Bauxite Việt Nam: Kiến nghị về sửa đổi Hiến Pháp 1992

Chia sẻ bài viết này

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (dưới đây gọi tắt là Dự thảo), chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây, xin trình bày với Quốc hội và Uỷ ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 một số kiến nghị, đồng thời mong mỏi toàn thể đồng bào trong và ngoài nước thẳng thắn nói lên ý kiến để nhân dân ta có một Hiến pháp bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và sự phát triển bền vững của đất nước, mang lại tự do hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai.

Hiến pháp của một quốc gia do dân làm chủ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân và được hình thành từ sự thỏa thuận giữa các thành phần đa dạng trong xã hội. Dự thảo chưa thấu suốt bản chất của một hiến pháp dân chủ, chưa thể hiện sự tin cậy, tín nhiệm của nhân dân với chính quyền theo tinh thần thỏa thuận kiến tạo một môi trường có sự kiểm soát bên trong và bên ngoài đối với quyền lực. Kiểm soát bên trong giữa các nhánh quyền lực nhà nước bằng các cơ chế đối trọng kiềm chế lẫn nhau, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp không thể vượt quá giới hạn được ấn định. Kiểm soát từ bên ngoài đối với công quyền được thực hiện bởi nhân dân với vai trò quan trọng của xã hội dân sự mà tiền đề là các quyền tự do về ngôn luận, báo chí, lập hội, hội họp, biểu tình,...

Hiến pháp phải mang tính chính đáng được đo bằng nhiều tiêu chí. Thứ nhất, hiến pháp phải có mục tiêu bảo vệ độc lập chủ quyền, kiến tạo tự do, dân chủ, công bằng, hạnh phúc; đồng thời đoàn kết toàn dân, loại bỏ mọi sự chia rẽ hay áp bức, hướng đến sự phát triển bền vững của dân tộc. Thứ hai, hiến pháp phải thể hiện ý chí chung của nhân dân, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân để lập ra các cơ quan nhà nước. Thứ ba, hiến pháp phải được xây dựng theo các nguyên tắc pháp luật phổ biến của thế giới văn minh, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Theo tinh thần đó, trước mắt chúng tôi kiến nghị 7 điểm như sau.

Kiến nghị thứ nhất về Lời nói đầu và về Chương I

Lời nói đầu của Dự thảo không làm rõ mục tiêu của hiến pháp và chủ thể quy định hiến pháp. Hiến pháp cần xác định mục tiêu trước hết là để bảo đảm sự an toàn, tự do và hạnh phúc của mọi người dân. Một bản hiến pháp tốt phải hạn chế sự lạm quyền của những người cầm quyền, tạo dựng khuôn khổ cho các sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hoá diễn ra một cách an bình và hiệu quả. Hiến pháp cũng phải hướng đến hạnh phúc của các thế hệ tương lai.

Quyền lập hiến (xây dựng, ban hành hay sửa đổi hiến pháp) là quyền sinh ra các quyền khác (lập pháp, hành pháp và tư pháp) phải thuộc về toàn dân, chứ không thể thuộc về bất kỳ một tổ chức hay cơ quan nào, kể cả Quốc hội. Lời nói đầu cần xác định rõ chủ thể quyết định, ban hành hiến pháp là nhân dân.

Lời nói đầu không phải là chỗ để tuyên dương công trạng của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

Lời nói đầu của Dự thảo không đáp ứng được các yêu cầu trên nên chúng tôi đề nghị bỏ và thay bằng:

Kế tiếp nền văn hiến và truyền thống bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã dựng xây và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân,

vì một xã hội dân chủ, công bằng và pháp quyền, vì tự do và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai,

chúng tôi, nhân dân Việt Nam, quyết định xây dựng và ban hành bản Hiến pháp này.

Trong Chương I, cần nhấn mạnh nguyên tắc chủ quyền nhân dân đòi hỏi phải tôn trọng ý của dân tộc. Nếu hiến pháp thực sự do nhân dân quyết định thì việc định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc về một tổ chức chính trị hay một tầng lớp là trái với quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân và ngược với bản chất của một nhà nước pháp quyền.

Chủ thể nào lãnh đạo xã hội sẽ do nhân dân bầu chọn ra trong các cuộc bầu cử tự do, dân chủ, định kỳ. Một chính đảng thực sự có chính nghĩa, phục vụ lợi ích của nhân dân sẽ không lo bị thất bại trong các cuộc bầu cử như vậy. Hiến pháp của Liên Xô năm 1977 quy định ở Điều 6 vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội đã không tránh được sự sụp đổ của chế độ Xô-viết khi không còn lòng tin của dân.

Việc đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước.

Ý kiến nêu trên được tiếp thu sẽ tạo cơ hội cho Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lại niềm tin đã từng có trong dân để thực sự trở thành lực lượng lãnh đạo chính trị được xã hội chấp nhận.

Kiến nghị thứ hai về quyền con người

Một mục đích của việc thành lập Nhà nước là để bảo vệ các quyền đương nhiên của con người.

Dự thảo đã điều chỉnh thứ tự để đề cao các quyền này so với Hiến pháp hiện hành, nhưng lại có nhiều điểm chưa phù hợp với các quy định và chuẩn mực quốc tế về quyền con người; như các quy định trong Dự thảo về giới hạn quyền (Điều 15), “không lợi dụng quyền con người, quyền công dân” (Điều 16), “quyền không tách rời nghĩa vụ (Điều 20). Dự thảo còn quy định quá nhiều nghĩa vụ một cách tùy tiện (Điều 41, Điều 42, Điều 49,…). Việc nhấn mạnh trong Dự thảo các lý do về quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, ổn định chính trị, việc đưa cụm từ “theo quy định của pháp luật”,... nhằm hạn chế những quyền đó sẽ mở đường cho việc nhân danh hiến pháp để vi phạm quyền con người, đàn áp các công dân thực thi quyền tự do như đã diễn ra trong thực tế những năm qua ở nước ta.

Chúng tôi yêu cầu sửa Dự thảo theo đúng tinh thần của Tuyên ngôn về Quyền Con người năm 1948 và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Nếu các quyền này được ghi trong Hiến pháp mà không được thực thi nghiêm túc như hiện nay, thì việc quy định các quyền ấy cũng trở nên vô nghĩa. Vì vậy chúng tôi yêu cầu Hiến pháp quy định thành lập một Ủy ban Quốc gia về Quyền Con người hoạt động độc lập.

Kiến nghị thứ ba về sở hữu đất đai

Chế độ sở hữu tư nhân về đất đai đã tồn tại từ lâu trên đất nước ta. Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân kể từ Hiến pháp Việt Nam 1980 là sự sao chép Hiến pháp Liên Xô, một điều hoàn toàn xa lạ với nhân dân Việt Nam và đã gây ra rất nhiều bất ổn xã hội. Điều 57 Dự thảo tiếp tục khẳng định đất đai “thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” là duy trì quy định sai trái, bỏ qua những vấn đề ngày càng trầm trọng do quy định này gây ra mà hàng triệu khiếu nại, khiếu kiện về đất đai trong những năm qua chỉ là phần nổi của tảng băng chìm hết sức nguy hiểm.

Không thừa nhận sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng về đất đai cùng tồn tại với sở hữu nhà nước là tước đoạt một quyền tài sản quan trọng bậc nhất của người dân. Đánh đồng sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân về đất đai là tạo điều kiện cho quan chức các cấp chính quyền tham nhũng, lộng quyền, bắt tay với nhiều tư nhân, doanh nghiệp cùng trục lợi, gây thiệt hại cho nhân dân, đặc biệt là nông dân.

Dự thảo còn “hợp hiến hóa” việc thu hồi đất, trong đó lại mở rộng phạm vi áp dụng cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội; đây là một sự thụt lùi so với Hiến pháp 1992 và có thể gây bùng nổ bất ổn xã hội.

Vì thế chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 57 của Dự thảo, trở lại như Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Có thể quy định như sau: “Sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng và nhà nước về đất đai được tôn trọng. Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ và thống nhất quản lý đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và các tài nguyên, nguồn lợi khác ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư.”

Thay thế quy định thu hồi đất bằng trưng mua đất và không áp dụng cho các dự án phát triển kinh tế-xã hội như nêu trong Điều 58 của Dự thảo.

Kiến nghị thứ tư về tổ chức Nhà nước

Tổ chức bộ máy Nhà nước phải phân biệt rạch ròi các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như các cơ quan hiến định khác. Tất cả các cơ quan nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp và luật. Các nhánh quyền lực ràng buộc, chế ước lẫn nhau nhưng không thể bị chi phối bởi bất kỳ một tổ chức hay cá nhân duy nhất nào, nghiêm cấm mọi sự độc quyền quyền lực. Đặc biệt, hệ thống tư pháp phải được bảo đảm trên thực tế quyền xét xử độc lập, chỉ dựa vào Hiến pháp và luật. Tòa án Hiến pháp phải được thành lập, có chức năng phán quyết, chứ không phải là tư vấn, kiến nghị như chức năng của Hội đồng Hiến pháp được quy định trong Dự thảo.

Kiến nghị thứ năm về lực lượng vũ trang

Hiến pháp đặt lợi ích của toàn dân lên trên lợi ích của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào. Mọi hoạt động của các lực lượng vũ trang chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân. Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, như quy định tại Điều 70 của Dự thảo. Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kiến nghị thứ sáu về trưng cầu dân ý đối với Hiến pháp

Quyền lập hiến là quyền của toàn dân, phải phân biệt với quyền lập pháp của Quốc hội. Vì vậy phải có trưng cầu dân ý để phúc quyết Hiến pháp. Chúng tôi đề xuất quy định trong Hiến pháp: “Bảo đảm quyền phúc quyết của nhân dân đối với Hiến pháp, thông qua trưng cầu dân ý được tổ chức thật sự minh bạch và dân chủ với sự giám sát của người dân và báo giới.

Kiến nghị thứ bảy về thời hạn góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp

Việc lấy ý kiến đóng góp của toàn dân về sửa đổi Hiến pháp là một việc hệ trọng đến vận mệnh quốc gia, phải được tiến hành một cách nghiêm chỉnh, không thể tắc trách, lấy lệ. Vì vậy, thời hạn lấy ý kiến của nhân dân chỉ trong vòng ba tháng là quá ngắn, dễ dẫn đến tình trạng làm một cách hình thức cho qua chuyện. Vì vậy chúng tôi kiến nghị gia hạn thời gian lấy ý kiến của nhân dân đến hết năm 2013, đồng thời khuyến khích đề xuất các dự thảo khác để Quốc hội, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp cùng toàn thể đồng bào tham khảo, so sánh, thảo luận nhằm xây dựng một bản hiến pháp phù hợp nhất cho quốc gia. [*]

Sửa Hiến pháp theo tinh thần của các kiến nghị nêu trên sẽ phát huy dân chủ và hoà hợp dân tộc – những đòi hỏi hết sức bức xúc của nhân dân trong giai đoạn trước mắt, cũng như cho sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước.

Chúng tôi tha thiết mong mỏi đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng bản Kiến nghị này bằng cách đăng ký tham gia ký tên theo địa chỉ thư điện tử: kiennghisuadoihienphap2013@gmail.com.

Hà Nội, ngày 19 tháng 1 năm 2013

DANH SÁCH NGƯỜI KÝ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992

  1. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  2. Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu, Hà Nội
  3. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức yêu nước TP Hồ Chí Minh, TP HCM
  4. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM
  5. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
  6. Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động, TP HCM
  7. Phạm Vĩnh Cư, nhà nghiên cứu, Hà Nội
  8. Nguyễn Xuân Diện, TS, Hà Nội
  9. Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  10. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
  11. Nguyễn Văn Dũng, nhà văn, võ sư, Huế
  12. Hồ Ngọc Đại, GS TS, nhà giáo, Hà Nội
  13. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh khóa 4, 5, TP HCM
  14. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
  15. Lê Hiền Đức, Giải thưởng Liêm chính 2007, Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Hà Nội
  16. Phan Hồng Giang, TSKH, Hà Nội
  17. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist), TP HCM
  18. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  19. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội
  20. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
  21. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội
  22. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  23. Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, Thành uỷ TP Hồ Chí Minh, TP HCM
  24. Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thừa Thiên - Huế, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế
  25. Nguyễn Văn Hồng (tức Cung Văn), nguyên Tổng Thư ký Ban chấp hành Sinh viên đoàn Đại học Văn khoa Sài Gòn 1964-1965, Đà Nẵng
  26. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
  27. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, Đà Nẵng
  28. Trần Ngọc Kha, nhà báo, Hà Nội
  29. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM
  30. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  31. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới, TP HCM
  32. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
  33. Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội
  34. Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội
  35. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
  36. Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  37. Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội
  38. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
  39. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An
  40. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
  41. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  42. Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn, Hà Nội
  43. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp Đại học, Hà Nội
  44. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin sáng, TP HCM
  45. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu, Huế
  46. Hoàng Xuân Phú, GS Viện Toán học, Hà Nội
  47. Trần Việt Phương, nguyên trợ lý Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  48. Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại tá Công an, Hà Nội
  49. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  50. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM
  51. Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội
  52. Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn, Hà Nội
  53. Lê Văn Tâm, TS, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Nhật Bản, Nhật Bản
  54. Trần Công Thạch, hưu trí, TP HCM
  55. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
  56. Trần Thị Băng Thanh, PGS TS, Hà Nội
  57. Lê Quốc Thăng, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  58. Đào Tiến Thi, thạc sĩ, Hà Nội
  59. Nguyễn Minh Thuyết, GS TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Hà Nội
  60. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
  61. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM
  62. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  63. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  64. Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, nguyên Chủ tịch Viện IDS, Hà Nội
  65. Lưu Trọng Văn, nhà báo, TP HCM
  66. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội
  67. Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM
  68. Nguyễn Hữu Vinh, nhà báo, Hà Nội
  69. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
  70. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, Huế
  71. Nguyễn Đông Yên, GS TS, Viện Toán học, Hà Nội
  72. Nguyễn Phú Yên, nhạc sĩ, TP HCM

__________________________________

Tài liệu tham khảo:

DỰ THẢO HIẾN PHÁP 2013

LỜI NÓI ĐẦU

Kế tiếp nền văn hiến và truyền thống bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã dựng xây và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì tự do và độc lập của dân tộc,

vì một xã hội công bằng, dân chủ và tôn trọng pháp quyền, vì mục tiêu hạnh phúc và tự do của các thế hệ hiện tại và tương lai,

chúng tôi, nhân dân Việt Nam, thông qua các đại biểu Quốc hội, xây dựng bản Hiến pháp này.

CHƯƠNG I. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Chủ quyền quốc gia

Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Điều 2. Chủ quyền nhân dân

Chủ quyền Việt Nam thuộc về nhân dân và tất cả các quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân. Quyền lập hiến là một quyền không thể bị tước đoạt của nhân dân.

Điều 3. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, có quyền phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

4. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, hội nhập vào sự phát triển chung của đất nước.

Điều 4. Công dân

1. Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được luật quy định.

2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam, giao nộp cho nhà nước khác.

3. Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài.

4. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

5. Người gốc Việt Nam có quốc tịch nước khác hoặc chưa có quốc tịch nước nào có quyền có quốc tịch Việt Nam.

6. Địa vị của người nước ngoài được đảm bảo theo quy định của luật pháp quốc tế và điều ước quốc tế.

Điều 5. Các điều ước quốc tế

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thừa nhận, kế thừa và tôn trọng các điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trước đây ký kết và ban hành không trái với các hiến pháp tương ứng và các quy tắc chung được luật pháp quốc tế công nhận vào thời điểm đó.

2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố nào mà các chính quyền Việt Nam trước đây đã ký kết hoặc đưa ra một cách bí mật, không đúng thẩm quyền hoặc không đúng theo các thủ tục pháp luật vào thời điểm đó.

3. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố do bất cứ đảng phái chính trị, tổ chức phi nhà nước hay cá nhân nào đã ký kết hoặc đưa ra, một cách bí mật hay công khai, liên quan đến chủ quyền hay lãnh thổ Việt Nam.

Điều 6. Tôn trọng hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nỗ lực duy trì hòa bình quốc tế và từ bỏ chiến tranh xâm lược.

2. Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và giữ gìn an ninh quốc gia là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

3. Các lực lượng vũ trang được trao sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.

4. Các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

Điều 7. Tính chất dân sự của lực lượng cảnh sát

Lực lượng cảnh sát có sứ mệnh thực thi luật pháp và giữ gìn trật tự. Cảnh sát thuộc lĩnh vực dân sự, không thuộc về các lực lượng vũ trang.

Điều 8. Trách nhiệm của công chức

1. Công chức là công bộc của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

2. Địa vị và tính trung lập chính trị của công chức được đảm bảo theo quy định của pháp luật

Điều 9. Đảng phái chính trị

1. Các đảng phái chính trị được tự do thành lập và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ. Quyền đối lập chính trị được tôn trọng.

2. Pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các đảng phái chính trị.

Điều 10. Nền kinh tế quốc dân

1. Nền kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dựa trên sự tôn trọng tự do và sáng kiến của các doanh nghiệp và cá nhân trong đời sống kinh tế.

2. Nhà nước có thể quy định và điều phối các hoạt động kinh tế nhằm duy trì sự tăng trưởng cân bằng, bền vững và ổn định, nhằm phân phối thu nhập, ngăn chặn sự thống lĩnh thị trường và lạm quyền kinh tế.

3. Nhà nước có nghĩa vụ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế để có nền kinh tế quốc gia cân đối. Nhà nước thúc đẩy kinh tế bằng việc phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực và khuyến khích sáng tạo.

Điều 11. Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô

1. Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

2. Quốc huy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

3. Quốc ca nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca.”

4. Ngày Quốc khánh là Ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.

5. Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Hà Nội.

CHƯƠNG II. QUYỀN CON NGƯỜI,

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

Điều 12. Nguyên tắc tôn trọng các quyền con người

1. Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các quyền con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế (1948) và các điều ước quốc tế về quyền con người khác mà Việt Nam là thành viên, được tôn trọng và bảo vệ.

2. Các cơ quan nhà nước, công chức và viên chức có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.

Điều 13. Quyền bình đẳng

1. Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào dựa vào giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các yếu tố khác.

2. Các nhóm thiểu số được ưu tiên bảo vệ.

Điều 14. Quyền sống, tự do và an toàn cá nhân

Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân. Quyền sống trong một môi trường trong lành của mọi người phải được tôn trọng và bảo vệ.

Điều 15. Tự do không bị làm nô lệ

Không ai bị bắt làm nô lệ hoặc bị cưỡng bức làm việc như nô lệ. Mọi hình thức nô lệ và buôn bán người đều bị cấm.

Điều 16. Quyền không bị tra tấn và các quyền trong lĩnh vực tư pháp hình sự

1. Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.

2. Không ai bị bắt, giữ hay giam giữ một cách tuỳ tiện. Trong vòng 24 giờ kể từ khi bị bắt, người bị bắt phải được đưa ra trước một tòa án để xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ việc bắt giữ.

3. Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên toà xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình.

4. Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi nào không cấu thành một tội phạm hình sự theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi đó. Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện.

Điều 17. Quyền được tòa án bảo vệ và quyền được xét xử công bằng

1. Mọi người đều có quyền được các toà án có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.

2. Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng, công khai bởi một toà án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ.

Điều 18. Bảo vệ danh dự, uy tín và quyền riêng tư

1. Danh dự và uy tín cá nhân của mọi người được tôn trọng.

2. Cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở và thư tín của mọi người được tôn trọng.

Điều 19. Quyền tự do đi lại và tự do cư trú

1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia.

2. Mọi người đều có quyền rời khỏi và quyền trở về Việt Nam.

Điều 20. Quyền kết hôn

1. Mọi người khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo hay giới tính.

2. Việc kết hôn chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai.

Điều 21. Quyền sở hữu

1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản tư nhân hoặc sở hữu chung với người khác. Không ai bị tước đoạt tài sản một cách tuỳ tiện.

2. Đất đai có thể thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng hoặc sở hữu nhà nước.

Điều 22. Tư do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo

Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.

Điều 23. Tự do ngôn luận, biểu tình, hội họp và lập hội

1. Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến bằng mọi hình thức. Tư nhân có quyền ra báo, xuất bản.

2. Mọi người đều có quyền tự do biểu tình, hội họp một cách ôn hoà.

3. Mọi người đều có quyền tự do lập hội. Không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ tổ chức nào.

Điều 24. Quyền tham gia chính trị

Mọi công dân đều có quyền tham gia quản lý đất nước, một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu mà họ tự do lựa chọn trong các cuộc bầu cử.

Điều 25. Quyền hưởng an sinh xã hội

Mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội.

Điều 26. Quyền lao động và nghiệp đoàn

1. Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp.

2. Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.

3. Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm.

4. Mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình.

5. Quyền đình công của người lao động được bảo đảm bằng luật.

Điều 27. Quyền có mức sống thích đáng

1. Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, góa bụa, già hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ.

2. Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Mọi trẻ em, dù sinh ra trong hay ngoài giá thú, đều phải được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 28. Quyền học tập

Mọi người đều có quyền học tập. Giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí.

Điều 29. Quyền về văn hóa

1. Mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích xuất phát từ những tiến bộ khoa học.

2. Mọi người đều có quyền được bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật nào mà người đó là tác giả.

Điều 30. Bảo vệ người tiêu dùng

Nhà nước phải có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Điều 31. Nguyên tắc chung của nghĩa vụ

Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng. Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

Điều 31. Nghĩa vụ nộp thuế

Mọi công dân có nghĩa vụ nộp thuế theo các điều kiện luật định.

Điều 32. Bảo vệ Tổ quốc và tri ân những người có công

1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng. Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tôn vinh công lao của tất cả những người đã hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc, ghi nhận và tôn vinh công lao của các thương binh, các cựu chiến binh bất luận họ đã phục vụ trong chính thể nào trong quá khứ và có chính sách hỗ trợ họ trong giáo dục, đào tạo nghề và trong mưu sinh.

Điều 33. Nghĩa vụ quân sự

Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia lực lượng vũ trang dự bị theo luật định.

CHƯƠNG III. LẬP PHÁP

Điều 34. Quốc hội

1. Quyền lập pháp được nhân dân ủy quyền cho Quốc hội. Quốc hội bao gồm Hạ viện và Thượng viện.

2. Thành viên của Quốc hội là các nghị sĩ, gồm Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ. Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ do nhân dân bầu ra thông qua bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

3. Không ai có thể đồng thời là Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ.

4. Quốc hội có quyền lập pháp, phê chuẩn việc bổ nhiệm lãnh đạo các cơ quan hành pháp, bổ nhiệm các thẩm phán, lãnh đạo các cơ quan hiến định độc lập theo quy định của Hiến pháp và luật.

