứ Tụy Hiền

1157. Nguyễn Thị Lam, Giáo xứ Trại Lê, Hà Tĩnh

1158. Trần Thị Ngọc, Giáo xứ Thượng Nậm, Nghệ An

1159. Đặng Thị Tiến, Hà Nội

1160. Nguyễn Văn Kết, Hà Nội

1161. Nguyễn Văn Thinh, Hà Nội

1162. Vũ Thanh Tùng, Hà Nội

1163. Nguyễn Thế Khánh, Hà Nội

1164. Phạm Hoàng Vũ, Hà Nội

1165. Nguyễn Đại Thành, Hà Tĩnh

1166. Nguyễn Thị Mai Hương, Hà Tĩnh

1167. Mai Ánh Hồng, Hà Tĩnh

1168. Trần Cương, Hà Tĩnh

1169. Phạm Ngọc Hoàng, Hà Tĩnh

1170. Phạm Thị Nhung, sinh viên, Hà Tĩnh

1171. Nguyễn Thị Hương, sinh viên, Hà Tĩnh

1172. Nguyễn Xuân Duy, Hà Tĩnh

1173. Hoàng Thị Giang, Hà Tĩnh

1174. Đinh Thị Thùy Dung, Hà Tĩnh

1175. Nguyễn Thị Diệp, Hà Tĩnh

1176. Trần Thị Giang, Hà Tĩnh

1177. Phạm Văn Minh, Hà Tĩnh

1178. Nguyễn Thị Mân, Hà Tĩnh

1179. Nguyễn Thị Hương Mơ, Hà Tĩnh

1180. Nguyễn Quang Tuy, Hà Tĩnh

1181. Lê Hồng Phong, Hà Tĩnh

1182. Đặng Hữu Tiên, Nghệ An

1183. Đặng Đức Tính, Nghệ An

1184. Nguyễn Văn Toàn, Nghệ An

1185. Vũ Hoàng Thế, Nghệ An

1186. Lê Thị Xoan, Nghệ An

1187. Nguyễn Thị Hường, Nghệ An

1188. Mai Văn Linh, Nghệ An

1189. Đinh Công Chính, Nghệ An

1190. Trần Xuân Công, Nghệ An

1191. Nguyễn Thị Thanh, Nghệ An

1192. Lưu Văn Hoàng, Nghệ An

1193. Trần Văn Thành, Nghệ An

1194. Phạm Công Tin, Nghệ An

1195. Trần Thị Nguyệt, Nghệ An

1196. Phạm Hồng Duyên, Nam Định

1197. Vũ Văn Tiếp, Nam Định

1198. Vũ Đức Trung, Nam Định

1199. Nguyễn Văn Hoàng, Nam Định

1200. Đỗ Văn Trung, Nam Định

1201. Ngô Văn Hân, Nam Định

1202. Nguyễn Văn Hải, Nam Định

1203. Nguyễn Văn Bắc, Nam Định

1204. Lê Quang Lượng, Thái Nguyên

1205. Lê Minh Phong, Phú Thọ

1206. Trần Trọng Tuấn, Hải Dương

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 00:37
Nhãn: Hiến pháp

Nguyễn SG (khách viếng thăm) gửi lúc 23:26, 26/01/2013 - mã số 77670
Đỗ Xuân Thọ viết:
...
“Anh không tán thành vì :
1 – bản hiến pháp dự thảo của các vị nhân sỹ nầy là sự thay đổi chế
độ, thay đổi thể chế, thay đổi hiến pháp chứ không phải là sửa đổi
hiến pháp 1992.
2 – Việt Nam không cần sao chép thể chế của bất kỳ quốc gia nào
3- Việc bỏ hay không bỏ cụm từ CNXH trong quốc hiệu chưa phải là điều
quan trọng trong thời điểm này.
4 Cái mà Hiến pháp , pháp luật Việt Nam cần có ngay bây giờ là cụ thể
hóa mói quan hệ giữa 3 hệ thống cơ quan lập , hành và tư pháp để đảm
bảo chúng thực sự là tam quyền phân lập. Cụ thể hóa bằng luật pháp để
công khai minh bạch sự hoạt động và làm việc của các chức danh các cơ
quan nhà nước trước dân chúng
5- Một số nội dung của dự thảo có thể được sử dụng : như quyền biểu
tình, quyền ra báo, truyền hình tư nhân.
6- Vấn đề quyền đối lập chính trị thì chả xã hội nào thật sự có cả. Sự
đối lập thường thấy ở phương Tây họ đâu có đối lập về chính trị. Họ
chỉ có đối lập về cách làm , cách thực hiện mục tiêu chính trị mà
thôi,”
...

Trước hết mọi người cần hiểu rằng Hiến pháp là nhân dân, của tất cả mọi người và của từng công dân.

Việc lựa đóng góp ý kiến, sửa đổi, chọn nội dung HP như thế nào, là quyền và trách nhiệm của từng công dân cho nên phải thông qua trưng cầu dân ý, quyền phúc quyết Hiến pháp.

1) nếu Hiến pháp phải sửa đổi quá nhiều cho logic và phù hợp với nguyện vọng của toàn dân, thì có gì là sai ? Nếu không muốn dùng chữ thay đổi thì cứ việc giữ chữ sửa đổi đến 95% Hiến pháp 1992.

2) Thế Hiến pháp 1992 chẳng phải sao chép lại của Liên Sô là gì, điều 4 là điều 6 của Liên Sô. Thể chế độc đảng CS lãnh đạo nhà nước và xã hội ở VN là thể chế sao chép của Liên Sô, TQ, BTT, Cuba, các nước đông Âu cũ.
Điểm 2 mâu thuẫn với điểm 6 khi đem phương Tây ra so sánh.

3) Các vị nhân sỹ chỉ muốn quay lại cái tên cũ là VNDCCH vì cái tên CHXHCNVN chưa hề đem ra hỏi ý dân, trưng cầu dân ý.
Tại sao bỏ cụm từ CNXH lại không quan trọng nếu ý dân mong muốn ? Nhân dân chẳng phải là chủ đất nước là gì ?

4) Tam quyền phân lập và phải thật sự độc lập. Việc sửa đổi Hiến pháp như các vị nhân sỹ đề nghị là để tạo cơ sở cho Tam quyền phân lập và thật sự độc lập

6) Vấn đề quyền đối lập chính trị thì chả xã hội nào thật sự có cả ? Bác này nên ra học hỏi nước ngoài.
Bác này nói thế thì có nghĩa là các đảng CS Pháp, CS Ý, CS Nga ... về chính trị không khác gì các đảng khác của các nước này ?
Thế thì tại sao không để các đảng hoạt động ở VN giống như nước ngoài, là được rồi.

Kelangthang (khách viếng thăm) gửi lúc 21:00, 26/01/2013 - mã số 77662

Người xưa nói:
Tiểu bất tác bất thành.
Lộ bất hành bất đáo.
20 triệu chữ ký là điều hoàn toàn có thể.

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 18:44, 26/01/2013 - mã số 77653

Tôi có một anh bạn rất thân, tên anh ta là C.. C. là một đảng viên 40 năm tuổi đảng, cựu chiến binh từng tham chiến ở Quảng Trị năm 1972.Sau khi thi đỗ vào trường Đại Học Sư Phạm người ta xếp vào khoa Triết học Mác-Leenin (nguyện vọng của C. là vào khoa Vật Lý). Ra trường anh dạy Chính Trị cho học sinh cấp 3 nay đã về hưu. Anh ta đã chia sẻ với tôi về bức thư tôi gửi BCH TƯ ĐCSVN đề nghị đảng vất CN M-L đi và thay vào đó là CN Dân Tộc. Bức thư đó tôi gửi đã lâu bây giờ nghĩ lại thấy sao mình ngây thơ thế…Tôi thuyết phục C. ký vào bản kiến nghị này nhưng anh ta viết thư cho tôi (đăng cuối comment này). Tôi thấy đây là tư tưởng điển hình của các đảng viên ĐCSVN hiện nay (họ bị nhồi sọ kinh quá)!!!
Tôi muốn thuyết phục dạng đảng viên này đứng về phía nhân dân!!!
Tôi mong những cái đầu mạnh đưa ra các thuyết phục hợp tình hợp lý nhất bằng các lập luận không thể chối cãi !!! Tôi sẽ gửi comments cho anh ta bằng email

“Anh không tán thành vì :
1 – bản hiến pháp dự thảo của các vị nhân sỹ nầy là sự thay đổi chế
độ, thay đổi thể chế, thay đổi hiến pháp chứ không phải là sửa đổi
hiến pháp 1992.
2 – Việt Nam không cần sao chép thể chế của bất kỳ quốc gia nào
3- Việc bỏ hay không bỏ cụm từ CNXH trong quốc hiệu chưa phải là điều
quan trọng trong thời điểm này.
4 Cái mà Hiến pháp , pháp luật Việt Nam cần có ngay bây giờ là cụ thể
hóa mói quan hệ giữa 3 hệ thống cơ quan lập , hành và tư pháp để đảm
bảo chúng thực sự là tam quyền phân lập. Cụ thể hóa bằng luật pháp để
công khai minh bạch sự hoạt động và làm việc của các chức danh các cơ
quan nhà nước trước dân chúng
5- Một số nội dung của dự thảo có thể được sử dụng : như quyền biểu
tình, quyền ra báo, truyền hình tư nhân.
6- Vấn đề quyền đối lập chính trị thì chả xã hội nào thật sự có cả. Sự
đối lập thường thấy ở phương Tây họ đâu có đối lập về chính trị. Họ
chỉ có đối lập về cách làm , cách thực hiện mục tiêu chính trị mà
thôi,”

Trả lời

Câu Giờ Không Đa Đảng Ngay Là Chết Đấy Đảng Ơi đã nói

26/01/2013 lúc 13:48
cái ông C đó có bộ não đã bị đông cứng bởi xi măng cs, bác Thọ ạ-họ là 1 người của giới ngu trung.
là người có thể nói là “bôn sệt” khi còn trẻ, vào đảng từ khi mới 23 tuổi, bỏ đảng sau hơn 30 năm sinh hoạt, tuy nghỉ hưu đã lâu, tôi luôn luôn tiếp cận các loại thông tin đa chiều (mà phần nhiều là từ người dân, từ mạng internet)tôi tin chắc cái ông C kia của bác là người không dám tiếp xúc với sự thật khách quan, không dám nhìn thẳng vào những sự thật phũ phàng để tìm ra chân lý, có lẽ có vào mạng internet thì cũng đến Vietnamnet, Dantri, VNexpress là cùng, không dám vào lề dân vì sợ”tuyên truyền của các thế lực phản động, thù địch làm diễn biến mình”-đó là sự tự làm ngu mình của ông ấy bác ạ. họ chỉ lo cho cái sổ hưu của họ bị mất theo tuyên truyền doạ nạt bậy bạ của những tên như trần đăng thanh hiện nay.
Đó là 1 lão hèn, mà cũng nhờ có sự hèn hạ của cái giới ngu trung ấy mà đảng của ông ta có lý do để hy vọng tồn tại tiếp tục cố đấm ăn xôi.

