Nguyễn Gia Kiểng - Hiến pháp: yêu cầu và kiến nghị?

Nguyễn Gia Kiểng
Chia sẻ bài viết này

“...Phong trào dân chủ cần một cuộc thảo luận rốt ráo và thẳng thắn để đạt tới đồng thuận nếu không muốn bị chia rẽ và tê liệt vào lúc mà lịch sử đang có dấu hiệu sắp sang trang...”

Kiến nghị sửa đổi hiến pháp 1992 do 72 nhân sĩ chủ xướng, gọi tắt là Kiến nghị 72 theo yêu cầu của chính các vị này, đã được hơn 5000 người ký tên ủng hộ vào lúc bài này được viết ra. Đó là một kết quả tích cực, tương tự như Tuyên Ngôn 8406 trước đây, trong đó một số đông đảo người Việt Nam đã công khai lên tiếng muốn chấm dứt độc quyền của ĐCSVN.

Kiến nghị 72 đã chia rẽ các bạn tôi thành hai phe, một phe ủng hộ và một phe không ủng hộ. Điều đáng nói cả hai phe đều có những nhận định gần như nhau.

Trước hết là về hiến pháp.

Hiến pháp là hợp đồng sống chung của một dân tộc. Nó xác định chúng ta muốn sống với nhau như thế nào và xây dựng với nhau tương lai chung nào. Nó có thể được viết thành văn bản hay không nhưng nó bao giờ cũng là điều quan trọng nhất đối với một quốc gia. Từ đó có ít nhất hai hệ luận.

Hệ luận thứ nhất là mọi người Việt Nam phải có chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau khi thảo luận về hiến pháp. Không được có tiếng nói tương đương với bị loại bỏ, chỉ có tiếng nói phụ họa tương đương với bị khinh bỉ và áp bức. Như vậy thảo luận về hiến pháp là quyền trên đó ta không thể nhân nhượng. Không thể có quan hệ xin-cho. Không ai có thể chối cãi một thực tế là đảng cộng sản có bạo lực và đã dựa vào bạo lực này để tước đoạt nhiều quyền cơ bản của nhân dân, cư xử không khác một lực lượng chiếm đóng. Chúng ta không thể phủ nhận thực trạng đáng phẫn nộ này trong khi chưa thay đổi được nó, nhưng không phủ nhận không có nghĩa là chấp nhận. Trên hiến pháp không thể có vấn đề yêu cầu và kiến nghị. Một bản lên tiếng chung phù hợp hơn. Vả lại chúng ta đều biết rằng ban lãnh đạo cộng sản sẽ bỏ ngoài tai tất cả.

Hệ luận thứ hai là hiến pháp không phải là một văn bản mà ta có thể viết ra sau một vài ngày tìm hiểu và suy nghĩ. Tại mọi nước dân chủ phát triển, như nước Pháp nơi tôi đang sống, đều có những chuyên gia về luật hiến pháp. Tôi được biết một vài người trong họ. Đó là những người sau khi dành hàng chục năm để học hỏi và nghiên cứu về luật hiến pháp đã dành phần còn lại của đời mình để quan sát ảnh hưởng của từng chọn lựa của hiến pháp trên xã hội và rút kinh nghiệm. Tuy vậy họ rất thận trọng khi nói về hiến pháp. Đọc qua bảy kiến nghị và nhất là bản Dự Thảo Hiến Pháp 2013 người ta có thể thấy rõ là sự thận trọng đó đã vắng mặt trong Kiến nghị 72. Bản kiến nghị đã có thể soạn thảo một cách ngắn gọn và thuyết phục hơn.

Có những điều dù rất quan trọng cũng không cần và không nên đưa vào hiến pháp vì chỉ là những vấn đề hoặc thủ tục hoặc của một giai đoạn.

Hòa giải và hòa hợp dân tộc là điều tối cần thiết. Anh em Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên chúng tôi đã là những người đầu tiên sau ngày 30/04/1975 chủ trương lập trường này và đã gặp nhiều khó khăn nhưng chúng tôi vẫn kiên định. Vấn đề quan trọng đến nỗi chúng tôi đã đề nghị một đạo luật được biểu quyết qua trưng cầu dân ý. Chúng tôi chỉ có thể hoan nghênh những ai chủ trương hòa giải dân tộc. Nhưng dầu sao đó cũng chỉ là vấn đề của một giai đoạn lịch sử chứ không phải là một điều để đưa vào hiến pháp.