Điều 35. Hạ nghị sĩ

1. Các Hạ nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và có thể được bầu lại.

2. Mỗi đơn vị bầu cử được bầu 1 (một) Hạ Nghị sĩ.

3. Đơn vị bầu cử Hạ Nghị sĩ gồm các đơn vị hành chính cơ sở (cấp xã) nằm trong một vùng sao cho các đơn vị có dân số xấp xỉ ngang nhau.

4. Số đơn vị bầu cử của một đơn vị hành chính cấp tỉnh được tính bằng số nguyên làm tròn của con số được tính bằng dân số của đơn vị cấp tỉnh đó (theo tổng điều tra dân số gần nhất) nhân với 250 rồi chia cho dân số toàn quốc. Một đơn vị hành chính cấp tỉnh có ít nhất một đơn vị bầu cử.

5. Mọi công dân đủ 25 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Hạ nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử nếu: (a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.

6. Tuy các Hạ nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước.

Điều 36. Thượng nghị sĩ

1. Các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và có thể được bầu lại.

2. Mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) là một đơn vị bầu cử Thượng Nghị sĩ.

3. Mọi công dân đủ 30 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Thượng nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử Thượng Nghị sĩ nếu: (a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.

4. Số Thượng nghị sĩ mà mỗi đơn vị được bầu cử là 2. Đối với những tỉnh có người dân tộc thiểu số quá 20 % dân số tỉnh đó, thì bắt buộc phải có 1 Thượng nghị sĩ là người dân tộc thiểu số.

5. Trong lần bầu Thượng nghị sĩ đầu tiên, mỗi đơn vị bầu cử, bằng bốc thăm, chọn ra 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm, sao cho cứ 3 năm sẽ tiến hành bầu lại một nửa số Thượng nghị sĩ của Thượng viện.

6. Tuy các Thượng nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước.

Điều 37. Bầu cử Thượng viện và Hạ viện

1. Việc bầu cử toàn bộ các Hạ nghị sĩ và các Thượng nghị sĩ lần đầu tiên theo Hiến Pháp này được tiến hành trong vòng 100 ngày kể từ ngày bản Hiến pháp có hiệu lực.

2. Nghị sĩ hết nhiệm kỳ vào ngày tính đúng 36 tháng đối với các Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ được bầu lần đầu có nhiệm kỳ 3 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức; vào ngày tính đúng 72 tháng đối với các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức.

3. Trong vòng 100 ngày trước khi các Nghị sĩ hết nhiệm kỳ, phải tổ chức bầu cử các Nghị sĩ mới cho nhiệm kỳ tiếp theo. Nếu đơn vị bầu cử không hội đủ số người đắc cử theo quy định thì phải tổ chức bầu lại từ các ứng viên thất cử của đợt bầu trước đó trong vòng 15 ngày sau khi cuộc bầu cử trước kết thúc. (Các) đợt bầu cử lại này được tiến hành cho đến khi chọn đủ số người đắc cử theo quy định và trong mọi trường hợp phải kết thúc trước ngày các Nghị sĩ đương nhiệm hết nhiệm kỳ 15 ngày.

4. Nếu khuyết Nghị sĩ vì bất cứ lý do gì, thì (a) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại dưới 1 năm sẽ không có bầu cử bổ sung; hoặc (b) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại bằng hay trên 1 năm phải tổ chức bầu bổ sung tại đơn vị bầu cử đó cho đủ số bị khuyết trong vòng 60 ngày kể từ khi các Viện xác nhận sự khuyết. Nhiệm kỳ của người được bầu bổ sung sẽ chấm dứt cùng với nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đương nhiệm.

5. Thủ tục ứng cử, tranh cử, bầu cử được quy định chi tiết trong luật bầu cử.

Điều 38. Sự chuyên trách, tuyên thệ và quyền miễn trừ của Nghị sĩ

1. Trong khi đương nhiệm các Nghị sĩ không được đồng thời giữ bất kỳ chức vụ nào khác tại bất kỳ cơ quan, tổ chức công hay tư, trong các lực lượng vũ trang hay cảnh sát. Nếu đã giữ các chức vụ như vậy trước khi được bầu làm Nghị sĩ thì phải chính thức từ nhiệm các chức vụ đó trước khi thực hiện nhiệm vụ Nghị sĩ và việc từ chối từ nhiệm sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.

2. Các Nghị sĩ được trả lương từ Ngân khố quốc gia.

3. Các Nghị sĩ, trước khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, sẽ phải tuyên thệ trước mỗi Viện: “Tôi long trọng tuyên thệ thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách mẫn cán và tận tâm, để bảo vệ chủ quyền và các lợi ích của nhân dân và đất nước; làm mọi việc trong thẩm quyền của mình vì sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc của nhân dân; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc từ chối tuyên thệ sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.

4. Nghị sĩ sẽ không phải chịu trách nhiệm bên ngoài nghị viện về ý kiến chính thức đã nêu hoặc về việc bỏ phiếu của mình tại Nghị viện.

5. Không Nghị sĩ nào có thể bị bắt hoặc giam giữ mà không được sự đồng ý của với đa số 2/3 của các Nghị sĩ của Nghị Viện mà Nghị sĩ đó là thành viên, ngoại trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Điều 39. Tính liêm chính và tránh xung đột lợi ích của Nghị sĩ

1. Nghị sĩ có nghĩa vụ duy trì chuẩn mực cao về liêm chính, phải ưu tiên lợi ích quốc gia và thực hiện các nhiệm vụ của mình phù hợp với lương tâm.

2. Nghị sĩ không được lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình, không được đòi hỏi các lợi ích về tài sản hay địa vị, hoặc giúp người khác thu lợi, thông qua thông đồng hay sự sắp xếp của nhà nước, các tổ chức công quyền hay các ngành công nghiệp.

3. Nghị sĩ phải khai báo tài sản của mình theo luật định.

4. Nghị sĩ, vợ hay chồng của Nghị sĩ, cũng như các doanh nghiệp do họ sở hữu hay chiếm quyền chi phối, không thể tham dự các cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền và các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu hay chiếm quyền chi phối.

Điều 40. Tổ chức Hạ viện

1. Mỗi Hạ nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Hạ viện.

2. Mọi quyết định của Hạ viện được coi là được thông qua nếu được đa số phiếu, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.

3. Hạ viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.

4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Hạ viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Hạ viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.

5. Hạ viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể thể lập ra Văn phòng Hạ viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời

Điều 41. Tổ chức Thượng viện

1. Mỗi Thượng nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Thượng Nghị Viện.

2. Mọi quyết định của Thượng viện sẽ coi là được thông qua nếu được đa số phiếu tán thành, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.

3. Thượng Nghị Viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.

4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Thượng Nghị Viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Thượng Nghị Viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.

5. Thượng Nghị Viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể thể lập ra Văn phòng Thượng viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời.

Điều 42. Họp Hạ viện, Thượng viện và Quốc hội

1. Trừ trường hợp Hiến pháp hay luật quy định khác, cuộc họp của Hạ viện (hay Thượng viện) là hợp lệ nếu có mặt của đa số trong tổng số Hạ nghị sĩ (hay Thượng nghị sĩ), quyết định hợp lệ được thông qua với đa số phiếu hiện diện.

2. Họp Quốc hội là phiên họp chung của Hạ viện và Thượng viện do Chủ tịch Hạ viện chủ tọa hay Chủ tịch Thượng viện chủ tọa khi Chủ tịch Hạ viện vắng mặt. Quốc hội ban hành quy chế về thủ tục, thể thức họp Quốc hội. Các quyết định của Quốc hội là các quyết định được đưa ra tại các phiên họp chung này.

3. Các cuộc họp của Hạ viện, Thượng viện, Quốc hội được mở công khai cho công chúng, trừ khi đa số thành viên có mặt quyết định, hoặc khi Chủ tịch xét thấy cần thiết vì lợi ích an ninh quốc gia thì công chúng không thể tham dự.

4. Việc công bố công khai các thủ tục của kỳ họp kín sẽ được luật quy định.

5. Biên bản cuộc họp phải đầy đủ, chi tiết, ghi rõ ý kiến và số phiếu biểu quyết của từng Nghị sĩ. Có thể đồng thời ghi âm, ghi hình cuộc họp để lưu trữ. Mọi công dân đều có quyền tiếp cận biên bản của các cuộc họp mở công khai, theo thủ tục do luật định.

Điều 43. Quyền trình dự án luật

1. Các Nghị sĩ, cơ quan hành pháp có thể đệ trình dự án luật.

2. Một nhóm ít nhất 30.000 cử tri có quyền trình dự án luật. Thủ tục về việc này do luật quy định.

3. Dự án luật phải được nộp cho Văn phòng Hạ viện

4. Người, hay nhóm công dân bảo trợ dự án luật, khi đệ trình dự án luật cho Hạ viện, có trách nhiệm giải trình rõ các hệ quả về tài chính của việc thực thi dự án luật.

5. Người, nhóm người hay cơ quan trình dự án luật có thể rút lại dự án luật trong quá trình thẩm định và xem xét thông qua.

Điều 44. Thẩm định, thảo luận, thông qua dự luật

1. Dự án luật, dự thảo luật đã được đệ trình lên Hạ viện được gọi chung là dự luật. Dự luật phải trải qua các khâu thẩm định theo quy định của luật.

2. Hạ viện thảo luận, xem xét dự luật và biểu quyết thông qua với đa số phiếu hiện diện hay bác bỏ. Trong mọi trường hợp nghị quyết thông qua hay bác bỏ, trong vòng 3 ngày dự luật cùng hồ sơ bác bỏ hay thông qua đều phải chuyển sang Văn phòng Thượng viện.

3. Nếu Hạ viện đã thông qua dự luật thì dự luật được Thượng viện xem xét và dự luật được Thượng viện thông qua nếu đạt đa số phiếu hiện diện chấp thuận. Trong trường hợp đó dự luật đã được Quốc hội (cả 2 viện) thông qua.

4. Nếu Thượng viện bác bỏ thì trong vòng 3 ngày dự luật phải được chuyển lại cho Hạ viện cùng với nghị quyết nêu rõ lý do bác bỏ. Hạ viện sẽ xem xét lại và nếu dự luật được Hạ viện thông qua lần nữa với đa số 2/3 của các Hạ nghị sĩ thì dự luật được coi là đã được Quốc hội thông qua, nếu không đạt đa số 2/3 thì vẫn phải chuyển qua Thượng viện xem xét.

5. Trong trường hợp đặc biệt, nếu xét thấy cần, Hạ viện có thể yêu cầu Thượng viện xem xét và biểu quyết trước một dự luật, sau đó Hạ viện mới xem xét và biểu quyết. Khi đó vai trò của mỗi Viện thay thế cho nhau trong quy trình nêu trên.

6. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Thượng viện không được quá một nửa (1/2) thời gian xem xét và biểu quyết tại Hạ viện. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Hạ viện không được quá hai lần thời gian xem xét và biểu quyết tại Thượng viện.

7. Dự án luật không thể bị loại bỏ vì không được thông qua trong kỳ họp mà nó được trình ra, ngoại trừ trong trường hợp nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đã hết.

Điều 45. Dự luật trở thành luật

1. Dự luật đã được Quốc hội thông qua phải được gửi đến Tổng thống trong vòng 7 ngày.

2. Sau khi nhận được dự luật đã được Quốc hội thông qua, Tổng thống có thể chuyển dự luật cho Tòa án Hiến pháp để xét xem có phù hợp với Hiến pháp hay không. Trong trường hợp Tòa án Hiến Pháp xác minh dự luật phù hợp với Hiến pháp, nó trở thành luật. Trong trường hợp dự luật có các điều khoản cụ thể được Tòa án Hiến pháp cho là không hợp hiến và Tòa án Hiến pháp không xác định các điều khoản đó là không thể tách rời toàn bộ dự luật, thì Tổng Thống có thể loại bỏ các điều khoản được cho là vi hiến đó sau khi đã tham vấn ý kiến của Chủ tịch Hạ viện và dự luật trở thành luật với sự loại bỏ đó.

3. Trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được dự luật từ Quốc hội, nếu Tổng thống chấp thuận thì dự luật trở thành luật.

4. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, thì trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được từ Quốc hội, Tổng thống phải gửi trả lại Quốc hội xem xét lại dự luật với giải thích bằng văn bản sự phản đối, nhưng không được yêu cầu Quốc hội xem xét lại từng phần của dự luật hay đưa ra đề xuất sửa đổi.

5. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, nhưng quá thời hạn 15 ngày kể trên mà Tổng thống không trả lại dự luật cho Quốc hội, thì dự luật tự động trở thành luật.

6. Trong trường hợp Tổng thống trả dự luật lại cho Quốc hội, Quốc hội phải xem xét lại dự luật, sau đó: (a) sửa đổi theo trình tự thông thường, hoặc (b) thông qua văn bản gốc của dự luật với đa số 2/3 của các đại biểu có mặt, trường hợp này thì dự luật trở thành luật.

Điều 46. Công bố luật

1. Khi dự luật đã trở thành luật, Tổng thống phải công bố luật không chậm trễ.

2. Trong trường hợp dự luật tự động trở thành luật (theo Khoản 5 Điều 45) hay trở thành luật theo (b) Khoản 6 Điều 45, thì Tổng Thống cũng phải ký công bố không chậm trễ; nếu Tổng Thống vẫn không công bố thì Chủ tịch Hạ viện ký công bố và hành vi này của Tổng Thống có thể trở thành căn cứ cho việc luận tội vi phạm Hiến pháp.

3. Luật được công bố trên Công báo và có hiệu lực vào ngày do luật định hoặc 30 ngày sau ngày ký công bố nếu luật không định rõ ngày có hiệu lực.

Điều 47. Ngân sách

1. Không một khoản tiền nào từ ngân sách nhà nước được chi, cho dù Cơ quan Hành pháp có yêu cầu, nếu chưa được Quốc hội thông qua.

2. Hành pháp sẽ soạn thảo dự luật ngân sách cho mỗi năm tài chính và đệ trình Hạ viện ít nhất 90 ngày trước ngày khởi đầu của năm tài chính mới.

3. Quốc hội không tăng số tiền của bất kỳ khoản chi nào, không tạo ra bất kỳ mục chi mới nào trong dự luật ngân sách nếu không có sự đồng ý của Cơ quan Hành pháp.

4. Hạ viện quyết định về dự luật ngân sách trong vòng 45 ngày kể từ ngày dự luật ngân sách được đệ trình và chuyển cho Thượng viện.

5. Thượng viện quyết định về dự luật ngân sách đã được Hạ viện chuyển qua trong vòng 20 ngày.

6. Nếu dự luật ngân sách không được thông qua trước khi bắt đầu năm tài chính mới, Cơ quan Hành pháp có thể giải ngân, theo cách phù hợp với ngân sách của năm tài chính trước, cho các mục đích sau đây cho đến khi dự luật ngân sách được Quốc hội thông qua: (a) cho việc duy trì hoạt động của các cơ quan được thành lập theo Hiến pháp hay luật; (b) cho việc thực hiện các khoản chi bắt buộc theo quy định của pháp luật; và (c) cho việc tiếp tục các dự án trước đó đã được phê duyệt trong ngân sách.

7. Hạ viện và Thượng viện có thể có phiên họp chung để xem xét và quyết định về ngân sách khi thấy cần thiết.

Điều 48. Kiểm toán thu chi ngân sách

Báo cáo tài chính cuối cùng về thu chi ngân sách quốc gia sẽ được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán hàng năm và trình cho Quốc hội.

Điều 49. Thuế

Các loại và mức thuế được xác định bằng luật.

Điều 50. Nợ

Mọi kế hoạch của Cơ quan Hành pháp về phát hành trái phiếu quốc gia và ký kết hợp đồng mà có thể phát sinh nghĩa vụ tài chính ngoài ngân sách của Nhà nước đều phải được Hạ viện phê chuẩn.

Điều 51. Chất vấn

1. Hạ nghị sĩ có quyền chất vấn các Bộ trưởng bằng văn bản hoặc bằng các câu hỏi trực tiếp tại các phiên họp của Hạ viện.

2. Chất vấn bằng văn bản phải được trả lời bằng văn bản trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn.

3. Các Bộ trưởng có trách nhiệm trả lời các câu hỏi được nêu ra trong mỗi phiên họp của Hạ viện.

Điều 52. Điều trần

1. Để phục vụ cho hoạt động lập pháp, các ủy ban của Hạ viện và Thượng viện có thể tổ chức các cuộc điều trần để nghe những người có liên quan giải thích, làm rõ những vấn đề nhất định nhằm tạo cơ sở cho các quyết định lập pháp và giám sát của Quốc hội.

2. Những người được mời điều trần trước các ủy ban có thể là các Nghị sĩ, các quan chức chính phủ, lãnh đạo các tổ chức dân sự, công đoàn, các doanh nhân, chuyên gia, học giả, nhà khoa học...

3. Để chọn ra các quan chức có chất lượng, tất cả các ứng viên tiềm năng vào các chức Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ tịch hay lãnh đạo của các cơ quan hiến định đều phải điều trần trước khi được bổ nhiệm và phê chuẩn

4. Thủ tục mời và tiến hành điều trần do luật định.

5. Biên bản các cuộc điều trần được công bố công khai, trừ các cuộc điều trần liên quan đến an ninh quốc gia, và được lưu trữ theo luật định.

Điều 53. Trưng cầu dân ý toàn quốc

1. Cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có thể được tổ chức về những vấn đề đặc biệt quan trọng đối với nhân dân và quốc gia.

2. Hạ viện có thể quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Tổng thống với sự chấp thuận của Thượng viện có quyền quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Khi có yêu cầu của trên 500 ngàn cử tri thì phải tổ chức trưng cầu dân ý.

3. Kết quả của cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có tính bắt buộc nếu có hơn ½ số người có quyền bầu cử tham gia cuộc trưng cầu dân ý.

4. Các nguyên tắc và thủ tục tổ chức cuộc trưng cầu dân ý do luật định

Điều 54. Giám sát, điều tra và bãi nhiệm

1. Hạ viện có thể giám sát công việc của nhà nước hoặc điều tra những vấn đề cụ thể của công vụ nhà nước, có quyền yêu cầu đệ trình các tài liệu trực tiếp liên quan đến các vấn đề đó, yêu cầu nhân chứng cung cấp lời khai hoặc báo cáo.

2. Dựa trên kết quả giám sát, điều tra, chất vấn và điều trần, Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Bộ trưởng.

3. Các thủ tục và các vấn đề liên quan đến giám sát và điều tra hành chính nhà nước được luật quy định.

Điều 55. Phế truất Tổng thống

1. Quyết định truy tố Tổng thống về việc vi phạm Hiến pháp hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng phải được Hạ viện thông qua bằng nghị quyết với ít nhất đa số 2/3 tổng số thành viên Hạ viện, trên cơ sở đề nghị của ít nhất 60 Hạ nghị sĩ.

2. Quyết định truy tố Tổng thống được xét xử bởi Thượng viện.

3. Từ ngày có quyết định truy tố, Tổng thống bị tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời đảm nhiệm chức vụ quyền Tổng thống. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống vô tội thì việc tạm đình chỉ nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống có tội thì Tổng thống bị phế truất.

Điều 56. Phê chuẩn điều ước quốc tế

1. Quốc hội có quyền đồng ý ký kết và phê chuẩn các điều ước quốc tế liên quan đến an ninh; các điều ước quốc tế liên quan đến các tổ chức quốc tế quan trọng; các điều ước hữu nghị, thương mại và hàng hải; các điều ước quốc tế liên quan đến bất kỳ hạn chế nào về chủ quyền; các điều ước hòa bình; các điều ước quốc tế phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng đối với Nhà nước hoặc nhân dân; và các điều ước quốc tế liên quan đến lập pháp.

2. Đại diện có thẩm quyền và được ủy quyền để ký các điều ước quốc tế chỉ được ký điều ước sau khi đã được sự đồng ý của Quốc hội.

3. Sau khi được Quốc hội phê chuẩn, Tổng thống ký công bố điều ước quốc tế và điều ước có hiệu lực.

Điều 57. Tuyên bố tình trạng chiến tranh

1. Quốc hội có quyền nhân danh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố tình trạng chiến tranh và ký kết hiệp ước hòa bình.

2. Quốc hội chỉ có thể thông qua nghị quyết về tình trạng chiến tranh trong trường hợp có sự xâm lược quân sự đối với lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời gian Quốc hội không họp, Tổng thống có thể tuyên bố tình trạng chiến tranh.

CHƯƠNG IV. HÀNH PHÁP

Điều 58. Quyền hành pháp

1. Quyền hành pháp được nhân dân ủy quyền cho Tổng thống.

2. Tổng thống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nguyên thủ quốc gia và bảo đảm cho sự liên tục của cơ quan nhà nước.

3. Tổng thống có trách nhiệm bảo đảm việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia cũng như sự bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

4. Tổng thống thực hiện nhiệm vụ của mình trong phạm vi và theo các nguyên tắc do Hiến pháp và luật quy định.

Điều 59. Bầu Tổng thống và Phó Tổng thống

1. Tổng thống và Phó Tổng thống cùng đứng chung một liên danh, do cử tri bầu ra trong cuộc bầu cử phổ thông, bình đẳng và trực tiếp bằng phiếu kín.

2. Công dân Việt Nam đủ 35 tuổi, tính đến ngày bầu cử, và có quyền bầu cử Quốc hội, có thể là ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống. Ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống, với tư cách một liên danh chung, phải có được chữ ký ủng hộ của ít nhất 100 ngàn công dân có quyền bầu cử Quốc hội.

3. Liên danh nhận được hơn 1/2 tổng số phiếu bầu hợp lệ sẽ trúng cử chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống.

4. Nếu không liên danh nào nhận được đa số phiếu, thì sẽ tổ chức lại việc bỏ phiếu giữa 2 liên danh đạt số phiếu cao nhất vào ngày thứ 14 sau ngày bỏ phiếu lần thứ nhất.

5. Nếu một trong hai liên danh tham gia vòng bầu thứ hai đồng ý rút khỏi danh sách, một trong hai người trong liên danh mất quyền bầu cử hoặc chết, thì liên danh đạt phiếu cao kế tiếp trong lần bầu thứ nhất sẽ thay thế liên danh đó. Trong trường hợp này, ngày bỏ phiếu sẽ được gia hạn thêm 14 ngày.

6. Liên danh nhận được số phiếu bầu cao hơn trong lần bỏ phiếu lần thứ hai sẽ là những người được bầu làm Tổng thống và Phó Tổng thống.

7. Các nguyên tắc và thủ tục đề cử ứng cử viên Tổng thống, Phó Tổng thống cách thức tiến hành bầu cử cũng như những yêu cầu về tính hợp lệ của cuộc bầu cử Tổng thống sẽ do luật quy định.