Trả lời

Người Việt Xa Quê đã nói

26/01/2013 lúc 15:49
Kính BácThọ.
Tôi đang sống ở Mỹ, vậy chỉ xin lạm bàn về đề mục số 6 mà thôi.
Không biết ông C hiểu thế nào là đối lập chính trị. Nếu hiểu đối lập chính trị là sự đối lập tư duy về tổ chức cơ cấu xã hội về cả mặt tinh thần lẫn vật chất thì đảng Cộng Hòa và đảng Dân Chủ đối lập nhau đấy chứ. Một bên thiên về người giầu bên kia thiên về người nghèo. Nhiều vấn đề hai bên đưa ra tranh đấu gay gắt như quyền bình đảng phụ nữ,quyền phá thai, quyền bình đẳng màu da,giới tính,tôn giáo v v. Một điều hiển nhiên chứng minh nữa là các nước tư bản đều có đảng cộng sản hoạt đông công khai và tự do, được hiến pháp bảo vệ. Nhưng chả có ai tin theo cộng sản, kể cả những anh nghèo kiết xác trong xã hội. Đơn giản là họ đủ trí khôn để hiểu cộng sản gì.
Về cái nhà ông C này theo tôi thì cũng chỉ vì sợ mất quyền lợi thôi chứ chẳng yêu nước hay lý tưởng gì đâu. Bác hãy chỉ cho ông ấy thấy ở các nước tư bản người già có tới mấy cái sổ hưu và một sổ hưu của họ to gấp mấy lần cái của ông ấy đang có. Vả lại ông ấy cững nên nghĩ cho con chắu nữa chứ. Chẳng lẽ để chúng ngụp lặn mãi trong bùn hay sao.
Vài lời thô thiển,
Chào bác.

Trả lời

Người Việt Xa Quê đã nói

26/01/2013 lúc 16:15
PS:Bác Thọ à, Ông C là giáo viên dạy môn triết học Mác Lê thì như bác nói là (họ bị nhồi sọ kinh quá), tôi không ngạc nhiên. Bác tìm bài Nhật Ký Rồng Rắn của Tướng Trần Độ cho ông ấy đọc và tạo điều kiện cho ông ấy tiếp cận Internet. Tôi tin ông ấy sẽ ngộ ra.
Thân ái.

Trả lời

Tran Hung đã nói

26/01/2013 lúc 17:09
Thưa anh viên chức đã nghỉ hưu, tên C…!
Bản dự thảo HP mà các nhân sĩ, trí thức soạn thảo và đính kèm vào Bản kiến nghị 07 điểm là để tham khảo và bàn bạc(Anh không đọc chú thích và nhắc nhở của BTV trang Anhbasam), nếu Quốc hội và Uỷ ban soạn thảo sửa đổi HP lắng nghe & tiếp thu chỉ một vài điểm đã là quý LẮM rồi chứ chưa nói đến cả 07 điểm.
Trong 06 lý do không đồng ý mà Anh đưa ra, chỉ có 04 & 05 là Anh tán đồng với những giá trị phổ quát, những văn minh tiến bộ của nhân loại, nhưng cụ thể hoá 03 thiết chế quyền lực nhà nước thế nào đây Anh? và theo Anh ở Việt Nam thì cơ quan nào là cơ quan quyền lực nhất?
Trích số liệu thống kê để Anh tham khảo: HP 1992 có 12 chương, 147 điều, Dự thảo HP có 11 chương, 124 điều(giảm 01 chương, 23 điều so với HP 1992), giữ nguyên 13 điều, sửa đổi bổ sung 99 điều, bổ sung 11 điều mới. Với số liệu trên tự Anh sẽ có đánh giá về bản Dự thảo HP.
Về Quốc hiệu: là một GV dạy môn chính trị theo Anh nước ta cần bao nhiêu năm của thời kỳ quá độ để đạt đến XHCN? Liệu chúng ta có theo đuổi những mục tiêu còn quá xa vời không?
Hiện tại Anh đã có “sổ hưu”, mong Anh thật lòng!

Trả lời

Cầu Cải Tiến đã nói

26/01/2013 lúc 17:42
Tôi không chắc về “cái đầu mạnh” của mình, nhưng cũng cố tâm phân tích như sau hy vọng sẽ giúp được bác C.. C. Có thiếu sót xin các bác bổ sung chỉnh sửa. Thêm một người thông hiểu ủng hô HP 2013 thì tốt cho đất nước.

Bản Hiến pháp 1946 được xem là “một bản hiến pháp thấm đẫm tinh thần dân chủ, thể hiện sâu sắc và giàu tính hiện thực những phẩm cách của một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”. Hiến pháp 1992 đã giảm đi mặt ưu việt nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Ngày nay thế giới phát triển, công nghiệp kỷ thuật phát triển, quyền con người được nân cao, tình cảnh đất nước thay đổi nên bản thảo HP 2013 có nhiều thay đổi để quay trở lại và hiện đại hóa tư tưởng ưu việt của HP 1946. Có thể nói “thay đổi” là số nhiều của “sửa đổi”, tình cảnh đất nước hiện đòi hỏi sự thay đổi để khắc phục nhiều khuyết điểm trong bộ máy nhà nước, để phát triển công nghệ, kinh tế và đời sống xã hội.

Mỗi quốc gia như Anh, Mỹ, Canada, Úc v.v… có mỗi HP độc lập riêng của họ, không ai chấp nhận họ sao chép HP của ai cả nhưng nếu so sánh HP của họ tôi chắc chắn có nhiều điểm tương đồng vì họ đều đặt HP trên tư tưởng dân chủ tự do. HP 2013 không ngoại lệ và nếu các trí thức đã nghiên cứu học hỏi HP của họ và đặt HP 2013 thì cũng là điều tốt thôi. VN không nên quá bảo thủ như vậy, mình dùng máy vi tính mà mình có phát minh ra đâu.

Sửa đổi vài điều trong HP 1992 và hy vọng xoay chuyển tình thế đất nước thì kém khả năng thành công. Ví dụ, chỉnh điêu 4, quy cho đảng phải gắn bó chịu trách nhiệm với nhân dân công thêm giả thiết tam quyền phân lập (không thuộc về đảng).

Vấn đề vì dân và chịu trách nhiệm là bổn phận của người/nhóm lãnh đạo cho dù không viết ra. Khi nào đảng sẽ chịu trách nhiệm?, mất bao nhiêu tỉ đồng, chết bao nhiêu nhân mạng v.v…, ai là người giám sát và báo động? và chịu trách nhiệm có nghĩa là đảng xin lỗi, đề cử đảng viên khác tái cơ cấu? Tóm lại sửa điều 4 như trên chỉ là “lời nói suông” không áp dụng được, có tam quyền phân lập nhưng thiếu cơ sở giám sát có hiệu lực.

Hãy xem HP 2013 sẽ làm được gì để khắc phục khuyết điểm nêu trên kể cả tam quyền phân lập. Điều 9 “đảng phái chính trị” tạo cơ hội cho đảng phái cạnh tranh, giám sát chính quyền, báo động và lên án những hành vì xấu. Điều 74 “Kiểm toán Nhà nước” la cơ quan độc lập không đảng phái trực thuộc Hạ viện. Đảng phải có thể thông qua Hạ viện để thu thập tài liệu giám sát và báo động kịp thời, không phe phái nào có thể che giấu lỗi cho nhau. Nếu chính quyền làm nhiều sai lầm mất lòng dân thì đảng phái đối lập sẽ thắng chính quyên trong bầu cử. Người dân có quyền đòi hỏi chính quyền chịu trách nhiệm là thế đấy. Đảng phái nào dung túng tham ô v.v… sẽ tự đào thải.

Vi dụ trên cho thấy HP 2013 có khả năng hoạt động công minh trong khi “HP 1992 chỉnh” đầy cơ hội cho phe nhóm bảo vệ nhau, lòn lách pháp luật trách nhiệm với nhân dân.

Về điểm 6 “Vấn đề quyền đối lập chính trị” tôi đồng ý với bác C.. C về mặt không phải đối lập chính trị như Bắc Nam trước 1975 mà đối lập trên chính sách xây dựng đất nước. Đối lập không phải để đánh nhau mà để giám sát nhau. Thế nên quân đội phục vụ nhân dân, không phục vụ đảng phái là điều rất quan trọng.

Trả lời

Doxuantho đã nói

26/01/2013 lúc 18:08
Cảm ơn tất cả các bác. Tôi sẽ gửi cho bạn tôi tất cả các comments của các bác .
Tôi chỉ thêm hai điều là
1) HP mới có khả năng giữ ĐỘC LẬP, TOÀN VẸN LÃNH THỔ tốt hơn HP 1992 ( VD bác TBT LÊ KHẢ PHIÊU không hỏi ý dân VN đã dâng cho TQ 1/2 thác Bản Dốc…;TBT Nguyễn Phú Trọng không hỏi ý dân, cùng TƯ ĐCSVN tha cho TT Nguyễn Tấn Dũng, kẻ làm thất thoát hàng trăm nghìn tỷ VNĐ v.v....)
2) HP mới là công cụ chống tham nhũng TRIỆT ĐỂ NHẤT

Tôi phải nhờ các bác vì đây là tư tưởng của ĐA SỐ ĐẢNG VIÊN YÊU NƯỚC trong ĐCSVN hiện nay
Chúng ta phải ĐÁNH THẲNG VÀO CUNG TƯỚNG các bác ạ

Nguyễn SG (khách viếng thăm) gửi lúc 13:48, 26/01/2013 - mã số 77630
Trích dẫn:
Điều 6. Tôn trọng hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nỗ lực duy trì hòa bình quốc tế và từ bỏ chiến tranh xâm lược.

2. Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và giữ gìn an ninh quốc gia là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

3. Các lực lượng vũ trang được trao sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.

4. Các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

Điều 7. Tính chất dân sự của lực lượng cảnh sát

Lực lượng cảnh sát có sứ mệnh thực thi luật pháp và giữ gìn trật tự. Cảnh sát thuộc lĩnh vực dân sự, không thuộc về các lực lượng vũ trang.

Điều 6 và Điều 7 tách riêng nhiệm vụ an ninh giao cho lực lượng vũ trang. Cảnh sát thuộc lĩnh vực dân sự, không thuộc về các lực lượng vũ trang. Như thế là tốt hơn.
Cảnh sát có sứ mệnh thực thi luật pháp và giữ gìn trật tự, như vậy có phải là một trách nhiệm thi hành, execute chứ không chỉ đạo và điều hành ?

Cần có luật, nghị định chỉ rõ cách hành xử trong xã hội và các cơ quan nhà nước việc : Các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

Nguyễn SG (khách viếng thăm) gửi lúc 13:29, 26/01/2013 - mã số 77629

Điều 69. Tòa án Hiến pháp và Điều 75. Ủy Ban Bầu cử, không chỉ ra ai, cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận giá trị của bầu cử, của trưng cầu dân ý

Điều 75, ghi :
1. Các Ủy ban Bầu cử được thiết lập với mục đích điều hành công bằng các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý toàn quốc, xử lý các vấn đề hành chính liên quan đến các chính đảng.

Sau khi tổ chức bầu cử, kiểm phiếu và công bố kết quả. Cơ quan nào xác nhận kết quả và xét xử khi có tranh chấp ? Tòa án Hiến pháp có thể đảm nhiệm chức năng này ?

Trích dẫn:
Điều 69. Tòa án Hiến pháp

Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền xét xử đối với các vấn đề sau đây:

1. Sự phù hợp của luật và điều ước quốc tế với Hiến pháp;

2. Sự phù hợp của các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành với Hiến pháp;

3. Sự phù hợp của mục tiêu, hoạt động của các đảng chính trị với Hiến pháp;

4. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với chính quyền địa phương và giữa các chính quyền địa phương;

5. Khiếu nại của những người cho rằng các quyền hiến định của họ đã bị xâm phạm bởi một đạo luật hay văn bản pháp
luật khác trái với Hiến pháp.

Điều 75. Ủy Ban Bầu cử

1. Các Ủy ban Bầu cử được thiết lập với mục đích điều hành công bằng các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý toàn quốc, xử lý các vấn đề hành chính liên quan đến các chính đảng.

2. Ủy ban Bầu cử Trung ương gồm 3 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, 3 thành viên do Quốc hội lựa chọn và 3 thành viên do Chánh án Tòa án Tối cao lựa chọn. Các thành viên của Ủy ban thành viên bầu ra một Chủ tịch.

3. Nhiệm kỳ của thành viên Ủy ban là 6 năm.

4. Các thành viên Ủy ban không thể tham gia các đảng chính trị hoặc các hoạt động chính trị.

5. Các chiến dịch tranh cử được thực hiện dưới sự điều hành của Ủy ban Bầu cử mỗi cấp trong phạm vi luật định với nguyên tắc bảo đảm cơ hội bình đẳng cho các ứng cử viên.

6. Tổ chức, chức năng và các vấn đề quan trọng khác của Ủy ban Bầu cử Trung ương và Ủy ban Bầu cử các cấp sẽ do luật quy định

Vũ Như Cẩn(khách viếng thăm) (khách viếng thăm) gửi lúc 12:27, 26/01/2013 - mã số 77622
Quyenluc viết:
Đây là bản dự thảo HP rất tôt.Nó cần đươc phổ biến rộng rãi(Đăng toàn văn kèm theo danh sách ký kiến nghị) cho moi người Việt nam.Vì vậy,tôi đề nghi admin,các thành viên Dân luận,quý đọc giả,bằng các mối quan hệ của mình,hãy đưa bản dự thảo hiến pháp này đến đươc những đối tượng sau đây:
1-Các báo "lề phải".
2-Các báo người Việt hải ngoại.
3-Các chức sắc tôn giáo:Công giáo,Tin lành,Phật giáo,Cao đài,Phật giáo Hòa hảo...
4-Các lãnh đạo cộng đồng.
5-Các bạn sinh viên.
6-Các đảng viên cộng sản yêu sự thật và công lý.
Hy vọng rằng,mỗi người trong các thành phần trên phổ biến đến người thân của mình để chúng ta có thể có được 20 triệu chữ ký cho bản DTHP này.

Cái máu của đồng chí thì anh Cẩn đây rất hiểu , rất thông cảm , rất ủng hộ . Túm lại là tùm lum cái rất . Nhưng mờ , 20 triệu là con số khiến anh say sẩm . Ngâm ngẩm cho cái thế thái cuộc đời , anh Cẩn ngữa cổ bú 1 bình sữa , ngoác mồm ngoạm một miếng bơ rồi tà tà làm 1 cuỗc khảo sát bỏ túi ngắn từ ngày 19 đến ngày 22 tháng 1 năm 2013 thì nó như vầy :

1- Ngô Nhân Dụng : Đảng cọng xả đang phân rã (2995 lượt đọc kể từ Sun, 20/01/2013- 6 phản hồi )

2- Thư Giãn : Thư Chồng tây gởi chồng vịt (nhờ sự PR của maile 1805 lượt đọc kể từ Sun, 20/01/2013 - 6 phản hồi )

3- Xì xì -Đà Nẵng đại chiến hay cú đòn mang tên: "Sai phạm đất đai 3000 tỷ đồng" (6760 lượt đọc kể từ Sat, 19/01/2013 - 23:00 - chính xác có ...2 phản hồi )

4- Lãng Tathy bàn về Đồng chí X và cuộc chiến với Nguyễn Bá Thanh (Lạy thánh Ba , có những 10.471 lượt đọc kể từ Sat, 19/01/2013 - Phản hồi...quá chời !!)

5- Thích Học Toán - Giữ ký ức ( Nhờ cố gắng cầm búa đập tường của tên Sáu đông âu , 2289 lượt đọc kể từ Sat, 19/01/2013 , 21 phản hồi )

6- Phương Ngọc - Trẻ em cũng cần được bảo vệ (418 lượt đọc kể từ Sun, 20/01/2013 . Bọn phản động rất quan tâm đến trẻ con !!! )

7 - Huỳnh Duy - Quyền Con Người: Sự thịnh vượng của quốc gia ( Quan trọng đến nhận thức thế mà chỉ có 478 lượt đọc . Quyền con người và sự thịnh vượng của quốc gia chỉ hơn cái đám trẻ con có...60 mống !! )

8- Mã số QCN&T000004 - Quyền Con Người cả đấy! ( 443 lượt đọc kể từ Mon, 21/01/2013 . Lý ra phải nhất giải , nhỉ .)

9- Lãng - 3X vs Bá Thanh, người nông dân cần phải làm gì? ( 3239 lượt đọc kể từ Tue, 22/01/2013 - 4 phản hồi )

Và 10 - Bauxite Việt Nam: Kiến nghị về sửa đổi Hiến Pháp 1992 ( tính đến ngày hôm nay , chỉ có 2323 lượt đọc kể từ Tue, 22/01/2013 )

Anh Cẩn tạm kết luận :

1- Chú Lãng đứng đầu danh sách . 10471 và 6760 ,3239 , xì xì !!
2- Đám nhân sỹ Hiến Pháp về nhì . 2323 , hơn chú Châu ...34 mống !
3- Chú Châu về thứ 3 với Giữ ký ức...toán cộng !, 2289.

Khảo sát chỉ là khảo sát , tất nhiên , nó chỉ minh họa được 1 phần nào đó , nhưng , mối quan tâm của đồng bào hải ngoại và hải nội chúng ta có phần nghiên về....thư giãn là chính , hiến pháp là nhì , toán` học là kế và quyền con người , quyền trẻ con thì .....đâu có rỗi !!!

Xứ Lừa chừng nào mới ngóc đầu hả chời !?

Quặc !!!

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 09:28, 26/01/2013 - mã số 77611

Đợt 5:

849. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên thành viên Viện IDS, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Tuổi trẻ, TP HCM

850. Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ phong trào đấu tranh của nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ Thành phố Đà Lạt, TP HCM