Thủ tục bầu cử cũng thế, chỉ nên là đối tượng của một luật bầu cử chứ không phải là của hiến pháp vì có những điều bắt buộc phải thay đổi, thí dụ như sau một cải tổ hành chính cần thiết, và không thể sửa đổi hiến pháp quá thường xuyên. Vả lại cách bầu cử quốc hội trong dự thảo hiến pháp này cũng không ổn. Thí dụ như qui định phải thu thập đủ 10.000 chữ ký ủng hộ để được ra ứng cử là quá đáng, gần như là một sự cấm đoán cho những người không có hàng tỷ đồng để vận động. Hay qui định hễ một sắc tộc thiểu số nào có quá 20% dân số trong một tỉnh thì phải có một thượng nghị sĩ trong khi mỗi tỉnh chỉ có hai thượng nghị sĩ. Làm thế nào để xác định sắc tộc –vĩnh viễn từ thế hệ này qua thế hệ khác hay có thể thay đổi?- của mỗi người? Không dễ, không cần và không nên. Trong một hệ thống bầu cử lương thiện và tự do một cộng đồng đông đảo, dù sắc tộc hay tôn giáo hay văn hóa, tự nhiên có trọng lượng.

Đó chỉ là vài thí dụ điển hình.

Và bên cạnh những điều đúng Dự Thảo Hiến Pháp 2013 của Kiến nghị 72 cũng có những chọn lựa rất vội vã.

Chế độ tổng thống được đưa ra như một lẽ tự nhiên. Do một tình cờ lịch sử hai nước dân chủ mà chúng ta tiếp xúc nhiều nhất là Mỹ và Pháp lại cũng là hai nước dân chủ phát triển duy nhất trên thế giới theo chế độ tổng thống. Từ đó nảy sinh ra một phản xạ quen thuộc của trí thức Việt Nam là nghĩ ngay tới chế độ tổng thống khi nói về dân chủ, dù đây là một chế độ vừa dở vừa nguy hiểm. Nó rất dễ đưa tới tham nhũng và độc tài, hoặc xung đột bế tắc giữa lập pháp và hành pháp. Chế độ tổng thống của Pháp được tất cả các chuyên gia hiến pháp đánh giá là một sai lầm to lớn của tướng De Gaulle. Mỹ là nước duy nhất trên thế giới mà chế độ tổng thống đã thành công, nhưng đó chủ yếu là nhờ hai yếu tố: một xã hội dân sự vốn rất mạnh từ thời lập quốc và một tổ chức tản quyền rất dứt khoát. Trong trường hợp một nước nghèo, chưa có truyền thống dân chủ, xã hội dân sự còn rất yếu, lại tập trung quyền hành như Việt Nam chế độ tổng thống gần như chắc chắn đưa tới độc tài và tham nhũng. Vả lại chính chúng ta cũng đang nếm hương vị đầu tiên của một chế độ tổng thống với ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiều quyền lực hơn cả bộ chính trị đảng cộng sản. Ai hài lòng?

Một thiếu sót lớn khác của Kiến nghị 72 là không hề nói đến tản quyền. Các chính quyền địa phương, mà đơn vị cơ sở là xã theo dự thảo hiến pháp của kiến nghị, chỉ có những quyền hành chính không đáng kể. Mặc nhiên Kiến nghị 72 chấp nhận mô hình tập quyền trung ương. Trái với một thành kiến sai nhưng khá lan tràn tại Việt Nam, công thức tập quyền trung ương không bảo đảm thống nhất đất nước mà còn đưa tới chênh lệch giữa các vùng và tệ sứ quân như ta có thể đã bắt đầu thấy. Tản quyền là xu hướng áp đảo của thời đại này và là kết luận của hơn hai thế kỷ thử nghiệm dân chủ. Thật đáng ngạc nhiên khi nhóm Kiến nghị 72 không biết đến. Càng ngạc nhiên hơn nữa khi họ đồng thời cũng đề nghị một quốc hội gồm hai viện (với một thượng nghị viện trong đó mỗi tỉnh đều có hai đại biểu dù dân số khác nhau). Tại sao phải có hai viện? Thực ra thượng viện chỉ có ở những nước tản quyền và có mục đích để các địa phương dù trọng lượng kinh tế và dân số khác nhau vẫn có được tiếng nói ngang nhau trong một số trường hợp. Thượng viện, có thể gọi là viện lãnh thổ, chỉ có lý do hiện hữu ở những nước tản quyền. Không có tản quyền thì thượng viện vô nghĩa và vô ích.

Thể chế chính trị, chính quyền trung ương cũng như các chính quyền địa phương, là những đề tài quan trọng và phức tạp vượt khuôn khổ của bài này. Tôi sẽ đề nghị một số tài liệu để độc giả có thể tham khảo (1). Những nhận xét trên đây chỉ có mục đích minh họa một nhận định: hiến pháp là điều rất hệ trọng cần được nghiên cứu và thảo luận đến nơi đến chốn. Không thể vội vã viết ra một hiến pháp.