8. Chủ Tịch Hạ viện ra quyết định tổ chức cuộc bầu cử Tổng thống không trước 120 ngày và không sau 100 ngày tính đến ngày hết nhiệm kỳ Tổng thống; trong trường hợp khuyết Tổng thống, không muộn hơn 14 ngày kể từ thời điểm bị khuyết. Quyết định tổ chức bầu cử phải quy định rõ ngày bầu cử sẽ là một ngày nghỉ trong khoảng thời gian giữa 60 đến 67 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Điều 60. Tuyên thệ nhậm chức và nhiệm kỳ Tổng thống

1. Tại lễ nhậm chức trước Quốc hội, Tổng thống sẽ tuyên thệ như sau: “Tôi trịnh trọng tuyên thệ trước nhân dân rằng sẽ trung thành thực thi các nghĩa vụ của Tổng thống bằng việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ quốc gia, thúc đẩy tự do và thịnh vượng của nhân dân, nỗ lực bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc”.

2. Tổng thống và Phó Tổng thống có nhiệm kỳ 5 năm tính từ ngày nhậm chức. Một người không thể làm Tổng thống quá hai nhiệm kỳ.

Điều 61. Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ trước thời hạn

1. Nhiệm vụ của Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những trường hợp sau: (a) Tổng thống chết; (b) Tổng thống từ chức; (c) Tổng thống bị truất quyền; và (d) do bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài, Tổng thống không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực, trong trường hợp (d), phải được Quốc hội xác nhận với đa số 3/4 tổng số Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ, sau các cuộc giám định y khoa.

2. Trong trường hợp Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ, Phó Tổng thống sẽ đảm nhận chức Tổng thống trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ.

3. Trong trường hợp khuyết Phó Tổng thống, Thượng viện bầu Phó Tổng thống mới theo đề nghị của Tổng thống.

4. Trường hợp đồng thời khuyết cả Tổng thống và Phó Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời làm quyền Tổng thống cho đến khi Quốc hội bầu ra Tổng thống và Phó Tổng thống mới, theo phương thức đa số, cho thời gian còn lại của nhiệm kỳ.

Điều 62. Thẩm quyền của Tổng thống

Tổng thống có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Hoạch định chính sách quốc gia;

2. Ký ban hành các đạo luật;

3. Ký các điều ước quốc tế, sau khi được Quốc hội phê chuẩn ký ban hành các điều ước quốc tế;

4. Bổ nhiệm các đại sứ với sự phê chuẩn của Thượng viện;

5. Tiếp nhận quốc thư, đón nhận các phái đoàn ngoại giao;

6. Tổ chức các cơ quan hành pháp theo quy định của luật;

7. Chỉ đạo hoạt động của các cơ quan hành pháp;

8. Bổ nhiệm các Bộ trưởng với sự chấp thuận của Quốc hội;

9. Bãi nhiệm các Bộ Trưởng;

10. Tổ chức các Hội đồng tư vấn;

11. Quyết định các vấn đề được luật quy định về đặc xá, giảm án, phục hồi các quyền và đại xá;

12. Trao các tước vị và danh hiệu theo các điều kiện luật định;

13. Trao quốc tịch Việt Nam;

14. Các quyền khác theo luật định.

Điều 63. Thống lĩnh tối cao các lực lượng vũ trang

1. Tổng thống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Thống lĩnh tối cao của các lực lượng vũ trang Việt Nam.

2. Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thống phong cấp bậc quân hàm quân đội theo quy định của luật.

3. Thẩm quyền của Tổng thống về quyền thống lĩnh tối cao đối với các lực lượng vũ trang sẽ được quy định cụ thể trong luật.

Điều 64. Thủ tướng và các thành viên Chính phủ

1. Thủ tướng và các Bộ trưởng là các thành viên Chính phủ, được Tổng thống bổ nhiệm và Quốc hội phê chuẩn.

2. Thủ tướng có trách nhiệm hỗ trợ Tổng thống và điều hành các Bộ theo chỉ đạo của Tổng thống.

3. Không ai trong quân đội có thể được bổ nhiệm làm Thủ tướng trừ khi đã giải nhiệm.

4. Cơ quan công tố thuộc Bộ Tư pháp.

CHƯƠNG V. TƯ PHÁP

Điều 65. Hoạt động tư pháp

1. Quyền lực tư pháp được trao cho các tòa án, gồm các thẩm phán có trình độ chuyên môn theo luật định.

2. Các tòa án gồm: Tòa án Tối cao, tòa án các cấp khác và Tòa án Hiến pháp.

Điều 66. Tổ chức Tòa án Tối cao

1. Trong Tòa án Tối cao có Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.

2. Trong Tòa án Tối cao có thể thành lập các tòa chuyên trách.

3. Việc tổ chức Tòa án Tối cao, các tòa án chuyên trách và các tòa án khác theo luật định.

Điều 67. Thẩm phán Toà án Tối cao

1. Chánh án Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội.

2. Các Thẩm phán Tòa án Tối cao do Tổng thống bổ nhiệm theo đề xuất của Chánh án Tòa án Tối cao và với sự đồng ý của Quốc hội.

3. Các thẩm phán khác do Chánh án Tòa án Tối cao bổ nhiệm với sự đồng ý của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Điều 68. Nhiệm kỳ thẩm phán Toà án Tối cao

1. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án Tối cao là 6 năm và không thể được tái bổ nhiệm.

2. Nhiệm kỳ của thẩm phán của Tòa án Tối cao là 6 năm và họ có thể được tái bổ nhiệm theo quy định của luật.

3. Nhiệm kỳ của các thẩm phán ngoài Chánh án và Thẩm phán của Tòa án Tối cao là 10 năm, họ có thể được tái bổ nhiệm theo các điều kiện luật định.

4. Tuổi về hưu của các thẩm phán được luật quy định.

Điều 69. Tòa án Hiến pháp

Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền xét xử đối với các vấn đề sau đây:

1. Sự phù hợp của luật và điều ước quốc tế với Hiến pháp;

2. Sự phù hợp của các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành với Hiến pháp;

3. Sự phù hợp của mục tiêu, hoạt động của các đảng chính trị với Hiến pháp;

4. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với chính quyền địa phương và giữa các chính quyền địa phương;

5. Khiếu nại của những người cho rằng các quyền hiến định của họ đã bị xâm phạm bởi một đạo luật hay văn bản pháp luật khác trái với Hiến pháp.

Điều 70. Tổ chức Tòa án Hiến pháp

1. Tòa án Hiến pháp gồm 15 thẩm phán được Quốc hội bầu chọn trong số những người có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp có nhiệm kỳ 9 năm và không thể được bầu chọn nhiều hơn một nhiệm kỳ.

2. Chánh án và Phó Chánh án Tòa án Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm trong số các ứng cử viên do Hội đồng thẩm phán Tòa án Hiến pháp giới thiệu

3. Tổ chức và hoạt động của Tòa án Hiến pháp được quy định trong một đạo luật.

Điều 71. Nguyên tắc độc lập

Thẩm phán các tòa án phải xét xử độc lập theo lương tâm, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Thẩm phán không được tham gia các đảng chính trị.

CHƯƠNG VI. CÁC CƠ QUAN HIẾN ĐỊNH ĐỘC LẬP

Điều 72. Các cơ quan hiến định độc lập

Các cơ quan hiến định độc lập, không phải là các cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp, bao gồm Ngân hàng Trung ương, Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban Bầu cử, Ủy ban Nhân quyền và Hội đồng Hoà giải Dân tộc.

Điều 73. Ngân hàng Trung ương

1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ngân hàng Trung ương của Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa

2. Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được quy định bởi một đạo luật.

Điều 74. Kiểm toán Nhà nước

1. Kiểm toán Nhà nước hoạt động theo các nguyên tắc nghề nghiệp.

2. Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các pháp nhân và tổ chức nhà nước về tính hợp pháp, tính kinh tế, hiệu quả và sự mẫn cán.

3. Kiểm toán Nhà nước trực thuộc Hạ viện và có trách nhiệm trình Hạ viện: các báo cáo phân tích việc thực hiện ngân sách và các mục tiêu của chính sách tiền tệ; ý kiến liên quan đến việc chấp thuận quyết toán ngân sách; thông tin về kết quả kiểm toán, kết luận kiểm toán và kiến nghị theo quy định của luật.

4. Chủ tịch Kiểm toán Nhà nước không được tham gia đảng chính trị hay bất cứ hoạt động công vụ nào khác không phù hợp với chức trách của mình.

5. Tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước được quy định bằng một đạo luật.

Điều 75. Ủy Ban Bầu cử

1. Các Ủy ban Bầu cử được thiết lập với mục đích điều hành công bằng các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý toàn quốc, xử lý các vấn đề hành chính liên quan đến các chính đảng.

2. Ủy ban Bầu cử Trung ương gồm 3 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, 3 thành viên do Quốc hội lựa chọn và 3 thành viên do Chánh án Tòa án Tối cao lựa chọn. Các thành viên của Ủy ban thành viên bầu ra một Chủ tịch.

3. Nhiệm kỳ của thành viên Ủy ban là 6 năm.

4. Các thành viên Ủy ban không thể tham gia các đảng chính trị hoặc các hoạt động chính trị.

5. Các chiến dịch tranh cử được thực hiện dưới sự điều hành của Ủy ban Bầu cử mỗi cấp trong phạm vi luật định với nguyên tắc bảo đảm cơ hội bình đẳng cho các ứng cử viên.

6. Tổ chức, chức năng và các vấn đề quan trọng khác của Ủy ban Bầu cử Trung ương và Ủy ban Bầu cử các cấp sẽ do luật quy định

Điều 76. Ủy ban Nhân quyền

1. Ủy ban Nhân quyền là một cơ quan độc lập, có vai trò thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 và trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ủy ban Nhân quyền do Hạ viện thành lập với sự đồng thuận của Thượng viện, gồm 9 thành viên, có sự tham gia của đại diện nhiều thành phần xã hội.

2. Ủy ban Nhân quyền có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a. Giáo dục và nâng cao nhận thức của công chúng, công chức và viên chức về quyền con người;

b. Tư vấn cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội về các vấn đề liên quan đến quyền con người;

c. Nghiên cứu, đề xuất việc gia nhập các điều ước quốc tế về quyền con người;

d. Nhận các khiếu nại về các vi phạm các quyền được quy định tại tại Hiến pháp này hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

3. Thành viên Ủy ban Nhân quyền không giữ bất kỳ chức vụ nào khác, trừ chức vụ giảng viên đại học, cũng không thực hiện bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào khác. Các thành viên cũng không được tham gia đảng chính trị nào, không thực hiện các nhiệm vụ công không phù hợp với chức trách của mình.

4. Phương thức tổ chức và hoạt động của Ủy ban Nhân quyền sẽ được quy định bởi một đạo luật.

Điều 77. Hội đồng Hoà giải Dân tộc

1. Hội đồng Hoà giải Dân tộc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hận, hướng đến việc khắc phục các sai lầm trong quá khứ, nhằm mang lại công bằng, đoàn kết dân tộc, phát huy các năng lực của người Việt Nam trên toàn thế giới.

2. Hội đồng Hoà giải Dân tộc gồm 19 thành viên do Hạ viện bổ nhiệm với sự đồng thuận của Thượng viện. Năm (5) thành viên đến từ mỗi khu vực miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam và bốn (4) thành viên thuộc cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

3. Hội đồng Hoà giải Dân tộc có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a. Nghiên cứu, xác định lại giá trị pháp lý của các luật, điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trong quá khứ ban hành, ký kết trái thẩm quyền hoặc gây hại nghiêm trọng cho quốc dân. Đề xuất với Quốc hội các giải pháp khắc phục các sai lầm quá khứ.

b. Tập hợp thông tin, đề nghị trả tự do, tổ chức việc đối thoại, xin lỗi, bồi thường cho những người đã từng bị xử phạt, điều tra, truy tố, xét xử oan, chỉ vì lý do họ đã có những hành động nhằm thúc đẩy dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, nhằm bảo vệ các quyền con người, hoặc chỉ để thực thi các quyền tự do của mình.

c. Nghiên cứu, trình Quốc hội các chính sách, dự án luật có thể khắc phục những sai lầm khác của các chế độ trong quá khứ nhằm hoà giải và hòa hợp dân tộc.

4. Hội đồng Hoà giải Dân tộc sẽ được Hạ viện giải tán sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ.

CHƯƠNG VII. TỰ QUẢN ĐỊA PHƯƠNG

Điều 78. Chính quyền địa phương

1. Chính quyền địa phương thực hiện các công vụ địa phương, tức là các công vụ không được quy định trong Hiến pháp và trong các đạo luật về các cơ quan khác của Nhà nước. Các công vụ địa phương do nhân dân của địa phương đó tự đề ra. Chính quyền địa phương giải quyết các vấn đề hành chính liên quan đến an sinh của dân cư địa phương, quản lý tài sản và có thể đề ra các quy định liên quan đến tự chủ địa phương trong phạm vi luật định.

2. Chính quyền địa phương ở mỗi cấp có thể có một hội đồng và bộ máy hành chính nhà nước cấp địa phương.

3. Hội đồng địa phương do dân địa phương bầu và có quyền quy định về các công vụ địa phương.

4. Trong địa phương mình, bộ máy hành chính thực thi các công vụ được quy định trong Hiến pháp, luật và các công vụ địa phương. Người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương do nhân dân địa phương đó trực tiếp bầu ra.

5. Xã là đơn vị cơ sở của chính quyền địa phương, nơi dân chủ trực tiếp được thực hiện ở mức cao nhất trong các cấp chính quyền.

6. Chính quyền đô thị được luật quy định.

7. Các loại chính quyền địa phương do luật định

Điều 79. Tổ chức Chính quyền địa phương

Việc tổ chức và thẩm quyền của chính quyền địa phương, thủ tục bầu các thành viên hội đồng (nếu có) và người đứng đầu chính quyền địa phương và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương sẽ do luật định theo nguyên tắc chính quyền cấp càng thấp thì việc áp dụng dân chủ trực tiếp càng cao.

CHƯƠNG VIII. SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Điều 80. Thủ tục sửa đổi Hiến pháp

1. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp có thể được trình bởi các chủ thể sau: ít nhất 1/5 số Hạ nghị sĩ theo luật định, Thượng nghị viện, hoặc Tổng thống.

2. Nếu Tổng thống trình dự luật sửa đổi Hiến pháp thì dự luật không được thay đổi các điều khoản liên quan đến Tổng thống trong Hiến pháp hiện hành

3. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được thực hiện bởi một đạo luật được Hạ viện thông qua và sau đó được Thượng viện thông qua với cùng nội dung trong thời hạn 60 ngày.

4. Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Hạ viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Hạ nghị sĩ theo luật định; Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Thượng Nghị Viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Thượng nghị sĩ theo luật định.

5. Trong vòng 60 ngày kể từ khi Dự luật sửa đổi Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua phải tổ chức trưng cầu dân ý để nhân dân phúc quyết.

CHƯƠNG IX. ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN ĐỔI

Điều 81. Hiệu lực Hiến pháp và quy định chuyển đổi

1. Hiến pháp này có hiệu lực sau 100 ngày kể từ ngày được nhân dân phúc quyết thông qua.

2. Trong vòng 100 ngày sau khi Hiến pháp có hiệu lực, Quốc hội hiện hành (đã thông qua Hiến pháp) phải căn cứ vào đó ban hành các luật mới về bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng thống. Các cuộc bầu cử Hạ viện, Thượng viện và Tổng thống đầu tiên được tổ chức theo quy định của các luật đó trong vòng 180 ngày từ khi luật có hiệu lực.

3. Chính phủ, trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, phải rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành, đệ trình để Quốc hội sửa đổi các quy định trái với Hiến pháp và ban hành các luật mới nhằm thực thi Hiến pháp.

4. Trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, pháp luật đang có hiệu lực vào thời điểm Hiến pháp được Quốc hội thông qua vẫn còn giá trị. Sau thời hạn 2 năm này, tất cả các quy định trái với Hiến pháp này đều trở nên vô hiệu, các quy định khác vẫn còn giá trị.

[*] Theo tinh thần đó, một số chuyên gia luật ở trong nước đã soạn một dự thảo hiến pháp được gửi kèm Kiến nghị này như một tài liệu để tham khảo và thảo luận.

Admin gửi hôm Thứ Ba, 22/01/2013
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Khai sáng dân trí - lối thoát cho phong trào dân chủ Việt Nam ?

Bắc Kinh học làm siêu cường

Người có học

Nhân một năm gặp “tai họa nghề nghiệp” vì vụ PMU18

Tqvn2004 - Xã hội của những người ăn sẵn


Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 06:34, 24/01/2013 - mã số 77453

@ Bác Đỗ Xuân Thọ: nhờ bác hỏi giùm, tôi đăng ký hôm qua mà chưa thấy tên. Nội dung: Nguyễn Ngọc (blogger Nguyễn Ngọc Già) xin đăng ký tên đồng thuận vào dự thảo HP của 72 người VN trong và ngoài nước. cám ơn bác.

@ bác KQĐ; tùy bác thôi, nếu bác vẫn đòi sự cầu toàn 100%. Điều 11 coi như là thỏa hiệp tốt đẹp cho mọi phía. Đâu có gì trọn vẹn 100% theo ý bác được. Cũng như BTC của Huy Đức, làm sao có thể hài lòng hết được.

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 06:07, 24/01/2013 - mã số 77452

Danh sách những người đã ký tên vào bản kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp 2013 đợt 3 đây bà con ơi

Đợt 3:

353. Ngô Văn Phương, huynh trưởng hướng đạo, Đại biểu Hội đồng nhân dân TP HCM khóa 4, TP HCM

354. Nguyễn Hữu Phước, nhà báo, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục Miền Nam, TP HCM

355. Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn TP HCM, nguyên Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty du lịch Sài Gòn (Saigontourist), TP HCM

356. Nguyễn Thị Kim Chi, nghệ sĩ ưu tú, Hà Nội

357. Nguyễn Thiện Nhân, nhân viên, Bình Dương

358. Nguyễn Thành Tiến, sinh viên, Hải Phòng

359. Dương Văn Tú, dược sĩ, giảng viên Trường Đại học Dược, Hà Nội

360. Trương Thị Lan Yến, dược sĩ, TP HCM

361. Đỗ Anh Tuấn, kinh doanh, Vĩnh Phúc

362. Phạm Ngọc Cảnh Nam, nhà văn, Đà Nẵng

363. Trương Quốc Dũng, kỹ sư, TP HCM

364. Nguyễn Quốc Lập, kỹ sư, Hà Nội

365. Võ Thanh Hà, giáo viên, Hà Nội

366. Giuse Nguyễn Công Bắc, linh mục Giáo phận Vinh

367. Hà Văn Thùy, nhà văn, TP HCM

368. Nguyễn Quốc Bình, kỹ sư, TP HCM

369. Nguyễn Xuân Phúc, lao động tự do, Hà Nội

370. Nguyễn Mộng Nhưng, cán bộ nghỉ mất sức lao động, người viết văn không chuyên, Nam Định

371. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư, Thụy Sĩ

372. Nguyễn Khắc Vỹ, cán bộ hưu trí, TP HCM

373. Đặng Danh Ánh, PGS TS, nguyên Trưởng ban Đào tạo, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội

374. Nguyễn Văn Đài, luật sư, Hà Nội

375. Đỗ Như Ly, kỹ sư, hưu trí, TP HCM

376. Nguyễn Văn Thuận, sinh viên, Nam Định

377. Lê Quỳnh Mai, kỹ sư, Hà Nội

378. Nguyễn Tiến Lực, nông dân, Hà Nội

379. Ngô Minh Tín, sinh viên, TP HCM

380. Nguyễn Đình Vinh, thạc sĩ, TP HCM

381. Vũ Xuân Tửu, nhà văn, Tuyên Quang

382. Phạm Thanh Sơn, kinh doanh, Hà Nội

383. Nguyễn Đắc Kiên, nhà báo, Hà Nội

384. Tran Duc Cung, TS hưu trí, TP HCM

385. Nguyễn Ngọc (bloggger Nguyễn Ngọc Già), TP HCM

386. Đào Duy Chữ, TSKH, TP HCM

387. Phạm Lê Vương Các, sinh viên, TP HCM

388. Lê Thị Hồng Hạnh, hưu trí, Hà Nội

389. Vũ Linh, nguyên là giảng viên Đại học Bách khoa, Hà Nội

390. Đinh Trí Nhật Huy, học sinh, TP HCM

391. Nguyễn Đức Vinh, kỹ sư, Hải Phòng

392. Hồ Đức Thanh, nghề tự do, Hà Nội

393. Nguyễn Đức Nhân, công nhân, Hải Phòng

394. Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ công đoàn, đã hưu trí, Đà Lạt

395. Lê Văn Tuynh, Bình Thuận

396. Phạm Minh Cường, quân nhân, Quảng Ninh

397. Trần Thị Hoa, sinh viên, TP HCM

398. Phạm Hùng, hưu trí, Canada

399. Văn Hiền Hạ Sỹ, Hà Nội

400. Văn Phú Mai, cựu giáo viên, Quảng Nam

401. Vũ Văn Lâm, sinh viên, Bạc Liêu

402. Nguyễn Trang Nhung, kỹ sư, TP HCM

403. Nguyễn Hà Trung, Hà Nội

404. Trần Trọng Khánh, sinh viên, Hà Nội

405. Nguyễn Đình Hòa, nhân viên, Quảng Bình

406. Phan Thị Thùy Linh, giáo viên, Cần Thơ

407. Võ hữu Quyền, Khánh Hòa

408. Đỗ Trọng Dương, sinh viên, TP HCM

409. Trần Xuân Huyền, Nghệ An

410. Phạm Việt Hùng, TS, Hàn Quốc

411. Mai Văn Tuất (blogger Văn Ngọc Trà), TP HCM

412. Lê Thanh Tùng, cử nhân, TP HCM

413. Nguyễn Đức Hùng, kỹ sư, cựu chiến binh, Hà Nội

414. Dao Xuan Tuan, Hà Nam

415. Trần Quốc Túy, kỹ sư, đã hưu, Hà Nội

416. Phan Bảo Châu, kỹ sư, đã hưu, Hà Nội

417. Lê Quang Hải, sinh viên, Scotland

418. Nguyễn Việt Triều, kiến trúc sư, Quảng Ngãi

419. Tư Đồ Tuệ, Canada

420. Phạm Quỳnh Hương, Hà Nội

421. Nguyễn Văn Vương, nhân viên, TP HCM

422. Vũ Nhật Khải, PGS TS, nguyên Vụ trưởng Vụ Đào tạo Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

423. Bùi Thị Hội, chuyên viên cao cấp Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội

424. Nguyễn Minh, kỹ sư, TP HCM

425. Đặng Đình Cung, kỹ sư, TS, Pháp

426. Pham Xuan Phuong, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội

427. Vũ Văn Bách, sinh viên, Hà Nội

428. Vũ Văn An, học sinh, Bạc Liêu

429. Trần Việt Thắng, thạc sĩ, Hà Nội

430. Ngô Văn Hải, thợ nguội, cử nhân kế toán, Yên Bái

431. Trương Xuân Trường, lao động tự do, Thái Bình

432. Trinh Hung CPA, thạc sĩ, Australia

433. Đặng Hoàng Hiếu, kỹ sư, Hà Nội

434. Nguyễn Kiều Diễm, Long Biên, Hà Nội

435. Nguyễn Hùng Cường, sinh viên, TP HCM

436. Phạm Thu Thủy, Hà Nội

437. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Chủ tịch Lực lượng Phụng sự lao động (trước 1975), TP HCM