851. Nguyễn Văn Chương, đã về hưu, Bỉ

852. Thạch Quang Hải, Hà Nội

853. Trương Long Điền, công chức hưu trí, An Giang

854. Lê Thúy, Ba Lan

855. Nguyễn Đức Nhuận, GS TSKH, nguyên Giám đốc Trung tâm phát triển SEDET (Université Paris 7/CNRS) hưu trí, Pháp

856. Phan Thị Phi Phi, GS TSKH, bác sĩ, hưu trí, trường Đại học Y Hà Nội

857. Phạm Quang Long, linh mục Giáo phận Vinh, Nghệ An

858. Hoang Hoa, hành nghề tự do, hưu trí, CHLB Đức

859. Trần Bích Thủy, hưu trí, Pháp

860. Nguyễn Thịnh, cử nhân, TP HCM

861. Bùi Bình Thuận, cán bộ hưu trí, Hà Nội

862. Trịnh Hồng Kỳ, nghề nghiệp tự do, TP HCM

863. Lương Linh Hoạt, cựu chiến binh, TP HCM

864. Phạm Hữu Nghệ, cựu chiến binh, thương binh, TP HCM

865. Vũ Công Hưng, giáo viên, Thái Bình

866. Nguyễn Hữu Chuyên, giáo viên, Thái Bình

867. Nguyễn Văn Hiền, công nhân, Quảng Ngãi

868. Phạm Đức Tuấn, công nhân, TP HCM

869. Mai Phương Bắc, kỹ sư, Hà Nội

870. Nguyễn Đăng Bảy, kỹ sư, Đà Lạt

871. Nguyễn Vũ, kỹ sư, hành nghề tự do, TP HCM

872. Nguyễn Văn Dương, người làm công, Hà Nội

873. Lê Thị Lam Quỳnh, học sinh, Bình Phước

874. Nguyền Tấn Lộc, kỹ sư, Khánh Hòa

875. Vi Nhân Nghĩa, kỹ sư, Quảng Ninh

876. Nguyễn Thành Trung, sinh viên, Hà Nội

877. Trần Tiến Nam, giáo viên, Phú Thọ

878. Đặng Trường Lưu, họa sĩ, nhà phê bình Mỹ thuật, Hà Nội

879. Nguyễn Phương Tùng, PGS TS, TP HCM

880. Nguyễn Hoàng Phú, nhân viên, Đồng Nai

881. Dương Văn Minh, kỹ sư, Hà Nội

882. Tong Hoang Anh, hưu trí, Nha Trang

883. Huỳnh Thế Nhân, thạc sĩ, Pleiku

884. Nguyễn Xuân Khoa, TS, Nghệ An

885. Lê Văn Kiệt, kinh doanh, Quảng Trị

886. Nguyễn Hồng Quân, kỹ sư, Cần Thơ

887. Vũ Trọng Khải, PGS TS, TP HCM

888. Trần Thạch Linh, họa sĩ, Hà Nội

889. Phạm Đông Hải, kỹ sư, TP HCM

890. Đào Hữu Thuận, kỹ sư, TP HCM

891. Nguyễn Đức Tường, giảng viên đại học, Thái Nguyên

892. Lê Hồng Nhung, sinh viên, Hà Nội

893. Vũ Thuần, lão thành cách mạng, Hà Nội

894. Trần Đức Quế, hưu trí, Hà Nội

895. Phùng Hồ Hải, TS, Viện Toán học, Hà Nội

896. Đặng Tiến Hồng, thạc sĩ, hưu trí, Hà Nội

897. Nguyễn Trọng Huấn, kiến trúc sư, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Kiến trúc và Đời sống, TP HCM

898. Võ Anh Thơ, họa sĩ, TP HCM

899. Trần Anh Chương, kỹ sư, Đài Loan

900. Huỳnh Công Can, sinh viên, TP HCM

901. Bùi Trung Tín, cCử nhân, cán bộ giáo dục, TP HCM

902. Hoàng Văn Minh, Hà Nội

903. Truong Vinh Phuc, cử nhân, cựu chiến binh, Hà Nội

904. Lê Hữu Tuấn, cử nhân, Hưng Yên

905. Nguyễn Đức Sắc, Hà Nội

906. Nguyễn Thúy Hạnh, Hà Nội

907. Nguyễn Quang Ánh, Hà Nội

908. Phạm Minh Hoàng, nguyên giảng viên Đại học Bách Khoa TPHCM

909. Đỗ Văn Đông, Nam Định

910. Nguyễn Bình Phương, cử nhân, Hà Nội

911. Trần Phong Thái, TP HCM

912. Vũ Công Đoàn, kiến trúc sư, Hà Nội

913. Nguyễn Minh Thiên, kỹ sư, Kon Tum

914. Nguyễn Thị Huần, bộ đội chuyển ngành, hiện đang đi đòi lại đất, tài sản, nhà cửa, chế độ bệnh binh và công tác, Vĩnh Phúc

915. Phạm Ngọc Luật, nguyên Phó Giám đốc Nhà xuất bản Văn hoá - thông tin, Hà Nội

916. Vũ Vân Sơn, phiên dịch, biên dịch cho Toà án và công chứng bang, CHLB Đức

917. Nguyễn Thị Thái Hiền, họa sĩ, TP HCM

918. Lưu Trần Đình Tùng, học sinh, Đà Nẵng

919. Võ Việt Nam, Nga

920. Bùi Minh Sơn, hưu trí, hơn 40 năm tuổi Đảng, Hà Nội

921. Mai Sơn, nhà văn, dịch giả, TP HCM

922. Ðặng Văn Ba, TS, nguyên Giám đốc Bộ Tin học, Tổ chức Quốc tế Viễn thông (I.T.U), Geneva, Thụy Sĩ

923. Bui Quang Trung, kỹ sư, Pháp

924. Lê An Vi, Hà Nội

925. Lê Mi, thạc sĩ, Bulgaria

926. Dương Tuấn Anh, Hải Phòng

927. Tran Hong Van, nghiên cứu viên, đã nghỉ hưu, Hà Nội

928. Phạm Bách Việt, đạo Diễn, Thủ Đức

929. Lê Anh Cường, kỹ sư, Hà Nội

930. Nguyễn Văn Tân, kỹ sư, Hoa Kỳ

931. Nguyễn Công Sơn, công nhân, Phần Lan

932. Khoa Vo, kỹ sư, Hoa Kỳ

933. Nguyễn Trần Vũ, TP HCM

934. Nguyen Gia Quoc, cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa của miền Nam trước 1975, Hoa Kỳ

935. Nguyễn Hoàng Minh Đức, sinh viên, TP HCM

936. Vũ Đức Khanh, luật sư, Canada

937. Nguyễn Ngọc Hùng, TS, CHLB Đức

938. Nguyễn Tường Minh, kỹ sư, Hoa Kỳ

939. Nguyễn Ngọc Thạch, hưu trí, TP HCM

940. Tran Thi Ngoc Minh, Lâm Đồng

941. Lê Huy Quang, Ba Lan

942. Nguyễn Xuân Trường, sinh viên MBA, The University of Missouri, Hoa Kỳ

943. Lê Thiết Thành, TSKH, Hoa Kỳ

944. Hoàng Ngọc Bội, hưu trí, Vũng Tàu

945. Lê Thị Cúc Hoa, nhân viên văn phòng, TP HCM

946. Trần Văn Thạnh, thạc sĩ, Hoa Kỳ

947. Phạm Toàn Thắng, doanh nghiệp, Cộng hòa Czech

948. Đỗ Thái Bình, kỹ sư, Ủy viên thường vụ Ban Chấp hành Hội Khoa học Kỹ thuật Biển, TP HCM

949. Lê Hồng Hà, công nhân, Hoa Kỳ

950. Pham Van Thanh, an ninh tư, Pháp

951. Hoa Khuu, Hoa Kỳ

952. Tôn Đức Hải, kỹ sư, Hà Tĩnh

953. Lê Ngọc Anh, kỹ sư, Hà Nội

954. Nguyễn Năng Tĩnh, giảng viên, Vinh

955. Michael Chu, thương gia, Australia

956. Đinh Hoàng Giang, doanh nhân, Hải Phòng

957. Dương Văn Minh, Đồng Nai

958. Phạm Văn Hưng, kỹ sư, Hà Nội

959. Nguyen Anh Tam, kỹ sư, Project manager, Canada

960. Lê Trọng Tính, kinh doanh, Thanh Hóa

961. Vu Nguyen, Programmer Analyst, Hoa Kỳ

962. Đỗ Anh Pháo, cử nhân, cán bộ quản lý doanh nghiệp, đã nghỉ hưu, Hà Nội

963. Nguyễn Văn Viên, Hà Nội

964. Phạm Quốc Trung, TS, giảng viên đại học, TP HCM

965. Nguyễn Cao Phong, nông dân, Hà Nội

966. Nguyễn Ngọc An, sinh viên, Vĩnh Long

967. Trần Hoài Nam, cử nhân, TP HCM

968. Tran Thanh Duc, TS, hưu trí, Hoa Kỳ

969. Hoàng Hiếu Minh, kỹ sư, Hà Nội

970. Văn Nhân Linh, cử nhân, Quảng Trị

971. Giáp Hoàng Long, kỹ sư, Bắc Giang

972. Đỗ Quang Tuyến, kỹ sư, Hoa Kỳ

973. Trần Văn Ninh, giáo viên, Phú Yên

974. Vũ Huyến, nhà báo, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Nhiếp Ảnh, Hà Nội

975. Đỗ Hải Minh, sinh viên, CHLB Đức

976. Đỗ Trường Sơn, học sinh, Hà Nội

977. Đỗ Văn Bình, thương binh, Phú Thọ

978. Đỗ Mạnh Chương, kỹ sư, Hà Nội

979. Hà Văn Cường, giáo viên, Phú Thọ

980. Đỗ Văn Tụng, công nhân, Hà Nội

981. Cao Xuân Tùng, kỹ sư, Hà Nội

982. Nguyễn Văn Sơn, cử nhân, Hà Nội

983. Nguyễn Đỗ Quyên, kỹ sư, Đà Nẵng

984. Trịnh Minh Quang, cử nhân, Đà Nẵng

985. Đỗ Văn Thành, công nhân, Hà Nội

986. Nguyễn Chí Dũng, kỹ sư, TP HCM

987. Hàn Quang Vinh, kỹ sư, Hà Nội

988. Trần Văn Thiện, kỹ sư, Hà Nội

989. Nguyễn Đức Thành, nông dân, Hà Nội

990. Nguyễn Hồng Quy, sinh viên, TP HCM

991. Nguyen Minh Hong, Pháp

992. Nguyễn Văn Lịch, TP HCM

993. Trần Đỗ Vũ, sinh viên, TP HCM

994. Nguyễn Hoàng Anh, Bắc Giang

995. Lê Văn Oánh, kỹ sư, Hà Nội

996. Nghiêm Sĩ Cường, kinh doanh, Hà Nội

997. Trần Cảnh, TS, nguyên cán bộ giảng dạy Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, đã nghỉ hưu, Hà Nội

998. Nguyễn Thành Tuân, giáo viên, Quảng Bình

999. Võ Duy Quân, sinh viên, TP HCM

1000. Đặng Thị Hoàng Hà, thạc sĩ, Hà Nội

1001. Vũ Tuấn Minh, thạc sĩ, Hà Nội

1002. Nguyễn Hoàng Long, công dân Việt Nam, TP HCM

1003. Bùi Kim Nhung, cán bộ hưu trí, TP HCM

1004. Nguyen Duc Truong Giang, giáo viên, Hà Nam

1005. Lê Bích Nhu, kỹ sư, Hà Nội

1006. Nguyễn Hữu Thanh, công nhân, TP HCM

1007. Võ Văn Tịnh, doanh nhân, Bình Thuận

1008. Quách Đăng Triều, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa X, nguyên Viện trưởng Viện Hóa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội

1009. Nguyễn Huy Thành, giáo viên, Phú Thọ

1010. Trần Hoàn, kỹ sư, Đà Nẵng

1011. Nguyễn Thúy, Hà Nội

1012. Vũ Ngọc Duy, kỹ sư hàng hải, TP HCM

1013. Trần Quốc Thịnh, sinh viên, TP HCM

1014. Nguyễn Xuân Tính, linh mục quản xứ Lập Thạch, Giáo phận Vinh, Nghệ An

1015. Lê Phiến, nông dân, Nghệ An

1016. Nguyen Thanh Danh, TP HCM

1017. Nguyễn Đức Lân, thạc sĩ, Hà Nội

1018. Nguyễn Ngọc Hải, nhân viên ngân hàng, Hải Dương

1019. Nguyễn Văn Thuận, chủ doanh nghiệp, Hoa Kỳ

1020. Cao Chi, GS, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, hưu trí, Hà Nội

1021. Hà Văn Trọng, nguyên là đạo diến điện ảnh Hãng Phim truyện 1 Việt Nam, nghệ sĩ ưu tú sân khấu Nhà hát Kịch Việt Nam, Hà Nội

1022. Văn Ngọc Tâm, cán bộ nghỉ hưu, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, đã từ bỏ sinh hoạt Đảng, TP HCM

1023. Đinh Quang Tuyến,hướng dân viên du lịch, TP HCM

1024. Hồ Trọng Đễ, kỹ sư, TP HCM

1025. Nguyễn Ly Kha, kinh doanh, TP HCM

1026. Nguyễn Quang Trung, thợ tiện, IT, Nghệ An

1027. Trần Đắc Lộc, cựu giảng viên Đại học Khoa học Huế, CH Czech

1028. Nguyen Ngoc, hưu trí, TP HCM

1029. Nguyễn Ngọc Anh, công nghệ thông tin, Quảng Nam

1030. Mai Xuân Tín, sinh viên, Nha Trang

1031. Nguyễn Hùng, nhân viên IT, Quảng Nam

1032. Lê Thu Quỳnh, sinh viên, Hà Nội

1033. Nguyễn Tấn Lạc, Hoa Kỳ

1034. Uông Minh Phương, kỹ sư, Australia

1035. Nguyễn Đức Duy, TP HCM

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 09:04
Nhãn: Hiến pháp

Quyenluc (khách viếng thăm) gửi lúc 07:38, 26/01/2013 - mã số 77609

Đây là bản dự thảo HP rất tôt.Nó cần đươc phổ biến rộng rãi(Đăng toàn văn kèm theo danh sách ký kiến nghị) cho moi người Việt nam.Vì vậy,tôi đề nghi admin,các thành viên Dân luận,quý đọc giả,bằng các mối quan hệ của mình,hãy đưa bản dự thảo hiến pháp này đến đươc những đối tượng sau đây:
1-Các báo "lề phải".
2-Các báo người Việt hải ngoại.
3-Các chức sắc tôn giáo:Công giáo,Tin lành,Phật giáo,Cao đài,Phật giáo Hòa hảo...
4-Các lãnh đạo cộng đồng.
5-Các bạn sinh viên.
6-Các đảng viên cộng sản yêu sự thật và công lý.
Hy vọng rằng,mỗi người trong các thành phần trên phổ biến đến người thân của mình để chúng ta có thể có được 20 triệu chữ ký cho bản DTHP này.

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 04:33, 26/01/2013 - mã số 77601
Visiteur viết:
Khách Qua Đường viết:
...
Bác Nguyễn Ngọc Già kính mến,

...

Việc này chẳng ăn nhằm gì tới việc thời thế đã đổi thay như bác GIÀ đã nói. Tôi dám cá là rất nhiều người, trong đó có cả những người Việt sống ở hải ngoại đã nổi tiếng (thí dụ như quý ông Ngô Nhân Dụng, Trần Văn Tích, v.v… và v.v…) sẽ KHÔNG DÁM ký bản Kiến nghị này dù trong thâm tâm họ thấy bản Dự thảo Hiến pháp có rất nhiều điều hay. Lý do giản dị là họ có thể không chịu cái Điều 11 mang tính áp đặt, đưa mọi người vào sự đã rồi này. Điều này cũng đã nói lên tính GIẢ DỐI của tất cả những ai (trong cũng như ngoài nước) đã từng LỚN TIẾNG kêu gọi mọi người hãy bỏ qua một bên chuyện cờ Vàng, cờ Đỏ để “đoàn kết” dân tộc. Miệng thì HÔ HÀO bỏ qua một bên, nhưng tay thì GHI vào Hiến Pháp rằng Quốc kỳ nước “ta” là Cờ Đỏ Sao Vàng. Than ôi!

Tại sao bác lại cho rằng sự đã rồi ?
Ủng hộ kiến nghị bản dự thảo Hiến pháp chứ đâu có trưng cầu dân ý, phúc quyết ? Bản dự thảo Hiến pháp này hay và tốt hơn hẳn HP 1992 và bản sửa đổi. Tại sao không ủng hộ bản tốt hơn cả mà trong khi đó mình vẫn có quyền đề nghị cải thiện hoặc sửa đổi sau này ?

Thế bác Khách Qua Đường có đề nghị gì cho điều 11 ?
Tôi có đề nghị thay đổi bài Tiến Quân Ca vì có lời bạo lực, không thích hợp cho thời bình nhưng chưa biết thay bằng bài gì

Trích dẫn:
Điều 80. Thủ tục sửa đổi Hiến pháp

1. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp có thể được trình bởi các chủ thể sau: ít nhất 1/5 số Hạ nghị sĩ theo luật định, Thượng nghị viện, hoặc Tổng thống.

2. Nếu Tổng thống trình dự luật sửa đổi Hiến pháp thì dự luật không được thay đổi các điều khoản liên quan đến Tổng thống trong Hiến pháp hiện hành

3. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được thực hiện bởi một đạo luật được Hạ viện thông qua và sau đó được Thượng viện thông qua với cùng nội dung trong thời hạn 60 ngày.

4. Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Hạ viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Hạ nghị sĩ theo luật định; Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Thượng Nghị Viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Thượng nghị sĩ theo luật định.

5. Trong vòng 60 ngày kể từ khi Dự luật sửa đổi Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua phải tổ chức trưng cầu dân ý để nhân dân phúc quyết.

Điều 81. Hiệu lực Hiến pháp và quy định chuyển đổi

1. Hiến pháp này có hiệu lực sau 100 ngày kể từ ngày được nhân dân phúc quyết thông qua.

Thưa bác Visiteur,

Đây chỉ là một bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện nay của nước CHXHCNVN. Theo tôi, giống như tất cả mọi bản kiến nghị khác gửi cho Quốc hội, hay lãnh tụ ĐCSVN trước đây, bản kiến nghị này rồi cũng chịu chung số phận là sẽ bị ĐCSVN bỏ vào thùng rác, không buồn đọc hay trả lời. Đó là sự thật, dù chua xót, nhưng bất cứ người VN nào có chút hiểu biết về thời cuộc cũng đều thấy rõ. Chỉ những ai hoàn toàn NGÂY THƠ mới tin rằng vận hội nước ta sẽ được đổi thay nhờ vào bản Kiến nghị (với cái Dự thảo Hiến pháp kèm theo này).

Thật ra, những người soạn thảo bản kiến nghị và bản Dự thảo Hiến pháp đều thấy HẾT khả năng và HẠN CHẾ của công trình họ đang thực hiện này. Đối với họ, theo tôi, đây chỉ là một trong nhiều BƯỚC đấu tranh để “GIÁO DỤC QUẦN CHÚNG” hầu giúp cho ĐCSVN hiểu ra lẽ hơn thiệt, và chấp nhận sự ĐỔI THAY cho phù hợp với ý nguyện của nhân dân ta trong thời đại văn minh, dân chủ, nhân quyền ngày hôm nay. Tuy nhiên, tôi thấy việc đấu tranh ÔN HÒA này cần rất nhiều thời gian, và nhất là cần động viên khối người Việt tiến bộ trong cũng như ngoài nước cùng nhau ĐOÀN KẾT cho mục đích chung là DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN, TỰ DO, HẠNH PHÚC của toàn dân Việt mới mong có cơ may thành công được. Thế nhưng, ngay cung cách khi viết bản Dự thảo Hiến pháp này, những nhà soạn thảo đã vô tình hay cố ý GẠT QUA MỘT BÊN đại khối người dân thuộc VNCH trước năm 1975. Qua việc khiên cưỡng chọn tên nước, Quốc kỳ, Quốc ca, Thủ đô v.v… trong bản Dự thảo, áp đặt lên toàn dân những điều mà các trí thức “bên thắng cuộc” tự xem như là điều đương nhiên đúng như trong Điều 11 của bản Dự thảo, dù bác Visiteur hay ai khác có lập luận như thế nào đi chăng nữa cũng khó lòng nhận được sự ủng hộ của nhiều người Việt tỵ nạn CS trên toàn thế giới, để cho họ thanh thản, vui vẻ ký tên vào bản kiến nghị. Những lý lẽ rằng đây chỉ là Dự thảo và trong tương lai hoàn toàn có thể thay đổi v.v… đều tỏ ra VÔ ÍCH, và chỉ gây ra PHẢN CẢM cho những ai không thích Điều 11 (như cá nhân tôi chẳng hạn) rằng họ đang bị áp đặt phải THỐI LÙI và HY SINH quan điểm riêng tư để ủng hộ cho một bản Kiến nghị mà kết quả ích nước lợi dân mà nó muốn đem đến cũng không có gì là hứa hẹn cả. Đặc biệt, là bút sa gà chết, và từ nay (sau khi thò tay ký bản Kiến nghị) họ sẽ bị xem như là đã ủng hộ Điều 11 (nhất là ủng hộ lá Cờ Đỏ Sao Vàng, một điều họ vẫn luôn chống đối và tẩy chay từ trước đến nay). Những người càng có tiếng tăm, như nhà báo Ngô Nhân Dụng của tờ báo Người Việt bên Mỹ chẳng hạn, lại càng phải CẨN THẬN, ĐẮN ĐO hơn rất nhiều vì sau đó họ sẽ bị Cộng đồng Người Việt Tự do ở hải ngoại buộc cho cho cái TỘI là đã phản bội Cộng đồng và đi ủng hộ lá Cờ Đỏ Sao Vàng của CSVN.