Còn một điểm khác được đưa ra không kèm theo giải thích nhưng rất cần được thảo luận vì những nhận thức và tư duy mà nó chứa đựng. Kiến nghi 72 chủ trương trở lại với quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, giữ nguyên cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ và bản Tiến Quân Ca làm quốc ca. Một cách ngắn gọn họ chủ trương trở lại với những biểu tượng của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chế độ của miền Bắc trước đây và của cả nước từ tháng 4-1975 đến tháng 7-1976. Đây không phải là lần đầu tiên mà đề nghị này được đưa ra.

Nhưng chế độ VNDCCH có gì là tốt để đáng được lập lại? Đó là chế độ ngay khi thành lập năm 1945 đã thẳng tay tàn sát hàng trăm ngàn người yêu nước trong các đảng phái quốc gia chỉ vì họ không phải là người cộng sản. Đó cũng là chế độ đã giết hại 172.008 người (2) trong đợt Cải Cách Ruộng Đất 1955-1956; theo định nghĩa quốc tế đây là một tội ác đối với nhân loại (3); đã khủng bố văn nghệ sĩ – như trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm- làm thui chột trí tuệ và óc sáng tạo; đã quyết định cuộc nội chiến Nam - Bắc làm sáu triệu người bị chết và tàn phế. Đó là chế độ đã dìm cả miền Bắc trong một cảnh nghèo khổ cùng cực cho tới 1975. Đó cũng là chế độ đã ký công hàm 14/9/1958 gián tiếp nhìn nhận chủ quyền Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa. Và đó cũng là chế độ đã thi hành chính sách hạ nhục và bỏ tù tập thể đối với miền Nam sau ngày 30/4/1975. Đó là một chế độ khủng bố độc hại. Trên nhiều mặt nó còn không bằng, hay tệ hơn tùy cách nhìn, chế độ cộng sản hiện nay. Có gì là xứng đáng và chính đáng?

Danh xưng "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" tự nó cũng đã sai về ngữ pháp. Nó là sản phẩm của một giai đoạn trong đó ảnh hưởng Hán văn trong tiếng Việt còn nặng khiến nhiều người đặt tính từ trước danh từ. Ngày nay tiếng Việt đã phát triển nhiều rồi và đã thoát khỏi ảnh hưởng của tiếng Hán, người ta nói Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam chứ không ai nói Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nữa. Có thể duy trì một sai lầm ngữ pháp ngay trong quốc hiệu không?

Hơn nữa cụm từ "dân chủ cộng hòa" cũng không vô tư. Cũng như cụm từ "dân chủ nhân dân" nó có nghĩa là dân chủ kiểu Stalin và là một khái niệm được các chế độ cộng sản chế tạo ra và sử dụng trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh để phản bác cái mà họ gọi là "dân chủ tư bản", nghĩa là dân chủ như cả thế giới hiểu hiện nay mà nhóm Kiến Nghị 72 cũng muốn đạt tới. Nhóm Kiến Nghị 72 hình như không biết điều này. Không những đề nghị quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bản "Dự thảo hiến pháp 2013" của nhóm trong điều 1 còn xác định Việt Nam là một nước "dân chủ cộng hòa". Về điểm này bản "Dự thảo sửa đối hiến pháp 1992" của chính quyền cộng sản còn tỏ ra cảnh giác hơn, nó chỉ nói "nước CHXHCNVN là một nước dân chủ".

Còn cờ đỏ sao vàng? Cũng như lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam trước đây nó đã phủ lên quan tài của hàng triệu người trong đó có những người rất lương thiện, rất yêu nước và rất đáng quí trọng. Nhưng cờ đỏ là biểu tượng của các chế độ cộng sản. Nếu đã đồng ý từ giã chủ nghĩa cộng sản để xây dựng dân chủ thì có lý do gì để giữ cờ đỏ? Phong trào dân chủ đã khổ sở với "phe cờ vàng", liệu trong tương lai nó có khổ sở vì "phe cờ đỏ" không?