438. Lê Văn Linh, kỹ sư, Nam Định

439. Trần Hưng Thịnh, kỹ sư, đã nghỉ hưu, Hà Nội

440. Nguyễn Thị Chung, hưu trí, TP HCM

441. Lưu Hồng Thắng, Hoa Kỳ

442. Phan Kim Khánh, sinh viên, Thái Nguyên

443. Trần Thị Tuyết Cơ, nội trợ, Hoa Kỳ

444. Nguyễn Đức Dân, GS TS, nguyên Phó Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, TP HCM

445. Mai Phan Việt Hùng, luật sư, TS, TP HCM

446. Đặng Vũ Giang, TS, cán bộ nghiên cứu Viện Toán học, Hà Nội

447. Chí Vĩnh Nguyên, Bình Dương

448. Phạm Văn Lễ, kỹ sư, TP HCM

449. Nguyễn Thị Yến Trang, sinh viên, TP HCM

450. Vũ Văn Hiền, nhà giáo, Hà Nội

451. Nguyễn Hòa, Cao học Hành chánh Sài Gòn, đã nghỉ hưu, Hoa Kỳ

452. Nguyễn Thái Hùng, kỹ sư, Nghệ An

453. Lê Thị Phú, TS, TP HCM

454. Thái Thăng Long, nhà thơ, TP HCM

455. Đinh Minh Hân, nghề nghiệp IT, Bà Rịa Vũng Tàu

456. Phạm Ngọc Minh, Hà Nội

457. Nguyễn Văn Thạnh, chủ nhiệm CLB máu khó đông, Đà Nẵng

458. Lê Hồng Phú, kỹ sư, Hà Nội

459. Lê Tuấn Huy, TS, TP HCM

460. Võ Quê, nhà thơ, Huế

461. Nguyễn Hữu Việt Hưng, GS TSKH, Đại học Quốc gia Hà Nội

462. Nguyễn Đức Độ, kinh doanh tự do, Bắc Ninh

463. Tạ Dzu, Hoa Kỳ

464. Vương Đức Hòa, kĩ sư điện, Hải Dương

465. Lê Thái Dương, nhà báo, TP HCM

466. Thomas Cong, IT Consultant, Hoa Kỳ

467. Lê Xuân Thiêm, kinh doanh, TP HCM

468. Nguyễn Thái Minh, doanh nghiệp, Thái Nguyên

469. Lê Mai, hưu trí, Australia

470. Phạm Kỳ Đăng, làm thơ, dịch thuật, CHLB Đức

471. Trần Đình Thanh Lam, cựu nhà giáo, cựu nhà báo, TP HCM

472. Lưu Anh Tuấn, Ba Lan

473. Nguyễn Hùng Sơn, họa sĩ, Hà Nội

474. Pham Hoang Nam, cử nhân, Bình Phước

475. Lê Văn Điền, TS, Ba Lan

476. Trương Lợi, kỹ sư, TP HCM

477. Đặng Đình Tấn Trương, sinh viên, TP HCM

478. Phùng Liên Đoàn, TS, Chủ tịch Hội nhân đạo Vietnamese American Scholarship Fund (VASF) và Fund for the Encouragement of Self-Reliance (FESR), Hoa Kỳ

479. Hoàng Hồng Sơn, TS, kỹ sư, Pháp

480. Nguyễn Kim Thảo, giảng viên, TP HCM

481. Trần Đức Thạch, Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ An

482. Cao Văn Khánh, sinh viên, Lai Châu

483. Vũ Bùi, kỹ thuật viên, Hoa Kỳ

484. Vũ Văn Quyết, kỹ sư, Vĩnh Phúc

485. Trần Hải Hạc, nguyên PGS trường Đại học Paris 13, Pháp

486. Nguyễn Trung Dân, Giám đốc Chi nhánh Nhà xuất bản Hội Nhà văn tại Miền Nam, TP HCM

487. Nguyễn Ngọc Hùng, sinh viên, Pháp

488. Phạm Đức Long, Hà Nội

489. Lê Minh Hằng, kỹ sư k, Hà Nội

490. Nguyễn Thanh Bình, kỹ sư, Huế

491. Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giám mục Giáo phận Thanh Hóa

492. Phạm Hữu Anh Huy, cử nhân, TP HCM

493. Le Dinh Hong, kế toán, Canada

494. Le Thi Nhan, nội trợ, Canada

495. Hoàng Văn Minh, kỹ sư, Hà Nội

496. Hồ Vĩnh Trực, kỹ thuật viên, TP HCM

497. Nguyễn Văn Hùng, hưu trí, TP HCM

498. Võ Quang Luân, công dân, Hà Nội

499. Nguyễn Tiến Dũng, kinh doanh, Nghệ An

500. Hà Văn Thịnh, Đại học Khoa học Huế

501. Võ Tá Luân, kỹ thuật IT, TP HCM

502. Nguyễn Đức Quyết, kỹ sư, Bắc Ninh

503. Nguyễn Thị Hường, nghiên cứu sinh, Đại học Indiana, Hoa Kỳ

504. Nguyễn Tường Thụy, cựu chiến binh, cử nhân, Hà Nội

505. Nguyễn Ngọc Sơn, cựu chiến binh, kinh doanh, TP HCM

506. Khai Tâm, Nhật Bản

507. Nguyễn Huy Đức, buôn bán nhỏ, Hà Tĩnh

508. Cao Xuân Hưng, TP HCM

509. Phạm Quang Hiếu, họa sĩ, Hà Nội

510. Nguyễn Xuân Thịnh, giáo viên, TP HCM

511. Trần Kiều Hưng, kỹ sư, TP HCM

512. Trần Ngọc Tùng, IT, TP HCM

513. Mai Xuân An, sinh viên, Khánh Hòa

514. Trần Tiến Đức, kỹ sư, nhà báo, đạo diễn truyền hình, đã nghỉ hưu, Hà Nội

515. Trần Minh Thiện, sinh viên, Hà Nội

516. Nguyễn Duy Tư, cử nhân, TP HCM

517. Nguyễn Văn Phúc, kỹ sư, Bình Định

518. Nguyễn Đình Hà, cử nhân, Hà Nội

519. Hiệp-Hoà T. Nguyễn, TS, Giám đốc, Hoa Kỳ

520. Nguyễn Thế Phương, TS, Canada

521. Nguyễn Văn Phúc, kỹ sư, Bình Định

522. Trần Tuấn Lộc, công dân Việt Nam, TP HCM

523. Nguyễn Trọng Đại, giảng viên, Pháp

524. Hồ Quang Huy, kỹ sư, Nha Trang

525. Đinh Nhật Uy, kỹ sư, Long An

526. Nguyễn Thị Kim Liên, nội trợ, Long An

527. Đinh Văn Chuộn, thợ điện 7/7, Long An

528. Trần Trung Vĩnh, nhân viên, Long An

529. Hà Sĩ Phú, tài xế, Long An

530. Đinh Quân, thợ chụp ảnh, Long An

531. Nguyễn Thế Hiệp, bảo vệ siêu thị, Long An

532. Đỗ Văn Thái, kỹ thuật viên, Long An

533. Trịnh Đình Thuận, cử nhân, Hà Nội

534. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ, Pháp

535. Nguyễn Xuân Anh, kỹ sư, Hoa Kỳ

536. Bạch Long Giang, Hà Nội

537. Nguyễn Trọng Nhân, nhiếp ảnh, Tiền Giang

538. Thùy Linh, nhà văn, Hà Nội

539. Lương Hữu Minh, giáo viên, TP HCM

540. Le Van Hiep, sinh viên, TP HCM

541. Thích Nguyên Hùng, nghiên cứu, dịch thuật, giảng dạy Phật pháp, Pháp

542. Khổng Hy Thiêm, kỹ sư, Khánh Hòa

543. Nguyễn Anh Tuấn, kỹ sư, Hà Nội

544. Đặng Hoàng Hậu, chuyên viên, Cần Thơ

545. Nguyễn Ngọc Hưng, IT, Nam Định

546. Võ Công Tường, công dân, Hà Tĩnh

547. Nguyễn Ngọc Sơn, nhà giáo, nhà báo, Hà Nội

548. Tran Van Thuan, CHLB Đức

549. Trần Anh Đức, kỹ sư, Hà Nội

550. Lê Vạn Tùng, Đăk Lăk

551. Nghiêm Phong, hưu trí, Hà Nội

552. Trần Hữu Kham, thương binh mù, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM

553. Nguyễn Đức Quỳnh, kinh doanh, TP HCM

554. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM

555. Lê Phụng, cán bộ Quân đội, TP HCM

556. Trần Hữu Đức, bác sĩ thú y, kinh doanh, Hà Tĩnh

557. Pham Mai Ly, student, Thụy Điển

558. Tô Hoài Nam, công nhân, Nha Trang

559. Nguyễn Bảo Lâm, kiến trúc sư, Đại học Kiến trúc Hà Nội

560. Tran Phuc Thong, cán bộ nghiên cứu Viện Khoa học Kỹ thuật Bưu điện, đã nghỉ hưu, thương binh 3/4 thời chống Pháp, Hà Nội

561. Trần Hưng Bình, chuyên gia hệ thống, Singapore

562. Nguyễn Đức Nam, kỹ thuật viên IT, Thanh Hóa

563. Ngô Mạnh Hùng, kỹ sư, Hưng Yên

564. Đặng Quốc Trọng, sinh viên, Bình Dương

565. Lê Đình Thôi, kỹ sư, Thừa Thiên Huế

566. Lê Chí Thành, sinh viên, Hà Nội

567. Tinh Phan MSc, BEng, CEng, MIET Senior Design Engineer, Anh

568. Đỗ Vân Anh, giáo viên, Hà Nội

569. Trịnh Quốc Việt, Hà Nội

570. Tống Văn Linh, kỹ sư, Thái Bình

571. Truong Bich Phuong, nhân viên, TP HCM

572. Ngô Minh, nhà thơ, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Huế

573. Trí Tài, nhân viên, TP HCM

574. Lương Đức Hùng, kỹ sư, TP HCM

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 00:06
Nhãn: Hiến pháp

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 05:04, 24/01/2013 - mã số 77449
Nguyễn Ngọc Già viết:
Đỗ Xuân Thọ viết:
Khách Qua Đường viết:
Bác Đỗ Xuân Thọ thân mến,

Bản Dự thảo Hiến pháp này, theo ngu ý của tôi, chỉ có thể được gọi là "lay động con tim" của toàn dân Việt, nếu nó ÍT NHẤT là "lay động con tim" của nhiều người thuộc Miền Nam VN (một phần bất khả phân ly của đất mẹ VN) sinh ra và lớn lên trên miền đất TỰ DO thời VNCH. Nếu nó "lay động con tim", thì CHÍ ÍT cũng phải được hàng chục hay hàng trăm ngàn chữ ký ủng hộ của người Việt trong và ngoài nước. Nhưng khả năng là nó cũng chỉ nhận được vài ngàn chữ ký quen thuộc của phe Bên Thắng Cuộc mà thôi. Bác THỌ nhớ theo dõi xem tôi nói sai hay không.

Riêng cá nhân tôi (và có thể có những người khác) chỉ nghe tới cái tên VNDCCH, cái Cờ Đỏ Sao Vàng và bài Tiến quân ca ("đường vinh quang xây xác quân thù") là đã 3 chân 4 cẳng chạy tóe khói, đứng xa ngoái cổ nhìn lại, chứ nào dám mon men tới gần để ký tên (dù chỉ trên màn computer ảo) vào cái kiến nghị này.

Các bạn thân mến!!!
Các bạn phải hết sức cảnh giác với SƯ ĐOÀN BÚT CHIẾN CỦA CỘNG SẢN
Ban Tuyên Giáo TƯ của ĐCSVN không đủ lý luận để tranh cãi với chúng ta nên đã sua một bầy đến để:
1) Gây chia rẽ nội bộ
2) Đánh lạc hướng dư luận
3) Hù dọa
v.v...
Tôi theo dõi trên trang BASAM và Dân Luận thấy chúng đã thành công chút ít rồi đấy.
Tôi rất bận nên mong các bác bóc mẽ những tên phá rối, gây mất đoàn kết.
Các bác nên nhớ chúng phải học Chiến Tranh Tâm Lý 4 học kỳ ở trường Đại Học An Ninh bộ Công An
Thời cơ này là thời cơ VÀNG.
Tôi đã nhận được tín hiệu ĐÈN XANH CHO CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA CHÚNG TA TỪ BCT ĐCSVN

Bác KQĐ có lẽ không phải như bác Đỗ Xuân Thọ nghĩ. Tôi cho rằng, bác KQĐ gặm nhắm "vết thù trên lưng ngựa hoang" lâu quá đó thôi! :)

Bác KQĐ!

Đứng mang tâm tư chủ bại như thế nữa! Thời thế đã đổi thay, vận nước đang chuyển đổi. Nếu bác có lòng nghĩ về dân trong nước mà góp tay một chữ ký và vận động gia đình, bà con, bạn hữu quanh bác mỗi người một chữ ký nữa thì tôi nghĩ nhiều người dân trong nước chúng tôi cám ơn các bác lắm!

Hãy bắt đầu từng bước nhỏ để đạt một thay đổi lớn, bác KQĐ ạ!

Tôi đã ký tên rồi, ngày hôm nay. Đang vận động những người chung quanh, được thêm người nào mừng người đó, bác ạ!

Bác Thọ cũng đừng nên nôn nóng quá! Dù bản kiến nghị ảnh hưởng lớn hay nhỏ, đó cũng là việc rất đáng hoan nghênh và chung tay làm, nên vận động, thuyết phục, hơn là chỉ trích mà không có bằng chứng.

Bác Nguyễn Ngọc Già kính mến,

Xin chân thành cám ơn lời kêu gọi của bác GIÀ rằng tôi nên ký vào bản Kiến nghị. Tuy nhiên, trước khi trả lời bác GIÀ một cách thành thật và sòng phẳng, xin bác GIÀ biết cho rằng tôi không gặm nhắm quá khứ như bác GIÀ nghĩ. Tôi vốn sinh ra trong một gia đình có công với cách mạng (theo kiểu nói của ĐCSVN), đã từng tin yêu, tôn kính “bác” Hồ, từng quý trọng lá Cờ Đỏ Sao vàng, và đương nhiên là chấp thuận cả hai tay lẫn hai chân cái tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đó là thời tôi còn nhỏ và tin theo ảnh hưởng của gia đình mình.

Nhưng khi lớn lên, qua chiêm nghiệm trước những SỰ THẬT lịch sử, tôi đã ngộ ra rằng toàn dân tộc ta đã bị “kụ” Hồ lường gạt khi theo “kụ” thực hiện cuộc “kháng chiến chống Pháp giành độc lập”. Thực chất là “kụ” Hồ chỉ LỢI DỤNG lòng yêu nước của nhân dân ta để đưa nước ta vào tròng Cộng Sản với những hệ lụy vô cùng TAI HẠI, đưa đất nước đến cảnh lầm than, đổ vỡ, và đang bị TÀU đồng hóa hôm nay. Cái lá cờ Đỏ Sao Vàng cũng lại là cờ của phe “cách mạng” CS Tàu ở bên Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến tạo ra, đã được quân Giải Phóng TQ của Mao Trạch Đông dùng trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh (của Tàu), bài Tiến Quân Ca (của Văn Cao) thì đầy tính dã man, khát máu (như “đường vinh quang xây xác quân thù”, v.v…). Cái gọi là nước VNDCCH (ở Miền Bắc vĩ tuyến 17) đã phản bội Tổ quốc khi đem Hoàng Sa, Trường Sa dâng cho Tàu (qua Công hàm bán nước 14/9/1958 của ông Phạm Văn Đồng), và gần đây, nước CHXHCNVN, kẻ kế tục của VNDCCH trên toàn VN, đã đem dâng Ải Nam Quan, bãi Tục Lãm, nửa thác Bản Giốc và một phần Vịnh Bắc Bộ cho TQ. Như thế cái tên VNDCCH và những biểu tượng đi kèm theo nó, như lá Cờ Đỏ Sao Vàng, cái quốc huy (giống y chang quốc huy của TQ), theo tôi, chẳng có gì xứng đáng để được một nước VN tương lai tôn thờ. Chuyện tôi đúng hay sai tùy theo mọi người nghĩ. Nhưng đây là quan điểm CÁ NHÂN của tôi.

Trở lại với việc ký cái kiến nghị (trong đó bản Dự thảo Hiến pháp là phần cốt lõi). Rõ ràng là đây là một việc làm TRỌN GÓI. Nếu anh ký kiến nghị, anh chấp thuận toàn bộ bản Dự thảo này (chứ không ngoại trừ bất cứ Điều nào cả, như Điều 11 chẳng hạn). Nó cũng tương tự như cái Công hàm 14/9/1958 của ông Phạm Văn Đồng. Đã ký rằng đồng ý và tôn trọng tuyên bố về lãnh hải của TQ (trong đó có việc TQ nói HS và TS là của Tàu qua Điều 1 và Điều 4 của bản Tuyên bố lãnh hải của TQ) thì không thể cãi chày cãi cối rằng tôi không chịu hai điều này. Do đó, cá nhân tôi (hay bất cứ ai khác) không thể ký tên ủng hộ cái kiến nghị, nếu không muốn từ nay mọi người nói rằng tôi đã đồng ý với Điều 11 trong bản Dự thảo Hiến pháp về quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca của nước VN sau này.

Việc này chẳng ăn nhằm gì tới việc thời thế đã đổi thay như bác GIÀ đã nói. Tôi dám cá là rất nhiều người, trong đó có cả những người Việt sống ở hải ngoại đã nổi tiếng (thí dụ như quý ông Ngô Nhân Dụng, Trần Văn Tích, v.v… và v.v…) sẽ KHÔNG DÁM ký bản Kiến nghị này dù trong thâm tâm họ thấy bản Dự thảo Hiến pháp có rất nhiều điều hay. Lý do giản dị là họ có thể không chịu cái Điều 11 mang tính áp đặt, đưa mọi người vào sự đã rồi này. Điều này cũng đã nói lên tính GIẢ DỐI của tất cả những ai (trong cũng như ngoài nước) đã từng LỚN TIẾNG kêu gọi mọi người hãy bỏ qua một bên chuyện cờ Vàng, cờ Đỏ để “đoàn kết” dân tộc. Miệng thì HÔ HÀO bỏ qua một bên, nhưng tay thì GHI vào Hiến Pháp rằng Quốc kỳ nước “ta” là Cờ Đỏ Sao Vàng. Than ôi!

Visiteur (khách viếng thăm) gửi lúc 04:46, 24/01/2013 - mã số 77448
NJ viết:
HongLac viết:
Bác Đỗ Hữu Thọ và bác Admin thân mến,

- Tôi đồng tình với GS Hoàng Xuân Phú là “Tôi không chia sẻ kỳ vọng đó, bởi không tin rằng giới lãnh đạo hiện nay có thể sớm chấp nhận thay đổi những điều mà họ khẳng định là bất di, bất dịch”.

- Điều 11 trong bản “Dự thảo Hiến pháp 2013” là khơi dậy vết thương còn đang rĩ máu của nhân dân miền Nam tự do (nghĩa là không theo, không liên hệ với ĐCSVN) và những NVHN (đúng ra là những NVTNCS) mà Osin Huy Đức chỉ ra trong sách “Bên Thắng Cuộc - Giải Phóng”. Thay vì viết rõ như thế, thì nên giữ nguyên tiêu đề nhưng viết là “Sẽ do toàn dân chọn lựa, quyết định qua những cuộc trưng cầu dân ý sau nầy”!

Tôi đồng ý điều này của bác Phiên Ngung.
Rất nhiều những hội đoàn NVTNCS ở Đức đã không chấp nhận việc sửa đổi tên của hội thành hội Người Việt Tự Do, để đồng bào không tỵ nạn, du học sinh có thể gia nhập. Đến ngày hôm nay các hội đoàn của người Việt tỵ nạn vẫn mang tên NVTNCS để khẳng định lập trường tỵ nạn CS. Nhưng vẫn có một số du học sinh hay đồng bào không tỵ nạn đến chơi, cùng vui sinh hoạt với nhau.

Tôi đã ký tên vào bản kiến nghị, dù không tin tưởng lắm, sẽ có thay đổi từ phía các lãnh đạo. Nếu có thay đổi lần này thì có thể vài năm nữa, đề nghị đổi tên nước, quốc kỳ, quốc ca. Để tiến tới việc thật sự HHHG với cộng đồng NVTNCS.

Nguyễn Jung

Bác Nguyễn Jung viết nhầm HongLac thành Phiên Ngung.

Điều 11 Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô, theo tôi nên đưa lên trước, có thể gộp chung vào điều 1, thì logic hơn vì phải định nghĩa tên nước trước khi sử dụng trong điều 3.

Tôi chép lại vài kiến nghị sửa đổi hiến pháp năm 1992 của bác Nhất, trong đó có tên nước VN là Cộng hòa Việt Nam. Nếu không lầm thì blog của bác Điệp có cùng đề nghị là Cộng hòa Việt Nam.
Tôi đồng ý với cách gọi Cộng hòa Việt Nam. Tôi nghĩ đơn giản là từ CHXHCNVN bỏ đi XHCN trở thành CHVN. Các nước theo chế độ cộng hòa đa số có cách gọi bắt đầu bằng cộng hòa như cộng hòa Pháp, cộng hòa séc, cộng hòa Ba Lan, ...

Cái tên nước chỉ là cái tên chứ cái thực chất mới quan trọng. Có cái tên nước nào hay, đẹp và nổ bằng tên "Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên" đâu nhưng thực chất là một nước phong kiến, độc tài và gia đình trị.

Ngược lại Vương quốc Anh, nghe rất phong kiến nhưng lại cộng hòa và dân chủ trong thực tế hơn Triều Tiên rất nhiều.

Quốc ca, bài “Tiến quân ca.” (nên bỏ dấu chấm ra ngoài ""). Bài này âm điệu hay nhưng có lời sắt máu, bạo lực chiến tranh của "Cờ in máu" và " xây xác quân thù" không còn thích hợp "vì mục tiêu hạnh phúc và tự do của các thế hệ hiện tại và tương lai". Cần sửa lại lời của bài quốc ca để lá cờ không còn in máu đỏ nữa trong thời bình.