Nói cho cùng, thì những người soạn bản Dự thảo và Kiến nghị, nếu muốn lôi kéo thêm người ủng hộ thì phải tỏ ra là họ có tinh thần khoáng đạt hơn và tôn trọng người khác hơn, tinh thần mà người Anh, Mỹ, Úc gọi là có tính INCLUSIVE (tức là ai cũng có dự phần trong đó và thấy được tôn trọng). Việc sửa đổi này thật ra rất DỄ. Chỉ cần sửa lại bằng cách THÊM vào trong ngay Điều 1 là: Nước VN theo chế độ cộng hòa. Tên nước (Quốc hiệu), Thủ đô, Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc Huy, Quốc Hoa sẽ được toàn dân CHỌN LỰA qua một cuộc trưng cầu dân ý như sẽ quy định trong Điều 11.

Trong Điều 11 sẽ nói chi tiết về một Hội đồng tổ chức trưng cầu dân ý về Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc huy, Quốc Hoa, Quốc thiều v.v… trong đó ghi rõ là mỗi thứ phải có ÍT NHẤT là 2 đề nghị để toàn dân CHỌN LỰA sau một thời gian bàn cãi công khai, tự do, trong đó mỗi đề nghị đều PHẢI nêu ra những luận điểm THEO (FOR) và CHỐNG (AGAINST) để nhân dân có thể dựa vào đó mà bỏ phiếu CHỌN LỰA. Đây là giải pháp dân chủ, tôn trọng ý kiến của mọi người và hoàn toàn không mang tính ÁP ĐẶT. Nếu toàn dân chọn lựa những gì đang gì trong Điều 11 của bản Dự thảo, thì mọi người sẽ vui vẻ chấp thuận và tôn trọng quyết định của đa số. Cá nhân tôi đương nhiên là sẽ tuân theo.

Sau đó trong toàn bản Dự thảo, sẽ thay cụm từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng hai chữ VIỆT NAM (hoặc Nước Việt Nam, hoặc Quốc gia Việt Nam) trong khi chờ đợi tên CHÍNH THỨC của nước ta do toàn dân quyết định trong cuộc trưng cầu dân ý hoàn toàn tự do, công khai, có quốc tế giám sát. Như vậy, tôi tin là số người ủng hộ bản Dự thảo Hiến pháp MỚI sẽ tăng cao.

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 03:17, 25/01/2013 - mã số 77516

Danh sách những người ký tên vào bản kiến nghị sửa đổi hiến pháp 2013 đợt 4 đây các bác ơi

Đợt 4:

575. Trần Hữu Tá, PGS TS, TP HCM

576. Vũ Quang Việt, TS, nguyên chuyên gia kinh tế Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ

577. Nguyễn Tuấn Long, kinh doanh, Hà Nam

578. Đào Hữu Nghĩa Nhân, kỹ sư, TP HCM

579. Lương Đức Hùng, kỹ sư, TP HCM

580. Nguyễn Bá Dũng, kỹ sư, Hà Nội

581. Cao Thanh, du học sinh, Đài Loan

582. Đặng Hữu Tuấn, giáo viên, Bắc Giang

583. Lê Văn Quảng, Ba Lan

584. Hồ Thanh, họa sĩ, TP HCM

585. Nguyễn Văn Vinh, hưu trí, Hà Nội

586. Nguyễn Thị Ngọc Hà, giáo viên, Lào Cai

587. Van Dinh Nguyen, huu trí, CHLB Đức

588. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp

589. Nguyễn Thị Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp

590. Nguyễn Đình Trị, bác sĩ, TP HCM

591. Lê Đức Quang, TS, giảng viên, Đại học Huế

592. Nguyễn Đăng Nghiệp, giáo viên, TP HCM

593. Nguyen Viet, CHLB Đức

594. Huỳnh Thái Học, kỹ sư, Nha Trang

595. Phan Tấn Huy, kế toán, TP HCM

596. Hoàng Minh Tường, nhà văn, Hà Nội

597. Nguyễn Duy Việt, Hải Phòng

598. Đinh Xuân Duyệt, kỹ sư đã hưu trí, Hà Nội

599. Nguyễn Văn Duyên, kỹ sư, Hà Nam

600. Nguyễn Văn Diện, Đại úy về hưu, 40 năm tuổi đảng, Hà Nam

601. Lê Thị Là, nông dân, Hà Nam

602. Nguyễn Thị Luyến, nông dân, Hà Nam

603. Nguyễn Văn Duy, công nhân, Hà Nam

604. Kim Ngọc Cương, chuyên viên chính, đã nghỉ hưu, Hà Nội

605. Nguyễn Trọng Phú, nhân viên Hyundai Heavy Industries, Hàn Quốc

606. Nguyen Van Nghiem, nguyên giảng viên Đại học Giao thông Vận tải, Hà Nội

607. Nguyễn Hữu Thao, cựu quân nhân F289, Bộ Tư lệnh Công binh, Bulgaria

608. Ngô Cao Chi, kỹ sư điện tử, Hoa Kỳ

609. Đức Nhân, Đà Nẵng

610. Đặng Ngọc Quang, Đống Đa, Hà Nội

611. Hoàng Quý Thân, PGS TS, Hà nội

612. Nguyễn Văn Viễn, Hà Nội

613. Nguyễn Văn Hải, Hải Phòng

614. Trương Tấn Hồng Phúc, du học sinh tại Australia

615. Nguyễn Văn Kinh (Sơn Hà), cựu chiến binh chống Nhật, Pháp, Mỹ, lão thành Cách mạng, Hà Nội

616. Nguyễn Minh Hùng, công nhân, CHLB Đức

617. Nguyễn Văn Dũng, kỹ sư xây dựng, Đồng Nai

618. Trần Thị Xuân, bác sĩ, Hà Nội

619. Phạm Quang Nam, tư vấn tự do, Hà Nội

620. Nguyễn Thị Liên, Nghệ An

621. Từ Anh Tú, thợ sơn, Bắc Giang

622. Trần Thanh Trúc, Bà Rịa – Vũng Tàu

623. Nguyễn Minh Quân, kỹ sư, Quảng Ninh

624. Hoàng Thúc Tấn, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội

625. Hồ Văn Khuynh, nông dân, Đắk Nông

626. Trần Nam, sinh viên, Hà Nội

627. Lê Hồng Quang, cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, TP HCM

628. Nguyễn Văn Tâm, công dân, TP HCM

629. Trần Quý Huy, cán bộ hưu trí, Hà Nội

630. Ypen Bing, dân tộc Mnông Rlam, tỉnh Dăk Lăk

631. Thanh-Nhan Le, hành nghề tự do, CHLB Đức

632. Bùi Thị Minh Hằng, dân oan, Vũng Tàu

633. Nguyễn Cảnh Hoàn, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt vùng Mansfeld – Südharz, Bang Sachsen Anhalt, Lutherstadt Eisleben, CHLB Đức

634. Bùi Đình Giáp, kỹ sư, Hải Phòng

635. Đỗ Thành Long, giáo viên, TP HCM

636. Bùi Văn Bồng, Đại tá, nhà báo, Hà Nội

637. Lê Huy Hải, kỹ sư, Vũng Tàu

638. Trịnh Minh Hiếu, sĩ quan quân đội, đảng viên, Thanh Hóa

639. Nguyễn Phú Hải, Hà Nội

640. Nguyễn Văn Tòng, nhà giáo về hưu, Đà Lạt

641. Nguyễn Thanh Phong, giảng viên, An Giang

642. Nguyễn Thị Thanh Mai, Giám đốc công ty tư nhân, Hà Nội

643. Phạm Văn Hải, kỹ sư, Software Developer, Nha Trang

644. Nguyễn Viết Lầu, giảng viên đại học, hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam, đã nghỉ hưu, Hà Nội

645. Hoàng Hoàng Mai, Hà Lan

646. Lương Bảo Duy, sinh viên, TP HCM

647. Trần Tấn Thiện, sinh viên, Đà Nẵng

648. Trần Tú Phương, lập trình viên, cử nhân, TP HCM

649. Nguyen Manh Hung, công nhân, Hoa Kỳ

650. Huynh Vince, công nghệ thông tin, Hoa Kỳ

651. Phan Bùi Anh Tài, kĩ sư, Hà Nội

652. Mai Phúc Anh, nhạc công, Cần Thơ

653. Trần Liễu Châu, doanh nhân, CHLB Đức

654. Ngô Đắc Lợi, nhạc sĩ, Cần Thơ

655. Lê Thị Hoàng Lan, nội trợ, Cần Thơ

656. Vu Quang, PGS TS, nhà nghiên cứu sư phạm, đã nghỉ hưu, Hà Nội

657. Nguyễn Kim Thái, công dân Việt Nam, Vũng Tàu

658. Nguyễn Quang Phái, TS, đã nghỉ hưu, Hà Nội

659. Lê Tấn Đức, phụ trách Thương mại, Văn phòng Đại diện Johs, Rieckermann tại Việt Nam, TP HCM

660. Lê Bảo, chứng khoán, TP HCM

661. Lê Viết Bình, TS, hưu trí, TP HCM

662. Nguyen Van Binh, kỹ sư, TP HCM

663. Phạm Minh Châu, GS TS, Đại học Paris 7, Pháp

664. Phạm Xuân Huyên, GS TS, Đại học Paris 7, Pháp

665. Phạm Hạc Yên-Thư, TS, Trưởng phòng Dược, Bệnh viện Orsay, Pháp

666. Nguyễn Quốc Vũ, IT, Cộng hòa Czech

667. Theresa Lê Hằng, sinh viên, Hà Nội

668. Nguyễn Trường Việt Linh, sinh viên, Hà Nội

669. Phạm Sơn Toàn, sinh viên, Hà Nội

670. Nguyễn Tiến Nam, kinh doanh tự do, Hà Nội

671. Nguyễn Minh Mẫn, kĩ sư, về hưu, Canada

672. Nguyễn Thị Nguyệt Nga, hưu trí, Canada

673. Nguyễn Quang Bình Tuy, bác sĩ, TP HCM

674. Lý Tiến Đạt, sinh viên, TP HCM

675. Nguyễn Hữu Úy, TS, kỹ sư, Hoa Kỳ

676. Sỹ Nguyễn, Hoa Kỳ

677. Hoàng Trung Mạnh, nguyên cán bộ khoa Triết học trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nguyên bí thư Chi bộ trường Đại học tổng hợp Humboldt 1992-1993, Pháp