Vấn đề nền tảng là chúng ta quan niệm hòa giải dân tộc như thế nào. Hòa giải dân tộc chủ yếu là hàn gắn những vết thương của cuộc nội chiến và những đổ vỡ do những biện pháp phân biệt đối xử sau ngày 30/4/1975 của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hòa giải dân tộc có nghĩa lý gì khi vẫn áp đặt sự tôn vinh chế độ VNDCCH? Đó chỉ là hòa giải trịch thượng kiểu "các anh phải chấp nhận quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca của chúng tôi vì chúng tôi đã chiến thắng; và vì chúng tôi đã chiến thắng nên chúng tôi hoàn toàn đúng, các anh hoàn toàn sai". Một đề nghị hòa giải như thế chẳng hòa giải được với ai mà chỉ như thêm sự thóa mạ vào vết thương, to add insult to injury như một thành ngữ tiếng Anh. Càng khó chấp nhận vì nó không đúng. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa là một chế độ tồi dở, nhưng chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một chế độ gian ác. Mà có đúng là "chúng tôi" đã chiến thắng không, hay tất cả chúng ta đều chỉ là những nạn nhân bị lôi kéo vào một thảm kịch? Tại sao không nhìn nhau như những người anh em bình đẳng?

Các bạn tôi ủng hộ Kiến Nghị 72 lý luận rằng dù sao đây cũng là một thái độ dũng cảm, bởi vì một số đông đảo những người đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy đảng và nhà nước cộng sản đã công khai kêu gọi bỏ điều 4 và đề nghị một chế độ dân chủ thực sự, dù không hoàn chỉnh. Họ chỉ đúng một phần thôi. Xã hội Việt Nam đã thay đổi nhiều trong những năm qua, không phải do thiện chí dân chủ hóa của chính quyền, trái lại đàn áp đã tăng hẳn mức độ thô bạo trong thời gian gần đây, mà do hậu quả tự nhiên của sự tiếp xúc với thế giới và do sự phát triển của các phương tiện giao thông và truyền thông hiện đại. Một thế hệ mới đã nhâp cuộc và sự phản kháng cũng như đồng thuận dân chủ đã lên một mức độ mới. Trước đây những lập trường như trở lại với quốc hiệu VNDCCH, với tên đảng Lao Động, làm đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh v.v. dù rất hời hợt về lý luận cũng còn có tác dụng nói lên sự sai lầm của chế độ và kích thích sự phản biện. Nhưng ngày nay còn có người Việt Nam nào cần được động viên như vậy? Những lập luận này đi rất sau mức độ đồng thuận hiện nay của cuộc vận động dân chủ và còn có thể có tác dụng ngược là đem lại cho chế độ, và những người đang cầm quyền, một sự chính đáng lịch sử mà thực ra họ không có. Sự dũng cảm cũng chỉ ở mức độ giới hạn vì chính quyền đã tuyên bố cho phép đóng góp mọi ý kiến, kể cả ý kiến bỏ điều 4. Vả lại phần lớn các vị này cũng đã nghỉ hưu và không còn gì để mất. Khi nói tới sự dũng cảm chúng ta nên trước hết nghĩ đến những người đã dám đứng thẳng lên dõng dạc đòi tự do và dân chủ dù đã phải trả những giá rất nặng. Sự quyến luyến với chế độ VNDCCH chắc chắn là không đến từ một suy luận nghiêm chỉnh nào mà chỉ vì các vị của Kiến nghị 72 đã trưởng thành trong chế độ này và thấy ở đó một phần của chính mình. Nhưng sự dũng cảm thực sự cần có để có thể hòa giải dân tộc và cùng bắt tay nhau xây dựng dân chủ chính là sự dũng cảm để vuợt lên trên chính mình và quá khứ của mình để cùng nhau quả quyết nhìn về phía trước. Sự dũng cảm này vẫn chưa thể hiện trong Kiến Nghị 72.

Cuối cùng thì ích lợi thực sự của Kiến Nghị 72 có lẽ là một báo động. Còn rất nhiều ngộ nhận trên những điểm rất cơ bản, về mức độ đoạn tuyệt với quá khứ phải có để hòa giải dân tộc, về những khái niệm chính trị, cũng như về những chọn lựa cho tương lai. Phong trào dân chủ cần một cuộc thảo luận rốt ráo và thẳng thắn để đạt tới đồng thuận nếu không muốn bị chia rẽ và tê liệt vào lúc mà lịch sử đang có dấu hiệu sắp sang trang.