Trích dẫn:
http://www.truongduynhat.vn/tro-ve-nen-cong-hoa-dan-chu/

Mấy kiến nghị sửa đổi hiến pháp năm 1992

Xin nêu mấy vấn đề, cũng có thể coi là những ý tưởng muốn góp vào hiến pháp sửa đổi:

– Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Các dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất, đều bình đẳng, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, đảng phái.

– Chế độ chính trị mà Việt Nam lựa chọn đưa vào hiến pháp là cộng hòa (hoặc cộng hòa – dân chủ hay cộng hòa – dân chủ – nhân dân). Sứ mệnh với tầm nhìn xa của chính thể cộng hòa là bảo vệ nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

– Lợi quyền lớn nhất, cao nhất kể cả quyền sửa hiến pháp là của toàn dân. Nghiêm cấm bất kỳ sự áp đặt lợi quyền nào khác lên trên lợi quyền của dân, do dân, vì dân.

– Nhà nước của nước Cộng hòa Việt Nam (hoặc Việt Nam dân chủ cộng hòa hay Cộng hòa dân chủ nhân dân Việt Nam) là nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, của dân, do dân, vì dân chứ không thể chỉ phân công ba quyền dưới sự lãnh đạo thống nhất của đảng như hiện nay.

NJ (khách viếng thăm) gửi lúc 01:07, 24/01/2013 - mã số 77443
HongLac viết:
Bác Đỗ Hữu Thọ và bác Admin thân mến,

- Tôi đồng tình với GS Hoàng Xuân Phú là “Tôi không chia sẻ kỳ vọng đó, bởi không tin rằng giới lãnh đạo hiện nay có thể sớm chấp nhận thay đổi những điều mà họ khẳng định là bất di, bất dịch”.

- Điều 11 trong bản “Dự thảo Hiến pháp 2013” là khơi dậy vết thương còn đang rĩ máu của nhân dân miền Nam tự do (nghĩa là không theo, không liên hệ với ĐCSVN) và những NVHN (đúng ra là những NVTNCS) mà Osin Huy Đức chỉ ra trong sách “Bên Thắng Cuộc - Giải Phóng”. Thay vì viết rõ như thế, thì nên giữ nguyên tiêu đề nhưng viết là “Sẽ do toàn dân chọn lựa, quyết định qua những cuộc trưng cầu dân ý sau nầy”!

Tôi đồng ý điều này của bác Phiên Ngung.
Rất nhiều những hội đoàn NVTNCS ở Đức đã không chấp nhận việc sửa đổi tên của hội thành hội Người Việt Tự Do, để đồng bào không tỵ nạn, du học sinh có thể gia nhập. Đến ngày hôm nay các hội đoàn của người Việt tỵ nạn vẫn mang tên NVTNCS để khẳng định lập trường tỵ nạn CS. Nhưng vẫn có một số du học sinh hay đồng bào không tỵ nạn đến chơi, cùng vui sinh hoạt với nhau.

Tôi đã ký tên vào bản kiến nghị, dù không tin tưởng lắm, sẽ có thay đổi từ phía các lãnh đạo. Nếu có thay đổi lần này thì có thể vài năm nữa, đề nghị đổi tên nước, quốc kỳ, quốc ca. Để tiến tới việc thật sự HHHG với cộng đồng NVTNCS.

Nguyễn Jung

Nguyễn SG (khách viếng thăm) gửi lúc 00:49, 24/01/2013 - mã số 77442
HongLac viết:
Bác Đỗ Hữu Thọ và bác Admin thân mến,

Trước hết tôi xin lỗi vì đã sa đà vào cuộc cãi vả đáng tiếc nầy! Không phải tôi không ủng hộ Kiến nghị đó và cũng không phải tôi không muốn sửa đổi HP 1992 mà có hai vấn đề cá nhân tôi muốn nêu ra:

- Tôi đồng tình với GS Hoàng Xuân Phú là “Tôi không chia sẻ kỳ vọng đó, bởi không tin rằng giới lãnh đạo hiện nay có thể sớm chấp nhận thay đổi những điều mà họ khẳng định là bất di, bất dịch”.

- Điều 11 trong bản “Dự thảo Hiến pháp 2013” là khơi dậy vết thương còn đang rĩ máu của nhân dân miền Nam tự do (nghĩa là không theo, không liên hệ với ĐCSVN) và những NVHN (đúng ra là những NVTNCS) mà Osin Huy Đức chỉ ra trong sách “Bên Thắng Cuộc - Giải Phóng”. Thay vì viết rõ như thế, thì nên giữ nguyên tiêu đề nhưng viết là “Sẽ do toàn dân chọn lựa, quyết định qua những cuộc trưng cầu dân ý sau nầy”!

Nếu nói như bác VN2006A (“Tức là của những người mang hộ chiếu CHXHCN VN, nên những Hồng Lác, Khách Qua Đường...v...v...tạm thời cho ra ngoài”) thì đừng kêu gọi người Việt trong và ngoài nước. Ngoài ra “những người mang hộ chiếu CHXHCN VN” có cả những người “mang” bất đắc dĩ, những người đang mang những vết thương còn đang rĩ máu!, thì làm sao họ ủng hộ Điều 11 đó được! Có lẽ vẫn còn nhiều người “bên thắng cuộc” tin điều ĐCSVN nói là “Ngày 30/4/1975 nhân dân miền Nam hồ hởi phấn khởi túa ra đường đón chào đoàn quân giải phóng (bộ đội miền Bắc với xe tăng, nón cối dép râu)”! ! ! Xin chấm dứt bàn luận về đề tài nầy ở đây.

Bác HongLac và Khách Qua Đường,

Như bác Nguyễn Ngọc Già đã giải thích ở còm 23/01/2013 - mã số 77425
" Thời thế đã đổi thay, vận nước đang chuyển đổi. Nếu bác có lòng nghĩ về dân trong nước mà góp tay một chữ ký và vận động gia đình, bà con, bạn hữu quanh bác mỗi người một chữ ký nữa thì tôi nghĩ nhiều người dân trong nước chúng tôi cám ơn các bác lắm!

Hãy bắt đầu từng bước nhỏ để đạt một thay đổi lớn, ..."

Chúng ta, dưới mọi hình thức, đóng góp những gì có thể và trong khả năng sao cho VN trở thành một nước dân chủ, tự do, công bằng và pháp quyền.

như trong lời mở đầu của kiến nghị dự thảo HP :
" vì một xã hội dân chủ, công bằng và pháp quyền, vì tự do và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai, ..."

Như các bác đã đọc, trong lời mở đầu không đả động gì đến một đảng phái, một chủ nghĩa nào cả. Tôi không tin là đảng CSVN có can đảm lương tâm để chấp nhận kiến nghị dự thảo hiến pháp này, quá sức tưởng tượng của BCT và trung ương đảng, nhưng hãy cố gắng hết sức vận động mọi người.

Bác VN2006A, muốn nói gì thì kệ bác ấy, bởi vì VN là của chung các dân tộc VN chứ không căn cứ vào hộ chiếu passport nào cả

Hồ Gươm gửi lúc 23:57, 23/01/2013 - mã số 77437

Cùng treo avatar, ủng hộ và ký tên:


Blogger Đặng Bích Phượng

Bé Phương, ny AD

Blogger Lê Dũng Vova

Luật sư Nguyễn Văn Đài

Blogger Florence Knightingale

Bác Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại tá Công an

Nhật Ký Yêu Nước

HongLac (khách viếng thăm) gửi lúc 20:46, 23/01/2013 - mã số 77431

Xin đính chính, xin lỗi bác Đỗ Xuân Thọ.

HongLac (khách viếng thăm) gửi lúc 20:43, 23/01/2013 - mã số 77430

Bác Đỗ Hữu Thọ và bác Admin thân mến,

Trước hết tôi xin lỗi vì đã sa đà vào cuộc cãi vả đáng tiếc nầy! Không phải tôi không ủng hộ Kiến nghị đó và cũng không phải tôi không muốn sửa đổi HP 1992 mà có hai vấn đề cá nhân tôi muốn nêu ra:

- Tôi đồng tình với GS Hoàng Xuân Phú là “Tôi không chia sẻ kỳ vọng đó, bởi không tin rằng giới lãnh đạo hiện nay có thể sớm chấp nhận thay đổi những điều mà họ khẳng định là bất di, bất dịch”.

- Điều 11 trong bản “Dự thảo Hiến pháp 2013” là khơi dậy vết thương còn đang rĩ máu của nhân dân miền Nam tự do (nghĩa là không theo, không liên hệ với ĐCSVN) và những NVHN (đúng ra là những NVTNCS) mà Osin Huy Đức chỉ ra trong sách “Bên Thắng Cuộc - Giải Phóng”. Thay vì viết rõ như thế, thì nên giữ nguyên tiêu đề nhưng viết là “Sẽ do toàn dân chọn lựa, quyết định qua những cuộc trưng cầu dân ý sau nầy”!

Nếu nói như bác VN2006A (“Tức là của những người mang hộ chiếu CHXHCN VN, nên những Hồng Lác, Khách Qua Đường...v...v...tạm thời cho ra ngoài”) thì đừng kêu gọi người Việt trong và ngoài nước. Ngoài ra “những người mang hộ chiếu CHXHCN VN” có cả những người “mang” bất đắc dĩ, những người đang mang những vết thương còn đang rĩ máu!, thì làm sao họ ủng hộ Điều 11 đó được! Có lẽ vẫn còn nhiều người “bên thắng cuộc” tin điều ĐCSVN nói là “Ngày 30/4/1975 nhân dân miền Nam hồ hởi phấn khởi túa ra đường đón chào đoàn quân giải phóng (bộ đội miền Bắc với xe tăng, nón cối dép râu)”! ! ! Xin chấm dứt bàn luận về đề tài nầy ở đây.

Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 19:31, 23/01/2013 - mã số 77425
Đỗ Xuân Thọ viết:
Khách Qua Đường viết:
Bác Đỗ Xuân Thọ thân mến,

Bản Dự thảo Hiến pháp này, theo ngu ý của tôi, chỉ có thể được gọi là "lay động con tim" của toàn dân Việt, nếu nó ÍT NHẤT là "lay động con tim" của nhiều người thuộc Miền Nam VN (một phần bất khả phân ly của đất mẹ VN) sinh ra và lớn lên trên miền đất TỰ DO thời VNCH. Nếu nó "lay động con tim", thì CHÍ ÍT cũng phải được hàng chục hay hàng trăm ngàn chữ ký ủng hộ của người Việt trong và ngoài nước. Nhưng khả năng là nó cũng chỉ nhận được vài ngàn chữ ký quen thuộc của phe Bên Thắng Cuộc mà thôi. Bác THỌ nhớ theo dõi xem tôi nói sai hay không.

Riêng cá nhân tôi (và có thể có những người khác) chỉ nghe tới cái tên VNDCCH, cái Cờ Đỏ Sao Vàng và bài Tiến quân ca ("đường vinh quang xây xác quân thù") là đã 3 chân 4 cẳng chạy tóe khói, đứng xa ngoái cổ nhìn lại, chứ nào dám mon men tới gần để ký tên (dù chỉ trên màn computer ảo) vào cái kiến nghị này.

Các bạn thân mến!!!
Các bạn phải hết sức cảnh giác với SƯ ĐOÀN BÚT CHIẾN CỦA CỘNG SẢN
Ban Tuyên Giáo TƯ của ĐCSVN không đủ lý luận để tranh cãi với chúng ta nên đã sua một bầy đến để:
1) Gây chia rẽ nội bộ
2) Đánh lạc hướng dư luận
3) Hù dọa
v.v...
Tôi theo dõi trên trang BASAM và Dân Luận thấy chúng đã thành công chút ít rồi đấy.
Tôi rất bận nên mong các bác bóc mẽ những tên phá rối, gây mất đoàn kết.
Các bác nên nhớ chúng phải học Chiến Tranh Tâm Lý 4 học kỳ ở trường Đại Học An Ninh bộ Công An
Thời cơ này là thời cơ VÀNG.
Tôi đã nhận được tín hiệu ĐÈN XANH CHO CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA CHÚNG TA TỪ BCT ĐCSVN

Bác KQĐ có lẽ không phải như bác Đỗ Xuân Thọ nghĩ. Tôi cho rằng, bác KQĐ gặm nhắm "vết thù trên lưng ngựa hoang" lâu quá đó thôi! :)

Bác KQĐ!

Đứng mang tâm tư chủ bại như thế nữa! Thời thế đã đổi thay, vận nước đang chuyển đổi. Nếu bác có lòng nghĩ về dân trong nước mà góp tay một chữ ký và vận động gia đình, bà con, bạn hữu quanh bác mỗi người một chữ ký nữa thì tôi nghĩ nhiều người dân trong nước chúng tôi cám ơn các bác lắm!

Hãy bắt đầu từng bước nhỏ để đạt một thay đổi lớn, bác KQĐ ạ!

Tôi đã ký tên rồi, ngày hôm nay. Đang vận động những người chung quanh, được thêm người nào mừng người đó, bác ạ!

Bác Thọ cũng đừng nên nôn nóng quá! Dù bản kiến nghị ảnh hưởng lớn hay nhỏ, đó cũng là việc rất đáng hoan nghênh và chung tay làm, nên vận động, thuyết phục, hơn là chỉ trích mà không có bằng chứng.

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 19:14, 23/01/2013 - mã số 77423

Gửi những đứa con của Vua Hùng
Việc ký tên vào bản KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 CỦA CÁC NHÂN SỸ YÊU NƯỚC SOẠN THẢO ĐĂNG TRÊN TRANG BAUXITEVN.BLOGSPOT.COM (có văn bản kèm theo) RẤT DỄ DÀNG.
1) Các con lập một bảng gồm các cột sau (lập bảng kẻ bằng tay cũng được)
+ Họ Và Tên
+Nghề nghiệp
+ Nơi cư trú
+ Chữ Ký

2) Các con đọc to cho mọi người nghe văn bản này. Nếu đồng ý các con lấy các thông tin trên và chữ ký
3) Quét ảnh bảng chữ ký trên rồi gửi về hòm thư điện tử
kiennghisuadoihienphap2013@gmail.com
4) Phải hết sức TRUNG THỰC ĐỂ CHỐNG LẠI BỌN PHÁ HOẠI SỰ NGHIỆP CỦA CHÚNG TA
Các con copy BẢN KIẾN NGHỊ TRÊN TRANG DÂN LUẬN NÀY CŨNG ĐƯỢC!!!
Chúc các con thành công. Bố cũng đang làm như các con
Vì một đất nước hùng cường, dân chủ, độc lập, tự do, hạnh phúc hãy dấn thân
Bố
Đỗ Xuân Thọ

Admin gửi lúc 18:40, 23/01/2013 - mã số 77422

Blogger Nguyễn Lân Thắng và Người Buôn Gió cổ động cho bản Kiến nghị 7 điểm này :D

Còn bác "cựu đảng viên" Nguyễn Chí Đức thì đang đi gõ cửa từng nhà kêu gọi ký :D

"10 chữ ký cho đến giờ phút này!

Có vẻ chậm chạp quá nhưng việc này không thể như phát tờ rơi ở ngã tư đường phố, quảng cáo bột giặt, bán báo dạo... Không thể ào ào, lợi dụng sự quen biết, bề trên để lùa người khác ký đại. Chính vì phải nói và giải thích "gãy lưỡi" nên số lượng người ký mà tôi vận động cũng không thể "duy ý chí" hay "đếm cua trong lỗ".

Cũng là cách mà chúng ta hiểu thêm việc nhân dân giữa việc bàn tán, bình luận lúc riêng tư, trà dư tửu hậu với việc thực tế ký hay xác nhận vào một nội dung nào đó.

Đối với các bạn trẻ, các anh chị trung niên có xu hướng hoạt động xã hội, chính trị (nếu có) nếu có ý định cọ xát, tự tin huặc cảm nhận thực tế thì đây là một bài học tốt cho mọi người. Khác với việc trong một đám đông biểu tình, có sự cộng hưởng của âm thanh huyên náo, của các tác nhân khác, của truyền thông khiến ta cảm tưởng mình là bản lãnh, mạnh mẽ nhưng khi biến cố đi qua, chìm vào ưu tư chúng ta sẽ thấy mình cũng nhỏ bé giống bao người."

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 17:13, 23/01/2013 - mã số 77420
Khách Qua Đường viết:
Bác Đỗ Xuân Thọ thân mến,

Bản Dự thảo Hiến pháp này, theo ngu ý của tôi, chỉ có thể được gọi là "lay động con tim" của toàn dân Việt, nếu nó ÍT NHẤT là "lay động con tim" của nhiều người thuộc Miền Nam VN (một phần bất khả phân ly của đất mẹ VN) sinh ra và lớn lên trên miền đất TỰ DO thời VNCH. Nếu nó "lay động con tim", thì CHÍ ÍT cũng phải được hàng chục hay hàng trăm ngàn chữ ký ủng hộ của người Việt trong và ngoài nước. Nhưng khả năng là nó cũng chỉ nhận được vài ngàn chữ ký quen thuộc của phe Bên Thắng Cuộc mà thôi. Bác THỌ nhớ theo dõi xem tôi nói sai hay không.

Riêng cá nhân tôi (và có thể có những người khác) chỉ nghe tới cái tên VNDCCH, cái Cờ Đỏ Sao Vàng và bài Tiến quân ca ("đường vinh quang xây xác quân thù") là đã 3 chân 4 cẳng chạy tóe khói, đứng xa ngoái cổ nhìn lại, chứ nào dám mon men tới gần để ký tên (dù chỉ trên màn computer ảo) vào cái kiến nghị này.

Các bạn thân mến!!!
Các bạn phải hết sức cảnh giác với SƯ ĐOÀN BÚT CHIẾN CỦA CỘNG SẢN
Ban Tuyên Giáo TƯ của ĐCSVN không đủ lý luận để tranh cãi với chúng ta nên đã sua một bầy đến để:
1) Gây chia rẽ nội bộ
2) Đánh lạc hướng dư luận
3) Hù dọa
v.v...
Tôi theo dõi trên trang BASAM và Dân Luận thấy chúng đã thành công chút ít rồi đấy.
Tôi rất bận nên mong các bác bóc mẽ những tên phá rối, gây mất đoàn kết.
Các bác nên nhớ chúng phải học Chiến Tranh Tâm Lý 4 học kỳ ở trường Đại Học An Ninh bộ Công An
Thời cơ này là thời cơ VÀNG.
Tôi đã nhận được tín hiệu ĐÈN XANH CHO CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA CHÚNG TA TỪ BCT ĐCSVN

VN2006A gửi lúc 15:44, 23/01/2013 - mã số 77416

Thứ nhất việc sửa đổi Hiếp Pháp CHXHCN VN là việc của các chính chủ!!!

Tức là của những người mang hộ chiếu CHXHCN VN, nên những Hồng Lác, Khách Qua Đường...v...v...tạm thời cho ra ngoài.

Thứ 2 cứ phải thử mới biết được là có nên cơm, nên cháo gì không!? (trial and error)

Thứ 3, lập luận của các chiến sỹ chống cộng hải ngoại luôn luôn là: bản chất của CS không bao giờ thay đổi!!!

Cứ cho điều này là tuyệt đối đúng đi!!! Nhưng nó lại có thêm 1 cái khác: môi trường xung quanh CS ngày nay khác hoàn toàn, CS không thay đổi bản chất thì kệ mẹ nó!?

Bác Darwin đã nói rồi: không phải thằng khỏe nhất hay thông minh nhất sẽ tồn tại, mà là thằng có khả năng thích ứng tốt nhất!!!

Worm (khách viếng thăm) gửi lúc 13:53, 23/01/2013 - mã số 77411
Admin viết:
Há há, đồng bào hải ngoại kính mến, trong khi chúng ta chưa có một bản sửa đổi Hiến Pháp thực sự vừa ý thì hãy cứ tiếp tục sử dụng bản Hiến Pháp 1992, nhể? Đổi làm gì cho mệt :D

Em nghĩ rằng một số "con sâu" không thể đại diện cho toàn bộ đồng bào hải ngoại được. Rất nhiều người đang định cư tại Mỹ đã hiểu, đã ký, đã ủng hộ hầu hết các bản kiến nghị của người trong nước và khâm phục ý chí bền bỉ của họ.

Nguyen Huu Phung (khách viếng thăm) gửi lúc 13:39, 23/01/2013 - mã số 77410

Tôi đồng ý ký tên vào bản kiến nghị về sửa đổi Hiến Pháp 1992

Admin gửi lúc 13:29, 23/01/2013 - mã số 77408

Há há, đồng bào hải ngoại kính mến, trong khi chúng ta chưa có một bản sửa đổi Hiến Pháp thực sự vừa ý thì hãy cứ tiếp tục sử dụng bản Hiến Pháp 1992, nhể? Đổi làm gì cho mệt :D

Orange County (khách viếng thăm) gửi lúc 13:23, 23/01/2013 - mã số 77407
HongLac viết:
Hóng hớt lại theo gen (gene) của Bác đổi nick “lia liạ” . “nội chiến hai miền” nó chấm dứt gần 38 năm rồi, đừng có mang ra bịp tiếp nhá đ/c! Trừ các nước Đông Âu nhỏ thuộc Liên Xô củ; Đức, Tiệp, Lan giống hệt CHXHCNVN hiện nay ở chổ CHXHCNVN đang “bị ách cộng sản ngoại bang” Tàu khựa nắm đầu.

Thì “bọn em cứ nhất trí ủng hộ cái HP nầy” có sao đâu!, “bọn anh” chỉ mĩm cười huýt sáo “you got what you deserve”!!! Nhưng mà nếu “bọn em” không phải là cừu thì cũng là nằm mơ vì với bọn “còn Đảng, còn mình”, “bỏ điều 4 HP là chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát” thì “bọn em” cứ tha hồ sử dụng bàn phím mà ca bài “Thỉnh nguyện thư”, “Yêu cầu”, “Kiến nghị” đến “tết Congo” Đảng ta vẫn sống ‘nhăm răng’ , ngu gì tự sát, nên Điều 4 vẫn “nghìn trùng xa cách” bọn em!

Nhắc bạn HongLac, bạn đang thắc mắc Điều 11 và nêu vấn đề hòa hợp hòa giải nên người ta trả lời bạn các nước kia không có nội chiến, hòa giải rất thuận lợi. Còn Việt Nam phức tạp hơn nên cần có bước đệm.

Lý luận cần nhất quán và có logic, đừng cứ mở miệng ra là hô khẩu hiệu cộng sản muôn năm như vậy bạn nhé, nghe mãi nhàm.