678. Lương Đình Cường, Tổng Biên tập Báo điện tử NguoiViet.de, CHLB Đức

679. Lưu Thùy Linh, luật sư, Hà Nội

680. Nguyễn-Khoa Thái Anh, nhà giáo, Hoa Kỳ

681. Trịnh Xuân Tài, kỹ sư, Hà Nội

682. Nguyen Ngoan, kỹ sư, Thụy Sĩ

683. Nguyễn Sỹ Phương, Dr, CHLB Đức

684. Chu Văn Keng, Cử nhân, CHLB Đức

685. Pham Chan, Phần Lan

686. Nguyen Quang Tuyen, nghệ sĩ thị giác, Hoa Kỳ

687. Đỗ Quyên, du học sinh, Canada

688. Nguyễn Thị Phượng, nhân viên ngân hàng, CHLB Đức

689. Vũ Manh Hùng, cựu giảng viên Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật – Thương mại, Hà Nội

690. Vũ Văn Hùng, cựu giáo viên, Hà Nội

691. Phan Văn Hùng, cựu giáo viên, Hà Nội

692. Phạm Văn Tiến, kỹ sư, Hải Phòng

693. Hoàng Dương Tuấn, giáo sư Đại học Công nghệ Sydney, Australia

694. Nguyễn Hữu Việt, nghề nghiệp tự do, Hà Nội

695. Lê Diễn Đức, nhà báo, Hoa Kỳ

696. Trịnh Anh Hùng, kinh doanh, CHLB Đức

697. Đào Quang Huy, doanh nhân, Cộng hòa Czech

698. Le Gia Phong, CHLB Đức

699. Nguyễn Mạnh Đạt, sinh viên, Cộng hòa Czech

700. Bùi Đức Hào, TS, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Người Việt Nam tại Pháp, Pháp

701. Ngô Anh Văn, TS, Đại học Nam California, Hoa Kỳ

702. Nguyễn Việt Bách (bút danh Phan Thành Đạt), hướng dẫn viên du lịch, sinh viên, Pháp

703. Kiệt Nguyễn, Hoa Kỳ

704. Lê Thị Phương Hoa, Đà Nẵng

705. Nguyễn Quyền, công dân Việt Nam, CHLB Đức

706. Trần Ngọc Châu, kinh doanh, Anh Quốc

707. Ngụy Hữu Tâm, TS, cán bộ nghiên cứu vật lý tại Viện Khoa học Việt Nam, đã về hưu, Hà Nội

708. Le Huu Chinh, cư sĩ Phật giáo Hòa Hảo, Canada

709. Đỗ Ngọc Quỳnh, TS, nhà giáo Đại học Cần Thơ, đã nghỉ hưu, TP HCM

710. Phạm Tiến Quốc, TP HCM

711. Le Anh Phong, công nhân, Canada

712. Hoàng Đức, nhà báo, Quảng Trị

713. Đỗ Tiến Trung, Hải Phòng

714. Lưu Gia Lạc, thợ tiện, TP HCM

715. Thế Dũng, nhà văn, nhà thơ, CHLB Đức

716. Chu Văn, cử nhân, CHLB Đức

717. Phan Đăng Khoa, nhà báo, Hà Nội

718. Nguyễn Ngọc Trân, nhân viên thiết kế game, TP HCM

719. Nhanh Van Truong, Trung úy, cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa của miền Nam trước 1975, Hoa Kỳ

720. Ngô Thanh Tú, hướng dẫn viên và viết báo tự do, Khánh Hòa

721. Nguyễn Ngọc Biên, kỹ sư, Hà Nội

722. Hung Huynh, Hoa Kỳ

723. Phạm Tuyên, bác sĩ, TP HCM

724. Tran Hang Nga, GS, Hoa Kỳ

725. Mai Nhật Đăng, học sinh, Nhật Bản

726. Đàm Huy Hoàng, nông dân, Hưng Yên

727. Hoàng Nghĩa Thắng, kỹ sư, Nghệ An

728. Đặng Chương Ngạn, viết văn, TP HCM

729. Nguyễn Nữ Phương Dung, sinh viên, TP HCM

730. Hoàng Huyền Trang, sinh viên, Hà Nội

731. Hồ Thị Hòa, thạc sĩ, TP HCM

732. Nguyễn Sỹ Vinh, kỹ sư, Nghệ An

733. Nguyễn Chinh, Hà Nội

734. Hoàng Văn Lạc, cử nhân, Bình Thuận

735. Trần Thị Hoa, giáo viên, TP HCM

736. Nguyen Quang Tan, giáo viên, TP HCM

737. Trần Tiễn Cao Đăng, nhà văn, dịch giả, trí thức tự do, Hà Nội

738. Nguyễn Văn Thanh, cử nhân, TP HCM

739. Đỗ Minh Tuấn, nhà thơ, đạo diễn, Hà Nội

740. Bùi Phan Thiên Giang, chuyên viên, TP HCM

741. Nguyên Văn Hùng, công chức, Bắc Giang

742. Nguyễn Thị Phương Thảo, kế toán, Hà Nội

743. Nguyễn Đức Nam, du học sinh, Hàn Quốc

744. Đỗ Khắc Chiến, hưu trí, Hà Nội

745. Nguyễn Thị Ánh Hiền, biên phiên dịch, TP HCM

746. Nguyễn Trần Quyên Quyên, Senior Account Officer, TP HCM

747. Nguyễn Việt Cường, kỹ sư, Bà Rịa – Vũng Tàu

748. Nguyen Ha Tinh, hành nghề tự do, Hoa Kỳ

749. Lê Mạnh Hà, bất động sản, Hải Phòng

750. Trịnh Xuân Dũng, thạc sĩ, kỹ sư điện, Đồng Nai

751. Nguyễn Xuân Mạnh, kỹ sư, TP HCM

752. Nguyễn Thị Mai Phượng, Hà Nội

753. Nguyễn Thị Quỳnh Như, sinh viên, Đồng Nai

754. Phan Văn Hiến, PGS TS, nhà giáo, Hà Nội

755. Trần Thị Anh, cán bộ, Hà Nội

756. Đỗ Hoàng Điệp, kỹ sư, Hà Nội

757. Trần Thị Thu Hương, kế toán, Hà Nội

758. Hoàng Thị Ngọc, kiến trúc sư, Hà Nội

759. Phạm Đức Chính, nhân viên văn phòng, TP HCM

760. Trần Thanh Bình, kỹ sư, Hà Nội

761. Nguyễn Thạch Cương, TS, Hà Nội

762. Hà Chí Hải, buôn bán, Hà Nội

763. Trần Đình Quân, cử nhân, Quảng Trị

764. Jo – Trần, kinh doanh, Hà Nội

765. Lê Thành Tài, kỹ sư, Vũng Tàu

766. Vu Khac Luong, Đại học Y Hà Nội

767. Phạm Văn Giang, cử nhân, Hà Nội

768. Lê Huỳnh Hữu Hạnh, sinh viên, TP HCM

769. Nguyễn Thanh Hiền, công nhân, Đồng Tháp

770. Phạm Hải Hồ, TS, biên soạn sách, dịch thuật, CHLB Đức

771. Lê Xuân Mười, chuyên viên kinh doanh xuất nhập khẩu, TP HCM

772. Lê Văn Hiệu, kỹ sư, TP HCM

773. Trần Trọng Khánh, kỹ thuật viên, Hà Nội

774. Trương Minh Tịnh, Giám đốc Công ty TithacoPty LTD, Australia

775. Nguyễn Quốc Khánh, kỹ sư, TP HCM

776. Trần Nguyễn Bảo Châu, sinh viên, Hoa Kỳ

777. Hồ Xuân Anh, Nghệ An

778. Đỗ Quý, thạc sĩ, Australia

779. Trần Tâm Thương, Quảng Ninh

780. Doãn Hữu Phồn, Bà Rịa – Vũng Tàu

781. Bùi Văn Bông, cán bộ về hưu, Đà Nẵng

782. Đinh Anh Tú, học sinh, TP HCM

783. Dinh Van Hien, bác sĩ, Dong Nai

784. Trần Xuân Sơn, đồ họa, Hà Nội

785. Phạm Anh Chiến, kỹ sư, Hà Nội

786. Nguyễn Ngọc Lưu, nhà giáo ưu tú, hưu trí, TP HCM

787. Trương Quang Chế, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Cần Thơ

788. Đinh Nguyễn Thanh Hùng, TP HCM

789. Tran Ngoc Thanh, Hà Nội

790. Nguyễn Quý Kiên, kỹ thuật viên, Hà Nội

791. Nguyễn Ngọc Hiếu, kinh doanh tự do, Hà Nội

792. Nguyễn Văn Báu, kỹ sư, Hà Nội

793. Phan Phước Toàn, cử nhân, TP HCM

794. Huỳnh Thục Vy, blogger, Đaklak

795. Lê Khánh Duy, Đaklak

796. Nguyễn Tiến Tài, nhà giáo hưu trí, Hà Nội

797. Trịnh Duy, nhân viên hỗ trợ kỹ thuật, Philippines

798. Phạm Thanh Lâm, kỹ sư, Đan Mạch

799. Nguyễn Minh Chính, Hà Nội

800. Nguyễn Hữu Tuyến, kỹ sư hưu trí, TP CHM

801. Hoan Bùi, cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa của miền Nam trước 1975, Hoa Kỳ

802. Nguyễn Văn Bảo, học sinh, TP HCM

803. Nguyễn Hồng Điệp, TP HCM

804. Nguyễn Kỳ Hưng, Curtin University, Australia

805. Hoàng Thúc Cảnh, nguyên cố vấn Văn phòng chính phủ, Hà Nội

806. Huỳnh Thúc Cẩn, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, hưu trí, cựu cố vấn quân sự chính phủ cách mạng Lào, Hà Nội