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 13:16, 23/01/2013 - mã số 77406
Đỗ Xuân Thọ viết:
Sức mạnh thuyết phục của bản Hiến Pháp mới do các Nhân Sỹ Việt Nam soạn thảo đã lay động mọi con tim vì nó còn tốt hơn HP Mỹ
Đây là danh sách những người ký tên đợt 2:
Đợt 2:

73. Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên thiếu tướng, nguyên ủy viên Trung ương đảng, nguyên cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc

74. Phan Văn Thuận, giám đốc doanh nghiệp, TP HCM

75. Nguyễn Hữu Quý, kỹ sư, Đăk Lăk

76. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, TP HCM

77. Trần Định, nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, Hà Nội

78. Bùi Hữu Hùng, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội

79. Nguyễn Lân Thắng, kỹ sư, Hà Nội

80. Nguyễn Chí Đức, kỹ sư, Hà Nội

81. Nguyễn Đức Nhã, nghề nghiệp tự do, TP HCM

82. Hoàng Cường, kỹ sư, Hà Nội

83. Nguyễn Hồng Kiên, TS, Hà Nội

84. Trương Văn Khiêm, công nhân, CHLB Đức

85. Nguyễn Tường Long, Hoa Kỳ

86. J.B Nguyễn Hữu Vinh, kỹ sư, blogger, Hà Nội

87. Nguyễn Công Huân, Phó Giáo sư trường Đại học Aalborg, Đan Mạch

88. Nguyễn Văn Dũng, lao động tự do, Việt Trì, Phú Thọ

89. Nguyễn Việt Hưng, lập trình viên CNTT, Hà Nội

90. Nguyễn Nam Việt, linh mục Công giáo thuộc Giáo phận Vinh, Hoa Kỳ

91. Nguyen Huu Chanh, Hoa Kỳ

92. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Vật lý, CNRS và Đại học Paris VI, Pháp

93. Dạ Thảo Phương, Hà Nội

94. Tran Thi Thanh Tam, Ba Lan

95. Nguyễn Xuân Thọ, kỹ sư, CHLB Đức

96. Vũ Tuấn, TS, freelancer, CHLB Đức

97. Phan Văn Song, nguyên Quyền Hiệu trưởng trường THPT Chuyên Bến Tre, Australia

98. Nguyễn Xuân Hoài, cán bộ hưu trí, TP HCM

99. Hà Dương Tường, nguyên giáo sư đại học công nghệ Compiègne, Pháp

100. Trần Ngọc Tuấn, nhà văn, nhà báo, Cộng hòa Czech

101. Lê Hà Nam, quản lý sản xuất, Bình Dương

102. Trần Kim Thập, giáo chức, Australia

103. Pham Tuan Anh, công dân Việt Nam, Cộng hòa Czech

104. Nguyễn Đức Việt, chuyên viên lập trình, Australia

105. Nguyễn Trung Thành, kỹ sư, Phú Thọ

106. Trinh Hồng Trang, giáo viên, Hà Nội

107. André Menras - Hồ Cương Quyết, cựu tù chính trị, Chủ tịch Hiệp hội trao đổi sư phạm Pháp - Việt (ADEP), Pháp

108. Sa Huỳnh, kỹ sư, Berlin, CHLB Đức

109. Phạm Tư Thanh Thiện, nguyên Phó Trưởng ban Việt ngữ đài phát thanh RFI, Pháp

110. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo, nguyên Phó Tổng thư kí Hội người Việt Nam tại Pháp, phiên dịch Phái đoàn VNDCCH tại Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973), Pháp

111. Ðỗ Ðăng Giu, nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS, Ðại học Paris-Sud, Pháp

112. Nguyễn Mạnh Cường, kinh doanh, Praha, Cộng hòa Czech

113. Nguyễn Hoàng, kĩ sư, đã nghỉ hưu, Hoa Kỳ

114. Nguyễn Đức Hiệp, chuyên gia Khoa học khí quyển, Australia

115. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, nguyên chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng, Đà Lạt

116. Hiền Thục, nghệ nhân mỹ thuật ứng dụng, nhà báo, nguyên phóng viên, biên tập viên Đài Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng, Đà Lạt

117. Huỳnh Tấn, cựu học sinh Quốc gia Nghĩa tử, TP HCM

118. Vũ Cao Đàm, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội

119. Vũ Tiến Nga, kỹ sư cơ khí, TP HCM

120. Bùi Xuân Trường, kỹ sư cơ khí, Phú Thọ

121. Trần Quang Thành, nhà báo, Slovakia

122. Hoàng Thị Hà, hưu trí, Hà Nội

123. Lê Thăng Long, TP HCM

124. Hồ Sỹ Lâm, kỹ sư, Nghệ An

125. Phạm Lê Duy Anh, sinh viên, Hà Nội

126. Phạm Văn Ngữ, kỹ sư, đã nghỉ hưu, Hà Nội

127. Nguyễn Thanh Hải, kỹ sư, Quảng Ninh

128. Phạm Hữu Trí, cán bộ hưu trí TP HCM

129. Hoàng Gia Cương, nhà thơ, Hà Nội

130. Vũ Ngọc Thắng, hướng dẫn viên, Hải Phòng

131. Trần Công Khánh, Hải Phòng

132. Đặng Đăng Phước, giáo viên, Buôn Ma Thuột

133. Khải Nguyên, nhà giáo, nhà văn, Hải Phòng

134. Nguyễn Phạm Kim Sơn, công dân Việt Nam, Đà Nẵng

135. Duong Van Vinh, nguyên sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, TP HCM

136. Nguyễn Võ Toàn Quyền, xây dựng, Ninh Thuận

137. Giang Thanh Tung, Quảng Ninh

138. Nguyễn Văn Pháp, kỹ sư, Đồng Nai

139. Nguyễn Hoài Bắc, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 223 từng tham gia chiến đấu 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, nguyên kỹ sư, Hà Nội

140. Đặng Văn Tân, công dân Việt Nam, TP HCM

141. Vũ Văn Thế, giáo viên, Nam Định

142. Nguyễn Quốc Minh, nhà thơ, Hà Nội

143. Nguyễn Ngọc Cúc, kỹ sư điện, Bình Dương

144. Nguyễn Quang Hải, sinh viên, Hà Nội

145. Nguyễn Chí Tuyến, Hà Nội

146. Trương Minh Tam, quản lý thương mại, Hà Nam

147. Nguyễn Đức Quỳ, công dân Việt nam, Hà Nội

148. Nguyễn Đức Phổ, nông dân, TP HCM

149. Nguyễn Trọng Thể, kỹ sư, Hà Tĩnh

150. Đồng Quang Vinh, hưu trí, Khánh Hòa

151. Minh Thọ, luật gia, nhà báo, nguyên Trưởng đại diện Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, TP HCM

152. Lê Văn Sinh, cựu giảng viên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội

153. Ngô Đức Thọ, PGS TS, Hà Nội

154. Nguyễn Thị Dương Hà, luật sư, Hà Nội

155. Dương Văn Minh, nghiên cứu viên, TP HCM

156. Nguyễn Văn Tường, kỹ sư, Hà Nam

157. Nguyen Thuong Kinh, bác sĩ, Hà Nội

158. Hoàng Lại Giang, nhà văn, TP HCM

159. Trần Minh Thảo, viết văn, Lâm Đồng

160. Phạm Khiêm Ích, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội

161. Trần Hữu Khánh, nguyên biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ, TP HCM

162. Lê Văn, TS, hưu trí, Tân Bình, TP HCM

163. Phùng Hoài Ngọc, cựu giảng viên đại học, hội viên Hội nhà báo Việt Nam, An Giang

164. Nguyễn Đăng Hưng, TSKH, Giáo sư Danh dự trường Đại học Liège, Bỉ

165. Vũ Đức Lộc, công dân nước Việt Nam, Hàn Quốc

166. Vu Cong Giao, TS, giảng viên đại học, Ha Noi

167. Nguyen Thi Hoai Phuong, làm nghề tự do, Hà Nội

168. Hoàng Sơn, nông dân, Thái Bình

169. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, TP HCM

170. Vũ Hải Long, TSKH, nghỉ hưu, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, TP HCM

171. Nguyễn Hồng Khoái, chuyên viên Tư vấn Tài chính, hội viên CLB Kế toán trưởng toàn quốc, hội viên hội Tư vấn Thuế Việt Nam, Hà Nội

172. Tran Thi Quyen, Hội An

173. Nguyễn Duy, nhà thơ, TP HCM

174. Đặng Xuân Thắng, TP HCM

175. Trần Hải, kỹ sư, TP HCM

176. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên văn hóa, TP HCM

177. Nguyễn Quang Lập, nhà văn, TP HCM

178. Phero Tran Duc Cuong, linh mục Giáo phận Đà Nẵng

179. Tô Oanh, giáo viên nghỉ hưu, Bắc Giang

180. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ, TP HCM

181. Lê Trung Hà, CHLB Đức

182. Trần Xuân Nam, TS , Hà Nội

183. Lê Thanh Trường, cử nhân, Đà Nẵng

184. Nguyễn Xuân Liên, Giám đốc Bảo tàng Chiến tranh Ngoài trời Vực Quành, Quảng Bình

185. Hoàng Thế Trung, kỹ sư, Gia Lai

186. Vũ Minh Trí, kĩ sư, Hà Nội

187. Đào Minh Châu, TS, Cơ quan Hợp tác Phát triển Thuỵ Sĩ, Hà Nội

188. Nguyễn Tâm Thiện, công nhân kỹ thuật, Strasbourg, Pháp

189. Vũ Quốc Ngữ, thạc sĩ, nhà báo, Hà Nội

190. Lê Khánh Hùng, TS, Hà Nội

191. Phạm Thị Lâm, cán bộ hưu trí, Hà Nội

192. Nguyễn Đạt, kiến trúc sư, công chức, Hoa Kỳ

193. Nguyễn Duy Phúc, thạc sĩ, kiến trúc sư, Hà Hội

194. Huy Đức, nhà báo, đang du học tại Mỹ

195. Nguyễn Minh Tiến, Hải Phòng

196. Đào Hà Anh, sinh viên cao học, Hàn Quốc

197. Thái Văn Cầu, chuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ

198. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM

199. Trần Thiện Kế, dược sĩ, Hà Nội

200. Phạm Hữu Lê Quốc Phục, quản lý, Đà Nẵng

201. Nguyễn Ngọc Châu, PGS TS, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội

202. Phạm Văn Đỉnh, TSKH, Pháp

203. Nguyễn Văn Lịch, kỹ sư, Hà Nội

204. Lê Hùng, hưu trí, Hà Nội

205. Le Van Phuc, hưu trí, Hà Nội

206. Đoàn Phú Huyên, kỹ sư, Hà Nội

207. Lưu Hà Sĩ Tâm, kỹ sư, Thái Bình

208. Phạm Anh Tuấn, TS, Hà Nội

209. Hồ Thị Sinh Nhật, giáo viên, Hà Nội

210. Lương Sơn Bạc, kỹ sư, Kon Tum

211. Đoàn Xuân Cao, công nghệ thông tin, Hải Phòng

212. Trịnh Phúc Tuấn, thạc sĩ, nguyên Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Huế

213. Phạm Văn Mầu, cử nhân, cán bộ hưu trí, Hà Nội

214. Phan Thế Vấn, bác sĩ, TP HCM

215. Lê Ngọc Thanh, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, TP HCM

216. Nguyễn Phương Minh, công dân, Hà Nội

217. Cấn Văn Tuất, PGS TS, nguyên giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội

218. Ông Việt, kinh doanh, TP HCM

219. Nguyễn Ngọc Diễm Phượng, công nhân viên, TP HCM

220. Hoàng Hưng, cây bút tự do, TP HCM

221. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kỹ thuật và Kinh tế Biển TP Hồ Chí Minh, TP HCM

222. Nguyễn Vi Khải, nguyên Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Hà Nội

223. Trần Tố Nga, cựu tù chính trị trước 1975, Pháp

224. Trần Văn Vinh, hướng dẫn du lịch, Hà Nội

225. Phạm Văn Lễ, kỹ sư, TP HCM

226. Trần Quốc Tuấn, kinh doanh, Hà Nội

227. Phạm Tuấn Trung, kỹ sư tin học, Hà Nội

228. Trịnh Hồng Chương, lập trình viên, Thanh Hóa

229. Phan Trọng Khang, thương binh hạng A loại 2/4, Hà Nội

230. Phạm Trung Dũng, TS, Hà Nội

231. Vũ Ngọc Thọ, cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa của miền Nam trước 1975, Australia

232. Đào Tấn Phần, giáo viên, cựu ứng cử viên (tự ứng cử) Quốc hội Việt Nam khóa 13, Phú Yên

233. Hoàng Đức Vương, kỹ sư, TP HCM

234. Trần Tư Bình, giáo viên, Australia

235. Vũ Ngoc Anh, cử nhân luật, Hà Nội

236. Nguyen Huu Loc, công nhân, TP HCM

237. Chu Sơn, nhà thơ, TP HCM

238. Nguyễn Thị Kim Thoa, bác sĩ, TP HCM

239. Nguyễn Hồng Quang, thạc sĩ, Viện Cơ học, Hà Nội

240. Đinh Nguyễn, họa sĩ, Canada

241. Đỗ Xuân Thọ, TS, Hà Nội

242. Hoàng Lan, nguyên Trưởng Khoa Vật Lý trường Đaịhọc Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM

243. Lê Đoàn Thể, kỹ sư, Hà Nội

244. Võ Trường Thiện, nghề tự do, Khánh Hòa

245. Nguyễn Công Chính, blogger, TP HCM

246. Nguyễn Quốc Sơn, nhiếp ảnh gia, Hà Nội

247. Vũ Thị Nhuận, Nhật Bản

248. Lê Hoàng Lan, cán bộ về hưu, Hà Nội

249. Bùi Ngọc Mai, thợ sửa xe, TP HCM

250. Đặng Bá Mạnh Tri, buôn bán, Thừa Thiên Huế

251. Đặng Văn Lập, kiến trúc sư, Hà Nội

252. Võ Văn Tạo, nhà báo, cựu chiến binh Sư 304 Quảng Trị 1972, Nha Trang

253. Doãn Kiều Anh, kỹ sư, TP HCM

254. Đặng Bích Phượng, Hà Nội

255. Đào Thanh Thủy, hưu trí, Hà Nội

256. Lê Anh Hùng, blogger, Hà Nội

257. Nguyễn Đức Toàn, TP HCM

258. Nguyễn Hữu Trường, công dân, Bình Dương

259. Nguyễn Hải Đăng, doanh nhân, Hà Nội

260. Nguyễn Thu Nguyệt, giảng viên hưu trí, TP HCM

261. Hà Thúc Huy, PGS TS, Đại học Khoa học Tự nhiên, TP HCM

262. Quảng Trọng Nhân, công nhân, TP HCM

263. Trần Lương Sơn, Phó Tiến sĩ, Hà Nội

264. Trần Rạng, giáo viên, TP HCM

265. Phạm Văn Hiền, nguyên giảng viên, trường Chính trị Tô Hiệu, Hải Phòng

266. Ngô Kim Hoa, nhà báo, TP HCM

267. Ngô Thanh Hà, cán bộ hưu trí, TP HCM

268. Nguyễn Phương Anh, doanh nhân, Hà Nội

269. Phạm Phước Vinh, TP HCM

270. Hoàng Minh Tuấn, TP HCM

271. Bùi Thái Sơn, kỹ sư, CHLB Đức

272. Nguễn Đình Ấm, nhà báo, Hà Nội

273. Bùi Văn Mạnh, Hà Nội

274. Nguyễn Vĩnh Nguyên, cựu chiến binh, kỹ sư, Hà Nội

275. Lê Kim-Song, PhD, Australia

276. Phạm Duy Hiển, Vũng Tàu

277. Lê văn Thanh, kỹ sư, quản lý, Hải Phòng

278. Hoàng Văn Vương, giảng viên trường Đại học Bách khoa, Hà Nội

279. Dao Nguyen Ngoc, cựu chiến binh tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc 1982-1985, CHLB Đức

280. Vũ Trí Thức, cử nhân, TP HCM

281. Tran Tri Dung, kỹ sư, Hà Nội

282. Bùi Quang Thắng, thạc sĩ, Hà Nội

283. Nguyễn Thành Nhân, kỹ sư, TP HCM

284. Nguyễn Thế Anh, sinh viên, Hà Nội

285. Thái Văn Tự, kỹ sư, Nghệ An

286. Hoàng Văn Đán, học sinh, Hà Tĩnh

287. Trịnh Ngọc Tiến, bác sĩ, Hà Nội

288. Phạm Vương Ánh, kỹ sư, cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, Nghệ An

289. Trần Xuân Quang, Nghệ An

290. Nguyễn Vũ Hiệp, sinh viên, Hà Nội

291. Nguyễn Trí Dũng, dịch thuật tự do, Hà Nội

292. Lã Việt Dũng, kỹ sư, Hà Nội

293. Phạm Anh Tuấn, nhân viên văn phòng, Gia Lai

294. Nguyễn Chương, nhà báo, TP HCM

295. Tạ Duy Anh, nhà văn, Hà Nội

296. Lê Doãn Cường, kỹ sư, TP HCM

297. Đỗ Toàn Quyền, Giám đốc Quản lý dự án, TP HCM

298. Nguyễn Đăng Ninh, kiến trúc sư, TP HCM

299. Trương Văn Minh, Phó Giám đốc, TP HCM

300. Nguyễn Hùng Duy, kiến trúc sư, TP HCM

301. Nguyễn Văn Dương, dân kinh doanh, Hà Giang

302. Nguyễn Công Hệ, thuyền trưởng viễn dương, đã nghỉ hưu, TP HCM

303. Phan Cự Cường, architech, Hà Nội

304. Nguyễn Minh Khang, nhân viên vi tính, TP HCM

305. Nguyễn Đức Tường, GS TS, cựu giáo sư Đại học Ottawa, Canada, Canada

306. Nguyen Quoc Lan, giáo viên, nghỉ hưu, Ha Noi

307. Phạm Văn Chính, kỹ sư, Hà Nội

308. Hoàng Đức Doanh, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nam

309. Khuất Mạnh Hải, Bộ phận thiết kế, Hà Nội

310. Lê Công Vinh, IT, Vũng Tàu

311. Phạm Minh Khang, sinh viên, TP HCM

312. Đinh Văn Lưu, TP HCM

313. Nguyễn Việt Anh, TS, Đại học Kyoto, Nhật Bản

314. Trịnh Toàn, bảo vệ, Nam Định

315. Bùi Trần Đăng Khoa, luật sư, TP HCM

316. Nguyễn Lương Thịnh, tư vấn đầu tư, TP HCM

317. Trần Công Thắng, bác sỹ, Na Uy

318. Trần Minh Trường, CHLB Đức

319. Bùi Phi Hùng, cán bộ, Hà Nội

320. Chu Trọng Thu, cựu giáo chức, TP HCM

321. Hồ Văn Tích, kỹ sư, TP HCM

322. Nguyễn Thanh Xuân, kỹ sư, TP HCM

323. Toan Ha Tran, Hà Lan

324. Đặng Lợi Minh, giáo viên hưu trí, Hải Phòng

325. Đàm Minh, cựu chiến binh, Hải Phòng

326. Trương Chí Tâm, cử nhân, TP HCM

327. Nguyễn Tiến Đức, kỹ sư, đang nghỉ hưu, TP HCM

328. Trần Thị Hồng Lợt, kế toán, TP HCM

329. Đoàn Văn Ngãi, Hải Phòng

330. Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia Công nghệ Thông tin, Pháp

331. Đặng Nguyệt Ánh, hưu trí, Hà Nội

332. Lê Kim Duy, kỹ sư, Huế

333. Đỗ Như Phương, từng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hungary

334. Bùi Tín, nhà báo tự do, Pháp

335. Thái Nguyễn Hoàng Tuấn, sinh viên, TP HCM

336. Bùi Hoài Mai, họa sĩ, Hà Nội

337. Trần Văn Bang, kỹ sư, TP HCM

338. Vũ Ngọc Sơn, kế toán, Hà Nội

339. Lê Hữu Nghị, kỹ sư, Hà Nội

340. Trần Thị Hường, CHLB Đức

341. Vũ Thị Phương Anh, công dân Việt Nam, TP HCM

342. Trần Ngọc Thành, Ba Lan

343. Nhật Tuấn, nhà văn, TP HCM

344. Nguyễn Huy Dũng, dân thường, Vũng Tàu

345. Hoàng Liên, giảng viên đại học, Hà Nội

346. Nguyễn Phúc Khanh, Đà Nẵng

347. Dương Sanh, cựu giáo viên, Khánh Hòa

348. Nguyễn Việt Hùng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội

349. Phan Minh Quân, cử nhân, TP HCM

350. Đặng Văn Nam, TP HCM

351. Bùi Việt Hà, Hà Nội

352. Nguyễn Ngọc Đức, kỹ sư, Pháp

Bác Đỗ Xuân Thọ thân mến,

Bản Dự thảo Hiến pháp này, theo ngu ý của tôi, chỉ có thể được gọi là "lay động con tim" của toàn dân Việt, nếu nó ÍT NHẤT là "lay động con tim" của nhiều người thuộc Miền Nam VN (một phần bất khả phân ly của đất mẹ VN) sinh ra và lớn lên trên miền đất TỰ DO thời VNCH. Nếu nó "lay động con tim", thì CHÍ ÍT cũng phải được hàng chục hay hàng trăm ngàn chữ ký ủng hộ của người Việt trong và ngoài nước. Nhưng khả năng là nó cũng chỉ nhận được vài ngàn chữ ký quen thuộc của phe Bên Thắng Cuộc mà thôi. Bác THỌ nhớ theo dõi xem tôi nói sai hay không.

Riêng cá nhân tôi (và có thể có những người khác) chỉ nghe tới cái tên VNDCCH, cái Cờ Đỏ Sao Vàng và bài Tiến quân ca ("đường vinh quang xây xác quân thù") là đã 3 chân 4 cẳng chạy tóe khói, đứng xa ngoái cổ nhìn lại, chứ nào dám mon men tới gần để ký tên (dù chỉ trên màn computer ảo) vào cái kiến nghị này.

kẹo mút (khách viếng thăm) gửi lúc 13:07, 23/01/2013 - mã số 77405
Vũ Như Cẩn(khách viếng thăm) viết:
Nói thẳng si nghĩ của 1 thằng Niềm Nam nhá , các đồng chí .

Trước hết , anh Cẩn vô cùng xin lỗi các đồng chí đang quan tâm và theo dõi chủ đề này , vô cùng xin lỗi chú Ku và ban biên tập DL . Anh Cẩn phải chưỡi cái đám bơ sữa ăn hại !!

Anh Cẩn bớt nóng anh Cẩn ơi. Các bạn ý càng như thế thì càng thể hiện cho người ta thấy:

1/ Ích kỷ. Chỉ biết vòi vĩnh cho bản thân chứ có coi trọng đại cục gì đâu. Giống trẻ con đòi kẹo mút.

2/ Kém hiểu biết. Họ cứ nghĩ rằng người dân miền Bắc muốn giết họ, trong khi chính dân miền Bắc cũng bị giết, bị lừa và bị đày đọa khổ sở.

3/ Thời chiến tranh Nam Bắc, phía Nam Hàn từ quân đến tướng cực kỳ nghiêm túc chiến đấu, sống tiết kiệm, kham khổ. Còn các bạn VNCH sống phè phỡn vương giả quen rồi, nay vẫn quen thói mè nheo kiểu em chã không hiểu gì về sự gian nan của việc đấu tranh.

4/ Đầu óc có vấn đề. Người trong nước ai đọc cái tựa Bên Thắng Cuộc cũng hiểu ngay có ý nghĩa mỉa mai trong đó. Ngay từ đầu tác giả cũng đã nói dường như bên được giải phóng lại là miền Bắc. Vậy mà họ lại không đủ khả năng để hiểu.

5/ Trong khi các trí thức từ Hà Nội liên tiếp có những lời lẽ cử chỉ vô cùng đẹp đẽ với các quân nhân VNCH đã hy sinh vì Hoàng Sa thì ngược lại, các bạn Bolsa tiếp tục khoét sâu hố ngăn cách, tiếp tục sỉ vả nhân sĩ trí thức trong nước. Cái gọi là văn hóa, nghĩa tình của VNCH là như vậy chăng?

@Anh Thọ: Để cái link được rồi anh Thọ ơi, đừng cóp pết dài quá.

HongLac (khách viếng thăm) gửi lúc 12:39, 23/01/2013 - mã số 77404
Hóng hớt viết:

Đức, Tiệp, Lan hổng có giống Việt ở cái nội chiến hai miền bác em ạ. Chúng nó bị ách cộng sản ngoại bang nên dân chúng dễ thống nhất rũ bỏ cái rẹt. Cái tầm các bác thấp như thế, nếu ngày xưa các bác nắm được quyền hành thì cũng độc đoán lắm, chết cái đất nước này :D
Mà thôi, bọn em cứ "nhất trí" ủng hộ cái HP này đấy, các bác làm gì được nào?

Hóng hớt lại theo gen (gene) của Bác đổi nick “lia liạ” . “nội chiến hai miền” nó chấm dứt gần 38 năm rồi, đừng có mang ra bịp tiếp nhá đ/c! Trừ các nước Đông Âu nhỏ thuộc Liên Xô củ; Đức, Tiệp, Lan giống hệt CHXHCNVN hiện nay ở chổ CHXHCNVN đang “bị ách cộng sản ngoại bang” Tàu khựa nắm đầu.

Thì “bọn em cứ nhất trí ủng hộ cái HP nầy” có sao đâu!, “bọn anh” chỉ mĩm cười huýt sáo “you got what you deserve”!!! Nhưng mà nếu “bọn em” không phải là cừu thì cũng là nằm mơ vì với bọn “còn Đảng, còn mình”, “bỏ điều 4 HP là chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát” thì “bọn em” cứ tha hồ sử dụng bàn phím mà ca bài “Thỉnh nguyện thư”, “Yêu cầu”, “Kiến nghị” đến “tết Congo” Đảng ta vẫn sống ‘nhăm răng’ , ngu gì tự sát, nên Điều 4 vẫn “nghìn trùng xa cách” bọn em!

Vũ Như Cẩn(khách viếng thăm) (khách viếng thăm) gửi lúc 12:27, 23/01/2013 - mã số 77403
Khách Qua Đường viết:
HongLac viết:
Lại văn Rứa viết:

Thì có ai muốn đếm xỉa đến đồng chí làm gì vì đồng chí có hiểu gì đâu. Giảng bài cho đồng chí lần cuối:

Nửa thế kỷ nay là giai đoạn "ốm", nếu nuốt được cái bản hiến pháp đề nghị này thì mới bắt đầu vào giai đoạn "dậy" nuốt cháo. Sau này khi ổn ổn rồi thì mới bắt đầu đòi ăn cơm (thay cờ, thay ca, khôi phục nghĩa trang binh sĩ, xây cất đài tưởng niệm thuyền nhân...). Đồng chí gộp mẹ nó các giai đoạn vào nhau. Đốt cháy giai đoạn là ngu, lé0 có nước nào cùng hoàn cảnh VN mà làm nổi một lần xong tất cả mọi chuyện như đồng chí mong muốn đâu, đừng mơ hão.

Ối giời! Đ/c Rứa nói rứa làm em nhớ đến bác Hồ! “Tuyên ngôn Độc lập”, rồi là “Hiến pháp 1946” Bác cũng đã nói như rứa! Nhưng Bác có bao giờ thực hiện đâu. Đến khi Bác nắm giữ vận mạng của 1/2 nước thì Bác đẻ ra Hiến pháp 1959, cho đến mười năm sau trước khi Bác về với “cụ Các Mác, cụ Lê Nin” (theo di chúc HCM) thì Bác cũng “đéo” có thực thi Hiến pháp. Thôi xin đ/c Rứa đừng cho em ăn bánh vẽ nữa nhá!!!

Đốt cháy giai đoạn là ngu, lé0 có nước nào cùng hoàn cảnh VN mà làm nổi một lần xong tất cả mọi chuyện như đồng chí mong muốn đâu, đừng mơ hão” ===> làm gì có chuyện tôi mơ, mà là “vì đồng chí có hiểu gì đâu. Giảng bài cho đồng chí lần cuối:” Đừng đi theo con đường láo lừa, mị dân của Bác. Lúc đầu Bác muốn đánh lừa nhân dân VN để tiến hành “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” nên Bác phải láu như thế! Sau khi đã thành công và nắm giữ quyền lực rồi thì Bác tiến hành “Cách mạng XHCN” (nhưng đã bạc mạng). Nếu thành công “Cách mạng XHCN” thì Bác tiến hành “Cách mạng CSCN” và tiến lên “Thế giới đại đồng” như Bác muốn (“Bác đưa một nước qua nô lệ - Tôi đắt năm châu đến đại đồng”)

Còn “đốt cháy giai đoạn” hử! Thử làm như Đông Đức (CHDC Đức), Tiệp Khắc hay Ba Lan xem sao!

Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn HongLac. Cái kiến nghị sửa đổi Hiến pháp nước CHXHCNVN với bản Dự thảo Hiến pháp MỚI này hoàn toàn không quan tâm gì đến TÂM TƯ, DANH DỰ và lòng TỰ HÀO của những người dân Miền Nam trước năm 1975. Đây chỉ là loại độc biên, độc diễn và mang tính áp đặt của những kẻ thuộc Bên Thắng Cuộc, muốn toàn dân ta THỪA NHẬN hiện trạng về cái gọi là "chính nghĩa" của cuộc "kếch mạng" do "kụ" Hồ và ĐCSVN khởi xướng vào năm 1945. Nói cách khác, đây là cách họ muốn sửa đổi những khuyết điểm mà ĐCSVN đã gây ra, bỏ qua một bên mọi tội ác mà ĐCSVN đã làm trong quá khứ. Đây là cách "hòa giải, hòa hợp kiểu CS" mà những người gọi là "trí thức" XHCN đã muốn áp đặt lên mọi người dân VN, qua khẩu hiệu "quên quá khứ, xóa bỏ hận thù" mà ĐCSVN đang lải nhải ngày đêm trong cái Nghị Quyết 36 của Đảng "ta".

Tôi không tin là vận mệnh nước ta sẽ khá hơn qua cung cách hành động này của những người gọi là trí thức, nhân sĩ trong nước hiện nay. Dù thừa nhận bản Dự thảo Hiến pháp này có một số điểm TỐT, tôi tuyệt nhiên không ngửi nổi những điểm như tên nước, quốc kỳ, quốc ca, v.v..., vốn là những biểu tượng của giai đoạn đầy máu xương, tang tóc, đổ vỡ, mất đất, mất biển do "kụ" Hồ và ĐCSVN mang lại cho dân tộc ta. Dù cho bản Dự thảo này có được ĐCSVN chấp thuận, thì với sự độc diễn của cả ĐCSVN và những người của Bên Thắng Cuộc như hiện nay, khó lòng mà nươc ta có thể khá lên được. Tôi tin là cần phải giải thể ĐCSVN, kẻ đã gây ra vô vàn tội lỗi cho nhân dân và đất nước VN, và thẳng thắn, can đảm nhìn lại lịch sử khách quan, trung thực hơn (thay vì nhìn theo kiểu vá víu à la Huy Đức như trong cuốn Bên Thắng Cuộc), may ra mới tìm được con đường sống cho Tổ quốc ta. Chứ cứ khư khư ôm chặt cái "hào quang" quá khứ của Đảng "ta" và của "kụ" Hồ, thì nước ta mãi mãi không bao giờ ngóc đầu lên được, nếu không kể đến chuyện là nó bị đám đồng chí anh em TQ của "kụ" Hồ nuốt tươi không còn cái lông vụn vơi vãi.

Nói thẳng si nghĩ của 1 thằng Niềm Nam nhá , các đồng chí .

Trước hết , anh Cẩn vô cùng xin lỗi các đồng chí đang quan tâm và theo dõi chủ đề này , vô cùng xin lỗi chú Ku và ban biên tập DL . Anh Cẩn phải chưỡi cái đám bơ sữa ăn hại !!

Các đồng chí bơ sữa thân mến !!

Các đồng chí mở mồm ra là bô bô dân miền Nam tự do , dân miền Nam trước 75 , và bẩu rằng đéo hưởi được cái bản dự thảo hiến pháp của các nhân sỹ trong nước . Các đồng chí đại diện được cái...quặc anh đây này !!

Tại sao anh chưỡi thẳng vào mặt các đồng chí như vậy , hả . Tại vì ngoài cái thói vòi vĩnh như con nít thì các đồng chí chưa từng làm bất kỳ 1 việc cụ thể giề , ngay cả việc góp ý bằng bàn phím 1 cách đúng đắn . Trong khi đó , những nhân sỹ trong nước ngày đêm tìm mọi cách , mọi cơ hội , mọi biện pháp đúng đắn và hợp lý trong việc dân chủ hóa , công bằng hóa bản Hiến Pháp cho phù hợp với thời đại .

Các đồng chí làm tró gì có danh dự ,và đã làm được cái tró gì chưa mà đòi tự hào ? Nói coi . Điều tự hào của các đồng chí có phải là hành động cay cú , chê bai, vòi vĩnh , bài bác sức lực của người khác hả ?? Đáng tự hào nhỉ !?

Cay đắng thay , bản dự thảo hết sức tốt đẹp và cần thiết này luôn có cơ may bị bác bỏ bởi lũ cầm quyền . Vì vậy , xét về mặt bản chất , các đồng chí chỉ là 1 lũ ăn hại , y như cái đám cầm quyền hiện nay.

Chưa làm được cái quặc gì thì im mẹ cái họng cho người khác làm , nhá !!

Đỗ Xuân Thọ (khách viếng thăm) gửi lúc 11:39, 23/01/2013 - mã số 77402

Sức mạnh thuyết phục của bản Hiến Pháp mới do các Nhân Sỹ Việt Nam soạn thảo đã lay động mọi con tim vì nó còn tốt hơn HP Mỹ
Đây là danh sách những người ký tên đợt 2:
Đợt 2:

73. Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên thiếu tướng, nguyên ủy viên Trung ương đảng, nguyên cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc

74. Phan Văn Thuận, giám đốc doanh nghiệp, TP HCM

75. Nguyễn Hữu Quý, kỹ sư, Đăk Lăk

76. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, TP HCM

77. Trần Định, nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, Hà Nội

78. Bùi Hữu Hùng, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội

79. Nguyễn Lân Thắng, kỹ sư, Hà Nội

80. Nguyễn Chí Đức, kỹ sư, Hà Nội

81. Nguyễn Đức Nhã, nghề nghiệp tự do, TP HCM

82. Hoàng Cường, kỹ sư, Hà Nội

83. Nguyễn Hồng Kiên, TS, Hà Nội

84. Trương Văn Khiêm, công nhân, CHLB Đức

85. Nguyễn Tường Long, Hoa Kỳ

86. J.B Nguyễn Hữu Vinh, kỹ sư, blogger, Hà Nội

87. Nguyễn Công Huân, Phó Giáo sư trường Đại học Aalborg, Đan Mạch

88. Nguyễn Văn Dũng, lao động tự do, Việt Trì, Phú Thọ

89. Nguyễn Việt Hưng, lập trình viên CNTT, Hà Nội

90. Nguyễn Nam Việt, linh mục Công giáo thuộc Giáo phận Vinh, Hoa Kỳ

91. Nguyen Huu Chanh, Hoa Kỳ

92. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Vật lý, CNRS và Đại học Paris VI, Pháp

93. Dạ Thảo Phương, Hà Nội

94. Tran Thi Thanh Tam, Ba Lan

95. Nguyễn Xuân Thọ, kỹ sư, CHLB Đức

96. Vũ Tuấn, TS, freelancer, CHLB Đức

97. Phan Văn Song, nguyên Quyền Hiệu trưởng trường THPT Chuyên Bến Tre, Australia

98. Nguyễn Xuân Hoài, cán bộ hưu trí, TP HCM

99. Hà Dương Tường, nguyên giáo sư đại học công nghệ Compiègne, Pháp

100. Trần Ngọc Tuấn, nhà văn, nhà báo, Cộng hòa Czech

101. Lê Hà Nam, quản lý sản xuất, Bình Dương

102. Trần Kim Thập, giáo chức, Australia

103. Pham Tuan Anh, công dân Việt Nam, Cộng hòa Czech

104. Nguyễn Đức Việt, chuyên viên lập trình, Australia

105. Nguyễn Trung Thành, kỹ sư, Phú Thọ

106. Trinh Hồng Trang, giáo viên, Hà Nội

107. André Menras - Hồ Cương Quyết, cựu tù chính trị, Chủ tịch Hiệp hội trao đổi sư phạm Pháp - Việt (ADEP), Pháp

108. Sa Huỳnh, kỹ sư, Berlin, CHLB Đức

109. Phạm Tư Thanh Thiện, nguyên Phó Trưởng ban Việt ngữ đài phát thanh RFI, Pháp

110. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo, nguyên Phó Tổng thư kí Hội người Việt Nam tại Pháp, phiên dịch Phái đoàn VNDCCH tại Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973), Pháp

111. Ðỗ Ðăng Giu, nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS, Ðại học Paris-Sud, Pháp

112. Nguyễn Mạnh Cường, kinh doanh, Praha, Cộng hòa Czech

113. Nguyễn Hoàng, kĩ sư, đã nghỉ hưu, Hoa Kỳ

114. Nguyễn Đức Hiệp, chuyên gia Khoa học khí quyển, Australia

115. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, nguyên chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng, Đà Lạt

116. Hiền Thục, nghệ nhân mỹ thuật ứng dụng, nhà báo, nguyên phóng viên, biên tập viên Đài Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng, Đà Lạt

117. Huỳnh Tấn, cựu học sinh Quốc gia Nghĩa tử, TP HCM

118. Vũ Cao Đàm, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội

119. Vũ Tiến Nga, kỹ sư cơ khí, TP HCM

120. Bùi Xuân Trường, kỹ sư cơ khí, Phú Thọ

121. Trần Quang Thành, nhà báo, Slovakia

122. Hoàng Thị Hà, hưu trí, Hà Nội

123. Lê Thăng Long, TP HCM

124. Hồ Sỹ Lâm, kỹ sư, Nghệ An

125. Phạm Lê Duy Anh, sinh viên, Hà Nội

126. Phạm Văn Ngữ, kỹ sư, đã nghỉ hưu, Hà Nội

127. Nguyễn Thanh Hải, kỹ sư, Quảng Ninh

128. Phạm Hữu Trí, cán bộ hưu trí TP HCM

129. Hoàng Gia Cương, nhà thơ, Hà Nội

130. Vũ Ngọc Thắng, hướng dẫn viên, Hải Phòng

131. Trần Công Khánh, Hải Phòng

132. Đặng Đăng Phước, giáo viên, Buôn Ma Thuột

133. Khải Nguyên, nhà giáo, nhà văn, Hải Phòng

134. Nguyễn Phạm Kim Sơn, công dân Việt Nam, Đà Nẵng

135. Duong Van Vinh, nguyên sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, TP HCM

136. Nguyễn Võ Toàn Quyền, xây dựng, Ninh Thuận

137. Giang Thanh Tung, Quảng Ninh

138. Nguyễn Văn Pháp, kỹ sư, Đồng Nai

139. Nguyễn Hoài Bắc, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 223 từng tham gia chiến đấu 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, nguyên kỹ sư, Hà Nội

140. Đặng Văn Tân, công dân Việt Nam, TP HCM

141. Vũ Văn Thế, giáo viên, Nam Định

142. Nguyễn Quốc Minh, nhà thơ, Hà Nội

143. Nguyễn Ngọc Cúc, kỹ sư điện, Bình Dương

144. Nguyễn Quang Hải, sinh viên, Hà Nội

145. Nguyễn Chí Tuyến, Hà Nội

146. Trương Minh Tam, quản lý thương mại, Hà Nam

147. Nguyễn Đức Quỳ, công dân Việt nam, Hà Nội

148. Nguyễn Đức Phổ, nông dân, TP HCM

149. Nguyễn Trọng Thể, kỹ sư, Hà Tĩnh

150. Đồng Quang Vinh, hưu trí, Khánh Hòa

151. Minh Thọ, luật gia, nhà báo, nguyên Trưởng đại diện Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, TP HCM

152. Lê Văn Sinh, cựu giảng viên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội

153. Ngô Đức Thọ, PGS TS, Hà Nội

154. Nguyễn Thị Dương Hà, luật sư, Hà Nội

155. Dương Văn Minh, nghiên cứu viên, TP HCM

156. Nguyễn Văn Tường, kỹ sư, Hà Nam

157. Nguyen Thuong Kinh, bác sĩ, Hà Nội

158. Hoàng Lại Giang, nhà văn, TP HCM

159. Trần Minh Thảo, viết văn, Lâm Đồng

160. Phạm Khiêm Ích, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội

161. Trần Hữu Khánh, nguyên biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ, TP HCM

162. Lê Văn, TS, hưu trí, Tân Bình, TP HCM

163. Phùng Hoài Ngọc, cựu giảng viên đại học, hội viên Hội nhà báo Việt Nam, An Giang

164. Nguyễn Đăng Hưng, TSKH, Giáo sư Danh dự trường Đại học Liège, Bỉ

165. Vũ Đức Lộc, công dân nước Việt Nam, Hàn Quốc

166. Vu Cong Giao, TS, giảng viên đại học, Ha Noi

167. Nguyen Thi Hoai Phuong, làm nghề tự do, Hà Nội

168. Hoàng Sơn, nông dân, Thái Bình

169. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, TP HCM

170. Vũ Hải Long, TSKH, nghỉ hưu, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, TP HCM

171. Nguyễn Hồng Khoái, chuyên viên Tư vấn Tài chính, hội viên CLB Kế toán trưởng toàn quốc, hội viên hội Tư vấn Thuế Việt Nam, Hà Nội

172. Tran Thi Quyen, Hội An

173. Nguyễn Duy, nhà thơ, TP HCM

174. Đặng Xuân Thắng, TP HCM

175. Trần Hải, kỹ sư, TP HCM

176. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên văn hóa, TP HCM

177. Nguyễn Quang Lập, nhà văn, TP HCM

178. Phero Tran Duc Cuong, linh mục Giáo phận Đà Nẵng

179. Tô Oanh, giáo viên nghỉ hưu, Bắc Giang

180. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ, TP HCM

181. Lê Trung Hà, CHLB Đức

182. Trần Xuân Nam, TS , Hà Nội

183. Lê Thanh Trường, cử nhân, Đà Nẵng

184. Nguyễn Xuân Liên, Giám đốc Bảo tàng Chiến tranh Ngoài trời Vực Quành, Quảng Bình

185. Hoàng Thế Trung, kỹ sư, Gia Lai

186. Vũ Minh Trí, kĩ sư, Hà Nội

187. Đào Minh Châu, TS, Cơ quan Hợp tác Phát triển Thuỵ Sĩ, Hà Nội

188. Nguyễn Tâm Thiện, công nhân kỹ thuật, Strasbourg, Pháp

189. Vũ Quốc Ngữ, thạc sĩ, nhà báo, Hà Nội

190. Lê Khánh Hùng, TS, Hà Nội

191. Phạm Thị Lâm, cán bộ hưu trí, Hà Nội

192. Nguyễn Đạt, kiến trúc sư, công chức, Hoa Kỳ

193. Nguyễn Duy Phúc, thạc sĩ, kiến trúc sư, Hà Hội

194. Huy Đức, nhà báo, đang du học tại Mỹ

195. Nguyễn Minh Tiến, Hải Phòng

196. Đào Hà Anh, sinh viên cao học, Hàn Quốc

197. Thái Văn Cầu, chuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ

198. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM

199. Trần Thiện Kế, dược sĩ, Hà Nội

200. Phạm Hữu Lê Quốc Phục, quản lý, Đà Nẵng

201. Nguyễn Ngọc Châu, PGS TS, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội

202. Phạm Văn Đỉnh, TSKH, Pháp

203. Nguyễn Văn Lịch, kỹ sư, Hà Nội

204. Lê Hùng, hưu trí, Hà Nội

205. Le Van Phuc, hưu trí, Hà Nội

206. Đoàn Phú Huyên, kỹ sư, Hà Nội

207. Lưu Hà Sĩ Tâm, kỹ sư, Thái Bình

208. Phạm Anh Tuấn, TS, Hà Nội

209. Hồ Thị Sinh Nhật, giáo viên, Hà Nội

210. Lương Sơn Bạc, kỹ sư, Kon Tum

211. Đoàn Xuân Cao, công nghệ thông tin, Hải Phòng

212. Trịnh Phúc Tuấn, thạc sĩ, nguyên Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Huế

213. Phạm Văn Mầu, cử nhân, cán bộ hưu trí, Hà Nội

214. Phan Thế Vấn, bác sĩ, TP HCM

215. Lê Ngọc Thanh, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, TP HCM

216. Nguyễn Phương Minh, công dân, Hà Nội

217. Cấn Văn Tuất, PGS TS, nguyên giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội

218. Ông Việt, kinh doanh, TP HCM

219. Nguyễn Ngọc Diễm Phượng, công nhân viên, TP HCM

220. Hoàng Hưng, cây bút tự do, TP HCM

221. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kỹ thuật và Kinh tế Biển TP Hồ Chí Minh, TP HCM

222. Nguyễn Vi Khải, nguyên Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Hà Nội

223. Trần Tố Nga, cựu tù chính trị trước 1975, Pháp

224. Trần Văn Vinh, hướng dẫn du lịch, Hà Nội

225. Phạm Văn Lễ, kỹ sư, TP HCM

226. Trần Quốc Tuấn, kinh doanh, Hà Nội

227. Phạm Tuấn Trung, kỹ sư tin học, Hà Nội

228. Trịnh Hồng Chương, lập trình viên, Thanh Hóa

229. Phan Trọng Khang, thương binh hạng A loại 2/4, Hà Nội

230. Phạm Trung Dũng, TS, Hà Nội

231. Vũ Ngọc Thọ, cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa của miền Nam trước 1975, Australia

232. Đào Tấn Phần, giáo viên, cựu ứng cử viên (tự ứng cử) Quốc hội Việt Nam khóa 13, Phú Yên