807. Nguyễn Thị Xuân Mai, hưu trí, Hà Nội

808. Lê Đăng Tuấn, lao động tự do, Đồng Nai

809. Đỗ Thịnh, TS, hưu trí, Hà Nội

810. Nguyễn Duy Linh, doanh nhân, Huế

811. Hồ Thanh Hùng, kỹ sư, TP HCM

812. Nguyễn An Liên, công nhân, Đà Nẵng

813. Nguyễn Duy Thịnh, cử nhân, TP HCM

814. Lê Đ. Quang, kinh doanh, Hoa Kỳ

815. Nguyễn Hữu Minh, dược sĩ, TP HCM

816. Đoàn Nguyên Hồng, kỹ sư hồi hưu, Australia

817. Xà Quế Châu, đầu bếp, TP HCM

818. Trần Thị Vân Lương, nội trợ, Hà Nội

819. Phạm Thùy Linh, sinh viên, Hà Nội

820. Phạm Văn Nhiên, công nhân, Hà Nội

821. Nguyễn Sơn Phong, Vũng Tàu

822. Diệp Bảo Tuấn, Nha Trang

823. Trần Quốc Hiệp, công dân, Hà Nội

824. Ngô Hoàng Hưng, kinh doanh, TP HCM

825. Huynh Van Que, nguyen Hiệu trưởng trường cấp 2, 3 Phú Lộc, Thừa Thiên Huế

826. Nguyễn Tiến Đạt, Chủ tịch Liên đoàn Sinh viên Công giáo Việt Nam, Hà Nội

827. Phan Xuan Trinh, công nhân hưu trí, Hoa Kỳ

828. Đạt Nguyễn, TS, La Trobe University, Australia

829. Hồ Sĩ Hải, kỹ sư, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội

830. Nguyễn Thanh Xuân, công nghệ thông tin, TP HCM

831. Nguyễn Đức Quyết, kỹ sư, CHLB Đức

832. Đào Quang Khải, Viện Toán học, Hà Nội

833. Đoàn Văn Chung, thạc sĩ, Hà Nội

834. Nguyễn Hoài Nam, kinh doanh, Thanh Hóa

835. Trần Văn Thọ, GS, Đại học Waseda, Nhật Bản

836. Nguyễn Thanh Tùng, chuyên viên văn phòng, TP HCM

837. Lê Tự Bình, công dân Việt Nam, Hà Nội

838. Mai Phương Tú, người dân, Hà Nội

839. Hoàng Thị Thiên Nga, TP HCM

840. Lê Minh Hiếu, cử nhân, TP HCM

841. Nguyễn Hoàng Bá, nhà báo, Nha Trang

842. Đỗ Lê Hoàng, kỹ sư, Hải Phòng

843. Lê Bá Diễm Chi (tức Song Chi), đạo diễn phim, nhà báo độc lập, Na Uy

844. Nguyễn Nhụy, TS, Đại học Quốc gia Hà Nội

845. Ngô Thế Hiền, hưu trí, Hà Nội

846. Nguyễn Hồng Phi, họa sĩ, Thái Lan

847. Huỳnh Thị Minh Bài, thương binh, đã nghỉ hưu, Bình Định

848. Nguyễn Thanh Lịch, công dân Việt Nam, Khánh Hòa

849. Trần Xuân Sơn, làm nghề Đồ họa, Hà Nội

850. Trịnh Hiệp, kỹ sư, Hà Nội

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 01:17
Nhãn: Hiến pháp

Visiteur (khách viếng thăm) gửi lúc 01:19, 25/01/2013 - mã số 77513
Khách Qua Đường viết:
...
Bác Nguyễn Ngọc Già kính mến,

...

Việc này chẳng ăn nhằm gì tới việc thời thế đã đổi thay như bác GIÀ đã nói. Tôi dám cá là rất nhiều người, trong đó có cả những người Việt sống ở hải ngoại đã nổi tiếng (thí dụ như quý ông Ngô Nhân Dụng, Trần Văn Tích, v.v… và v.v…) sẽ KHÔNG DÁM ký bản Kiến nghị này dù trong thâm tâm họ thấy bản Dự thảo Hiến pháp có rất nhiều điều hay. Lý do giản dị là họ có thể không chịu cái Điều 11 mang tính áp đặt, đưa mọi người vào sự đã rồi này. Điều này cũng đã nói lên tính GIẢ DỐI của tất cả những ai (trong cũng như ngoài nước) đã từng LỚN TIẾNG kêu gọi mọi người hãy bỏ qua một bên chuyện cờ Vàng, cờ Đỏ để “đoàn kết” dân tộc. Miệng thì HÔ HÀO bỏ qua một bên, nhưng tay thì GHI vào Hiến Pháp rằng Quốc kỳ nước “ta” là Cờ Đỏ Sao Vàng. Than ôi!

Tại sao bác lại cho rằng sự đã rồi ?
Ủng hộ kiến nghị bản dự thảo Hiến pháp chứ đâu có trưng cầu dân ý, phúc quyết ? Bản dự thảo Hiến pháp này hay và tốt hơn hẳn HP 1992 và bản sửa đổi. Tại sao không ủng hộ bản tốt hơn cả mà trong khi đó mình vẫn có quyền đề nghị cải thiện hoặc sửa đổi sau này ?

Thế bác Khách Qua Đường có đề nghị gì cho điều 11 ?
Tôi có đề nghị thay đổi bài Tiến Quân Ca vì có lời bạo lực, không thích hợp cho thời bình nhưng chưa biết thay bằng bài gì

Trích dẫn:
Điều 80. Thủ tục sửa đổi Hiến pháp

1. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp có thể được trình bởi các chủ thể sau: ít nhất 1/5 số Hạ nghị sĩ theo luật định, Thượng nghị viện, hoặc Tổng thống.

2. Nếu Tổng thống trình dự luật sửa đổi Hiến pháp thì dự luật không được thay đổi các điều khoản liên quan đến Tổng thống trong Hiến pháp hiện hành

3. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được thực hiện bởi một đạo luật được Hạ viện thông qua và sau đó được Thượng viện thông qua với cùng nội dung trong thời hạn 60 ngày.

4. Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Hạ viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Hạ nghị sĩ theo luật định; Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Thượng Nghị Viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Thượng nghị sĩ theo luật định.

5. Trong vòng 60 ngày kể từ khi Dự luật sửa đổi Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua phải tổ chức trưng cầu dân ý để nhân dân phúc quyết.

Điều 81. Hiệu lực Hiến pháp và quy định chuyển đổi

1. Hiến pháp này có hiệu lực sau 100 ngày kể từ ngày được nhân dân phúc quyết thông qua.

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 18:01, 24/01/2013 - mã số 77481

Kính thưa tất cả các bạn, tôi không ngờ khi dựa vào dân để xin chữ ký vào BẢN KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 2013 do các Nhân Sỹ Việt Nam soạn thảo đã được nhân dân vô cùng ủng hộ
Tôi, Đỗ Xuân Thọ, Đảng viên 40 năm tuổi đảng không nhận một xu nào của cái gọi là “thế lực phản động” như báo lề đảng hay nói.
Tôi làm vì cái tâm của tôi và khi nhắm mắt xuôi tay vẫn tự hào đã góp một phần nhỏ vào việc thiết lập một Hiến Pháp tốt như của Mỹ cho Việt Nam
….
Tôi cảm ơn sáng kiến của bác Nguyễn Trần B. đã dùng 10 triệu VNĐ để xin được 1000 chữ ký của nông dân vùng sâu vùng xa
…..
Tôi cảm ơn các cháu sinh viên, học sinh đã tích cực giúp đỡ trong việc lấy chữ ký trong giới HS,SV
….
Tôi cảm ơn trang Bauxitevn, trang Anh Ba sam, trang Dân Luận, trang Dân Làm Báo
Tôi cảm ơn các thầy của tôi đã ký vào bản kiến nghị này

Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 06:36, 24/01/2013 - mã số 77454
Nguyễn Ngọc Già viết:
@ Bác Đỗ Xuân Thọ: nhờ bác hỏi giùm, tôi đăng ký hôm qua mà chưa thấy tên. Nội dung: Nguyễn Ngọc (blogger Nguyễn Ngọc Già) xin đăng ký tên đồng thuận vào dự thảo HP của 72 người VN trong và ngoài nước. cám ơn bác.

@ bác KQĐ; tùy bác thôi, nếu bác vẫn đòi sự cầu toàn 100%. Điều 11 coi như là thỏa hiệp tốt đẹp cho mọi phía. Đâu có gì trọn vẹn 100% theo ý bác được. Cũng như BTC của Huy Đức, làm sao có thể hài lòng hết được.

Xin lỗi bác Thọ. Tôi tìm thấy tên rồi. số thứ tự 385. Mắt mũi kém quá! Cám ơn bác thọ

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
5 + 1 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Bấm vào đây để xem thể lệ cuộc thi sáng tác video Quyền Con Người và Tôi 2013

Suy ngẫm

Có 2 cách để người ta thuyết phục lẫn nhau: súng hoặc logic. Bạo lực hay thuyết phục. Những người biết rằng họ không thể thắng bằng cách thuyết phục thì luôn luôn dùng bạo lực.

— Ayn Rand

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 1 thành viên531 khách truy cập.

Thành viên online

Thuốc Lá

Kỷ lục: Có 2315 người ghé thăm vào 11-03-2013 lúc 13h29.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

Hãy bấm để ủng hộ tài chính cho Dân Luận. Thu chi quỹ Dân Luận được công bố công khai tại đây!