233. Hoàng Đức Vương, kỹ sư, TP HCM

234. Trần Tư Bình, giáo viên, Australia

235. Vũ Ngoc Anh, cử nhân luật, Hà Nội

236. Nguyen Huu Loc, công nhân, TP HCM

237. Chu Sơn, nhà thơ, TP HCM

238. Nguyễn Thị Kim Thoa, bác sĩ, TP HCM

239. Nguyễn Hồng Quang, thạc sĩ, Viện Cơ học, Hà Nội

240. Đinh Nguyễn, họa sĩ, Canada

241. Đỗ Xuân Thọ, TS, Hà Nội

242. Hoàng Lan, nguyên Trưởng Khoa Vật Lý trường Đaịhọc Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM

243. Lê Đoàn Thể, kỹ sư, Hà Nội

244. Võ Trường Thiện, nghề tự do, Khánh Hòa

245. Nguyễn Công Chính, blogger, TP HCM

246. Nguyễn Quốc Sơn, nhiếp ảnh gia, Hà Nội

247. Vũ Thị Nhuận, Nhật Bản

248. Lê Hoàng Lan, cán bộ về hưu, Hà Nội

249. Bùi Ngọc Mai, thợ sửa xe, TP HCM

250. Đặng Bá Mạnh Tri, buôn bán, Thừa Thiên Huế

251. Đặng Văn Lập, kiến trúc sư, Hà Nội

252. Võ Văn Tạo, nhà báo, cựu chiến binh Sư 304 Quảng Trị 1972, Nha Trang

253. Doãn Kiều Anh, kỹ sư, TP HCM

254. Đặng Bích Phượng, Hà Nội

255. Đào Thanh Thủy, hưu trí, Hà Nội

256. Lê Anh Hùng, blogger, Hà Nội

257. Nguyễn Đức Toàn, TP HCM

258. Nguyễn Hữu Trường, công dân, Bình Dương

259. Nguyễn Hải Đăng, doanh nhân, Hà Nội

260. Nguyễn Thu Nguyệt, giảng viên hưu trí, TP HCM

261. Hà Thúc Huy, PGS TS, Đại học Khoa học Tự nhiên, TP HCM

262. Quảng Trọng Nhân, công nhân, TP HCM

263. Trần Lương Sơn, Phó Tiến sĩ, Hà Nội

264. Trần Rạng, giáo viên, TP HCM

265. Phạm Văn Hiền, nguyên giảng viên, trường Chính trị Tô Hiệu, Hải Phòng

266. Ngô Kim Hoa, nhà báo, TP HCM

267. Ngô Thanh Hà, cán bộ hưu trí, TP HCM

268. Nguyễn Phương Anh, doanh nhân, Hà Nội

269. Phạm Phước Vinh, TP HCM

270. Hoàng Minh Tuấn, TP HCM

271. Bùi Thái Sơn, kỹ sư, CHLB Đức

272. Nguễn Đình Ấm, nhà báo, Hà Nội

273. Bùi Văn Mạnh, Hà Nội

274. Nguyễn Vĩnh Nguyên, cựu chiến binh, kỹ sư, Hà Nội

275. Lê Kim-Song, PhD, Australia

276. Phạm Duy Hiển, Vũng Tàu

277. Lê văn Thanh, kỹ sư, quản lý, Hải Phòng

278. Hoàng Văn Vương, giảng viên trường Đại học Bách khoa, Hà Nội

279. Dao Nguyen Ngoc, cựu chiến binh tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc 1982-1985, CHLB Đức

280. Vũ Trí Thức, cử nhân, TP HCM

281. Tran Tri Dung, kỹ sư, Hà Nội

282. Bùi Quang Thắng, thạc sĩ, Hà Nội

283. Nguyễn Thành Nhân, kỹ sư, TP HCM

284. Nguyễn Thế Anh, sinh viên, Hà Nội

285. Thái Văn Tự, kỹ sư, Nghệ An

286. Hoàng Văn Đán, học sinh, Hà Tĩnh

287. Trịnh Ngọc Tiến, bác sĩ, Hà Nội

288. Phạm Vương Ánh, kỹ sư, cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, Nghệ An

289. Trần Xuân Quang, Nghệ An

290. Nguyễn Vũ Hiệp, sinh viên, Hà Nội

291. Nguyễn Trí Dũng, dịch thuật tự do, Hà Nội

292. Lã Việt Dũng, kỹ sư, Hà Nội

293. Phạm Anh Tuấn, nhân viên văn phòng, Gia Lai

294. Nguyễn Chương, nhà báo, TP HCM

295. Tạ Duy Anh, nhà văn, Hà Nội

296. Lê Doãn Cường, kỹ sư, TP HCM

297. Đỗ Toàn Quyền, Giám đốc Quản lý dự án, TP HCM

298. Nguyễn Đăng Ninh, kiến trúc sư, TP HCM

299. Trương Văn Minh, Phó Giám đốc, TP HCM

300. Nguyễn Hùng Duy, kiến trúc sư, TP HCM

301. Nguyễn Văn Dương, dân kinh doanh, Hà Giang

302. Nguyễn Công Hệ, thuyền trưởng viễn dương, đã nghỉ hưu, TP HCM

303. Phan Cự Cường, architech, Hà Nội

304. Nguyễn Minh Khang, nhân viên vi tính, TP HCM

305. Nguyễn Đức Tường, GS TS, cựu giáo sư Đại học Ottawa, Canada, Canada

306. Nguyen Quoc Lan, giáo viên, nghỉ hưu, Ha Noi

307. Phạm Văn Chính, kỹ sư, Hà Nội

308. Hoàng Đức Doanh, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nam

309. Khuất Mạnh Hải, Bộ phận thiết kế, Hà Nội

310. Lê Công Vinh, IT, Vũng Tàu

311. Phạm Minh Khang, sinh viên, TP HCM

312. Đinh Văn Lưu, TP HCM

313. Nguyễn Việt Anh, TS, Đại học Kyoto, Nhật Bản

314. Trịnh Toàn, bảo vệ, Nam Định

315. Bùi Trần Đăng Khoa, luật sư, TP HCM

316. Nguyễn Lương Thịnh, tư vấn đầu tư, TP HCM

317. Trần Công Thắng, bác sỹ, Na Uy

318. Trần Minh Trường, CHLB Đức

319. Bùi Phi Hùng, cán bộ, Hà Nội

320. Chu Trọng Thu, cựu giáo chức, TP HCM

321. Hồ Văn Tích, kỹ sư, TP HCM

322. Nguyễn Thanh Xuân, kỹ sư, TP HCM

323. Toan Ha Tran, Hà Lan

324. Đặng Lợi Minh, giáo viên hưu trí, Hải Phòng

325. Đàm Minh, cựu chiến binh, Hải Phòng

326. Trương Chí Tâm, cử nhân, TP HCM

327. Nguyễn Tiến Đức, kỹ sư, đang nghỉ hưu, TP HCM

328. Trần Thị Hồng Lợt, kế toán, TP HCM

329. Đoàn Văn Ngãi, Hải Phòng

330. Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia Công nghệ Thông tin, Pháp

331. Đặng Nguyệt Ánh, hưu trí, Hà Nội

332. Lê Kim Duy, kỹ sư, Huế

333. Đỗ Như Phương, từng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hungary

334. Bùi Tín, nhà báo tự do, Pháp

335. Thái Nguyễn Hoàng Tuấn, sinh viên, TP HCM

336. Bùi Hoài Mai, họa sĩ, Hà Nội

337. Trần Văn Bang, kỹ sư, TP HCM

338. Vũ Ngọc Sơn, kế toán, Hà Nội

339. Lê Hữu Nghị, kỹ sư, Hà Nội

340. Trần Thị Hường, CHLB Đức

341. Vũ Thị Phương Anh, công dân Việt Nam, TP HCM

342. Trần Ngọc Thành, Ba Lan

343. Nhật Tuấn, nhà văn, TP HCM

344. Nguyễn Huy Dũng, dân thường, Vũng Tàu

345. Hoàng Liên, giảng viên đại học, Hà Nội

346. Nguyễn Phúc Khanh, Đà Nẵng

347. Dương Sanh, cựu giáo viên, Khánh Hòa

348. Nguyễn Việt Hùng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội

349. Phan Minh Quân, cử nhân, TP HCM

350. Đặng Văn Nam, TP HCM

351. Bùi Việt Hà, Hà Nội

352. Nguyễn Ngọc Đức, kỹ sư, Pháp

Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 10:57, 23/01/2013 - mã số 77398
HongLac viết:
Lại văn Rứa viết:

Thì có ai muốn đếm xỉa đến đồng chí làm gì vì đồng chí có hiểu gì đâu. Giảng bài cho đồng chí lần cuối:

Nửa thế kỷ nay là giai đoạn "ốm", nếu nuốt được cái bản hiến pháp đề nghị này thì mới bắt đầu vào giai đoạn "dậy" nuốt cháo. Sau này khi ổn ổn rồi thì mới bắt đầu đòi ăn cơm (thay cờ, thay ca, khôi phục nghĩa trang binh sĩ, xây cất đài tưởng niệm thuyền nhân...). Đồng chí gộp mẹ nó các giai đoạn vào nhau. Đốt cháy giai đoạn là ngu, lé0 có nước nào cùng hoàn cảnh VN mà làm nổi một lần xong tất cả mọi chuyện như đồng chí mong muốn đâu, đừng mơ hão.

Ối giời! Đ/c Rứa nói rứa làm em nhớ đến bác Hồ! “Tuyên ngôn Độc lập”, rồi là “Hiến pháp 1946” Bác cũng đã nói như rứa! Nhưng Bác có bao giờ thực hiện đâu. Đến khi Bác nắm giữ vận mạng của 1/2 nước thì Bác đẻ ra Hiến pháp 1959, cho đến mười năm sau trước khi Bác về với “cụ Các Mác, cụ Lê Nin” (theo di chúc HCM) thì Bác cũng “đéo” có thực thi Hiến pháp. Thôi xin đ/c Rứa đừng cho em ăn bánh vẽ nữa nhá!!!

Đốt cháy giai đoạn là ngu, lé0 có nước nào cùng hoàn cảnh VN mà làm nổi một lần xong tất cả mọi chuyện như đồng chí mong muốn đâu, đừng mơ hão” ===> làm gì có chuyện tôi mơ, mà là “vì đồng chí có hiểu gì đâu. Giảng bài cho đồng chí lần cuối:” Đừng đi theo con đường láo lừa, mị dân của Bác. Lúc đầu Bác muốn đánh lừa nhân dân VN để tiến hành “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” nên Bác phải láu như thế! Sau khi đã thành công và nắm giữ quyền lực rồi thì Bác tiến hành “Cách mạng XHCN” (nhưng đã bạc mạng). Nếu thành công “Cách mạng XHCN” thì Bác tiến hành “Cách mạng CSCN” và tiến lên “Thế giới đại đồng” như Bác muốn (“Bác đưa một nước qua nô lệ - Tôi đắt năm châu đến đại đồng”)

Còn “đốt cháy giai đoạn” hử! Thử làm như Đông Đức (CHDC Đức), Tiệp Khắc hay Ba Lan xem sao!

Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn HongLac. Cái kiến nghị sửa đổi Hiến pháp nước CHXHCNVN với bản Dự thảo Hiến pháp MỚI này hoàn toàn không quan tâm gì đến TÂM TƯ, DANH DỰ và lòng TỰ HÀO của những người dân Miền Nam trước năm 1975. Đây chỉ là loại độc biên, độc diễn và mang tính áp đặt của những kẻ thuộc Bên Thắng Cuộc, muốn toàn dân ta THỪA NHẬN hiện trạng về cái gọi là "chính nghĩa" của cuộc "kếch mạng" do "kụ" Hồ và ĐCSVN khởi xướng vào năm 1945. Nói cách khác, đây là cách họ muốn sửa đổi những khuyết điểm mà ĐCSVN đã gây ra, bỏ qua một bên mọi tội ác mà ĐCSVN đã làm trong quá khứ. Đây là cách "hòa giải, hòa hợp kiểu CS" mà những người gọi là "trí thức" XHCN đã muốn áp đặt lên mọi người dân VN, qua khẩu hiệu "quên quá khứ, xóa bỏ hận thù" mà ĐCSVN đang lải nhải ngày đêm trong cái Nghị Quyết 36 của Đảng "ta".

Tôi không tin là vận mệnh nước ta sẽ khá hơn qua cung cách hành động này của những người gọi là trí thức, nhân sĩ trong nước hiện nay. Dù thừa nhận bản Dự thảo Hiến pháp này có một số điểm TỐT, tôi tuyệt nhiên không ngửi nổi những điểm như tên nước, quốc kỳ, quốc ca, v.v..., vốn là những biểu tượng của giai đoạn đầy máu xương, tang tóc, đổ vỡ, mất đất, mất biển do "kụ" Hồ và ĐCSVN mang lại cho dân tộc ta. Dù cho bản Dự thảo này có được ĐCSVN chấp thuận, thì với sự độc diễn của cả ĐCSVN và những người của Bên Thắng Cuộc như hiện nay, khó lòng mà nươc ta có thể khá lên được. Tôi tin là cần phải giải thể ĐCSVN, kẻ đã gây ra vô vàn tội lỗi cho nhân dân và đất nước VN, và thẳng thắn, can đảm nhìn lại lịch sử khách quan, trung thực hơn (thay vì nhìn theo kiểu vá víu à la Huy Đức như trong cuốn Bên Thắng Cuộc), may ra mới tìm được con đường sống cho Tổ quốc ta. Chứ cứ khư khư ôm chặt cái "hào quang" quá khứ của Đảng "ta" và của "kụ" Hồ, thì nước ta mãi mãi không bao giờ ngóc đầu lên được, nếu không kể đến chuyện là nó bị đám đồng chí anh em TQ của "kụ" Hồ nuốt tươi không còn cái lông vụn vơi vãi.

Hóng hớt (khách viếng thăm) gửi lúc 09:06, 23/01/2013 - mã số 77393
HongLac viết:
Còn “đốt cháy giai đoạn” hử! Thử làm như Đông Đức (CHDC Đức), Tiệp Khắc hay Ba Lan xem sao!

Đức, Tiệp, Lan hổng có giống Việt ở cái nội chiến hai miền bác em ạ. Chúng nó bị ách cộng sản ngoại bang nên dân chúng dễ thống nhất rũ bỏ cái rẹt. Cái tầm các bác thấp như thế, nếu ngày xưa các bác nắm được quyền hành thì cũng độc đoán lắm, chết cái đất nước này :D
Mà thôi, bọn em cứ "nhất trí" ủng hộ cái HP này đấy, các bác làm gì được nào?

Visiteur (khách viếng thăm) gửi lúc 03:59, 23/01/2013 - mã số 77387
Trích dẫn:
Điều 4. Công dân

1. Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được luật quy định.

2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam, giao nộp cho nhà nước khác.
...

Điều 4, điểm 2, có thể hiểu như thế nào về chữ "trục xuất" ?
Ví dụ 1 :
ông A có quốc tịch VN và cư ngụ ở VN, bị chính phủ nước B yêu cầu dẫn độ (extradition) qua nước B. Theo điểm 2 của điều 4, có phải là ông A không bị đưa qua nước B để hầu tòa ?

Ví dụ 2 :
ông C người nước ngoài đến cư ngụ tại VN và sau một thời gian đủ điều kiện theo luật định, ông C có quốc tịch VN. Nếu VN có luật tước quốc tịch VN vì một công dân nào đó phạm pháp nặng chẳng hạn như ông C làm đám cưới giả để có quốc tịch VN thì ông C mất quốc tịch và bị đuổi (trục xuất) ra khỏi VN. Nếu ông C không có quốc tịch nào khác thì trục xuất ông C đi đâu ? Luật tước quốc tịch có vi phạm Điều 4, điểm 2 không ?

Quốc Thanh (khách viếng thăm) gửi lúc 02:48, 23/01/2013 - mã số 77379

Đọc qua bản kiến nghị này tôi rất đồng ý,đây mới là bản HP của dân.

HongLac (khách viếng thăm) gửi lúc 02:41, 23/01/2013 - mã số 77378
Lại văn Rứa viết:

Thì có ai muốn đếm xỉa đến đồng chí làm gì vì đồng chí có hiểu gì đâu. Giảng bài cho đồng chí lần cuối:

Nửa thế kỷ nay là giai đoạn "ốm", nếu nuốt được cái bản hiến pháp đề nghị này thì mới bắt đầu vào giai đoạn "dậy" nuốt cháo. Sau này khi ổn ổn rồi thì mới bắt đầu đòi ăn cơm (thay cờ, thay ca, khôi phục nghĩa trang binh sĩ, xây cất đài tưởng niệm thuyền nhân...). Đồng chí gộp mẹ nó các giai đoạn vào nhau. Đốt cháy giai đoạn là ngu, lé0 có nước nào cùng hoàn cảnh VN mà làm nổi một lần xong tất cả mọi chuyện như đồng chí mong muốn đâu, đừng mơ hão.

Ối giời! Đ/c Rứa nói rứa làm em nhớ đến bác Hồ! “Tuyên ngôn Độc lập”, rồi là “Hiến pháp 1946” Bác cũng đã nói như rứa! Nhưng Bác có bao giờ thực hiện đâu. Đến khi Bác nắm giữ vận mạng của 1/2 nước thì Bác đẻ ra Hiến pháp 1959, cho đến mười năm sau trước khi Bác về với “cụ Các Mác, cụ Lê Nin” (theo di chúc HCM) thì Bác cũng “đéo” có thực thi Hiến pháp. Thôi xin đ/c Rứa đừng cho em ăn bánh vẽ nữa nhá!!!

Đốt cháy giai đoạn là ngu, lé0 có nước nào cùng hoàn cảnh VN mà làm nổi một lần xong tất cả mọi chuyện như đồng chí mong muốn đâu, đừng mơ hão” ===> làm gì có chuyện tôi mơ, mà là “vì đồng chí có hiểu gì đâu. Giảng bài cho đồng chí lần cuối:” Đừng đi theo con đường láo lừa, mị dân của Bác. Lúc đầu Bác muốn đánh lừa nhân dân VN để tiến hành “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” nên Bác phải láu như thế! Sau khi đã thành công và nắm giữ quyền lực rồi thì Bác tiến hành “Cách mạng XHCN” (nhưng đã bạc mạng). Nếu thành công “Cách mạng XHCN” thì Bác tiến hành “Cách mạng CSCN” và tiến lên “Thế giới đại đồng” như Bác muốn (“Bác đưa một nước qua nô lệ - Tôi đắt năm châu đến đại đồng”)

Còn “đốt cháy giai đoạn” hử! Thử làm như Đông Đức (CHDC Đức), Tiệp Khắc hay Ba Lan xem sao!

Khách Tôn Kính Đảng (khách viếng thăm) gửi lúc 02:07, 23/01/2013 - mã số 77376

Về khái quát thì bản dự thảo HP này thể hiện được tinh hoa và tính tự cường của dân tộc, không còn nô lệ tư tưởng hai ông Tây, nhiều điều trong dự thảo giống như HP 1946, có ý nghiã tiến bộ vì rõ ràng chế độ Cộng hòa tốt hơn chế độ CS, dự thảo này có xu hướng của của các nước tư bản tiến bộ, đó là mơ ước của người dân Việt Nam. Nhưng chỉ có nằm mơ mới có HP như thế vì trong thực tế chính quyền CS hiện nay xóa ngay bản HP này khi nó chưa được đem ra trưng cầu dân ý, họ vẫn giữ cái HP nhà quê 1992 câu cú chẳng ra gì nhưng nó lại thể hiện tính kiên định (bảo thủ) theo chủ nghiã Mác Lê nin. Chính quyền sẽ giữ tinh thần HP 1992 lại và chỉ sửa vài câu hoặc ý để hợp pháp hóa việc tiếm qưyền hơn nữa của nhân dân.

Có điều là HP phải do quốc hội thông qua, vậy quốc hội cũ mèm liệu có thông qua bản dự thảo HP này không nếu như chính quyền cho phép? Còn chắc gì họ công khai bản dự thảo này để lấy ý kiến nhân dân?

Lại văn Rứa (khách viếng thăm) gửi lúc 00:58, 23/01/2013 - mã số 77367
HongLac viết:
“Ốm dậy” thì đã từ năm 1945! “Ăn cháo” thì (nhân dân VN) cũng đã ăn khoảng 80 năm rồi! Nay lại phải “ăn cháo” Điều 11 nói trên thì xin tha cho em đi đ/c!

Thì có ai muốn đếm xỉa đến đồng chí làm gì vì đồng chí có hiểu gì đâu. Giảng bài cho đồng chí lần cuối:

Nửa thế kỷ nay là giai đoạn "ốm", nếu nuốt được cái bản hiến pháp đề nghị này thì mới bắt đầu vào giai đoạn "dậy" nuốt cháo. Sau này khi ổn ổn rồi thì mới bắt đầu đòi ăn cơm (thay cờ, thay ca, khôi phục nghĩa trang binh sĩ, xây cất đài tưởng niệm thuyền nhân...). Đồng chí gộp mẹ nó các giai đoạn vào nhau. Đốt cháy giai đoạn là ngu, lé0 có nước nào cùng hoàn cảnh VN mà làm nổi một lần xong tất cả mọi chuyện như đồng chí mong muốn đâu, đừng mơ hão.

Mà khôn ra, nếu các đồng chí biết gạt tự ái vặt qua một bên, vừa vác cờ đỏ vừa vác cờ vàng thể hiện tình đoàn kết với người dân trong nước, cô lập đảng cộng sản, thì chắc bây giờ VN có dân chủ mẹ nó từ lâu rồi. Ngày xưa Câu Tiễn nén hận quỳ gối nuốt kứt còn dám làm, đó mới là bậc đại trí.

Nên nhớ rằng người dân miền Bắc (và một số ít dân miền Nam theo CS) cũng là nạn nhân chịu bao thảm thương của chế độ còn đau hơn các đồng chí nhiều, đâu phải chỉ riêng các đồng chí bị "tổn thương" mà nay đòi hỏi nọ kia như lũ trẻ nít vậy. Người ta đang chủ động từng bước đòi lại những gì đã mất, còn các đồng chí thì luôn thụ động ăn theo mà thôi, thậm chí đã không giúp được gì còn phá đám.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
11 + 7 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Bấm vào đây để xem thể lệ cuộc thi sáng tác video Quyền Con Người và Tôi 2013

Suy ngẫm

Những người đồng ý từ bỏ một chút tự do để tìm kiếm sự an toàn thì không xứng đáng được hưởng tự do và an toàn, và họ sẽ mất cả hai thứ đó...

— Benjamin Franklin

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 1 thành viên545 khách truy cập.

Thành viên online

Biên tập viên

Kỷ lục: Có 2315 người ghé thăm vào 11-03-2013 lúc 13h29.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page