Nguyễn Gia Kiểng
(tháng 02/2013)

______________________

(1) Nhân dịp thảo luận về hiếp pháp tôi đã yêu cầu ban biên tập Thông Luận cho đăng lại ba bài tham luận ngắn sau đây như những ý kiến để thảo luận:

- Chế độ chính trị cho một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên – Dự án chính trị Thành Công Thế Kỷ 21 của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên- 2001

- Phản xạ tổng thống - Tổ Quốc Ăn Năn, Nguyễn Gia Kiểng – 2000

- Hiến pháp, chuyện của các luật sư? - Tổ Quốc Ăn Năn, Nguyễn Gia Kiểng - 2000

(2) Đặng Phong –Lich sử kinh tế Việt Nam - tập II, chương 3 –NXB Lao Động, 2002

(3) Tòa án quốc tế Nuremberg năm 1945 xử tội ác Quốc Xã Đức, tiếp nối tuyên ngôn chung của Anh, Pháp và Nga năm 1915, định nghĩa "tội ác đối với nhân loại" là bao gồm các hành vi giết hại, tiêu diệt, nô lệ hóa, lưu đày… đối với thường dân vì những lý do chính trị, tôn giáo, chủng tộc.

Admin gửi hôm Thứ Ba, 26/02/2013
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?
Số phận của một quốc gia chính là do công dân quốc gia đó quyết định...

Joyce Anne Nguyen - Số phận một dân tộc phụ thuộc vào người dân

Phan Bội Châu

Nguyễn Đình Chú - Về Phan Bội Châu Tiên Sinh: Mấy vấn đề xin được bàn lại...

Táo Quân báo cáo

Sea Free - Sớ Táo Quân 2010

Mai Thái Lĩnh – Hai chữ “dân quyền”

GS Nguyễn Đăng Hưng - Về đề án đưa phòng chống tham nhũng vào trường học


AAA (khách viếng thăm) gửi lúc 08:53, 04/03/2013 - mã số 80757
Trần Hữu Cách viết:
1. Chính khách cực đoan vươn lên mạnh trong đảng, và rất có thể đắc cử chỉ dựa trên cử tri một đảng cùng với rất ít cử tri trung dung. Trong khi đó, chính khách trung dung có thể bị dìm trong đảng mình, bất kể đó có thể là người sẽ tạo ra được sự đồng thuận quốc gia rộng lớn.

2. Đảng nào cũng mạnh xấp xỉ 50% cho nên hễ vừa chiếm được thế đa số liền tìm cách đảo ngược các chính sách của nhau -- rất mất thì giờ. Trong một chính trường đa cực, các thế liên minh tự nó hạn chế khả năng đảo ngược chính sách. Thí dụ đảng A và đảng B liên minh cầm quyền và ban hành chính sách X. Nhiệm kỳ sau, đảng C và B liên minh đánh bại A, nhưng có nhiều khả năng sẽ không hủy bỏ X, do nó từng có dấu ấn của B.

3. Tiếng nói của các đảng nhỏ từ thứ ba trở xuống hầu như không có sức nặng. Ngay cả báo chí cũng thường làm ngơ các ứng viên đảng nhỏ. Họ chỉ còn cách ngồi đợi đến lúc các chính khách đảng lớn tiếp thu ý tưởng của mình.

Tại Mỹ, chính khách là một nghề kiếm cơm đơn thuần. Các chính khách sáng giá có quyền "tự ái" tách ra thành lập một đảng mới để thực hiện lý tưởng của mình hoặc ra nhập một đảng nhỏ để phát triển nó, và họ hoàn toàn có cơ hội trở thành tổng thống. Điều này có thể dễ dàng phá vỡ thế lưỡng cực để hình thành tam cực, tứ cực. Nhưng họ không thấy có nhu cầu đó, lưỡng cực là đủ rồi. Nếu bất mãn, họ thường "phản đảng" chạy qua phía đảng to đối lập cho nhanh. Chạy qua chạy lại như cơm bữa vậy.

Tứ cực, tam cực, lưỡng cực đều là bình thường, không đáng sợ. Nhưng đơn cực thì đáng sợ. Chế độ thủ tướng có thể tạo nên một chính đảng ưu thế tuyệt đối từ vài chục đến hàng trăm năm, các đảng khác đều trở thành.. đảng nhỏ hết, khó mà ngóc đầu lên được. Các nước đã nếm mùi độc tài đảng trị nếu khôn đều chọn chuyển qua chế độ tổng thống, ít nhất còn có lưỡng cực, có đối trọng. Loạng quạng nửa nạc nửa mỡ, nửa tổng thống, nửa thủ tướng thì lại giống Ucraina thôi. Nếu không độc tài đảng trị thì lại sa lầy trong bế tắc chính trị ngay khi bầu cử chứ chưa nói lúc điều hành. Luẩn quẩn trong cái vòng liên minh, hiệp thương, tan vỡ triền miên.

Cũng không nên nghĩ rằng các thế liên minh sẽ có lợi vì chính sách không bị đảo ngược. Chính trường có sự đảo ngược mới là tốt, nó tạo ra sự công bằng cho nửa xã hội còn lại, và nó cũng tạo ra cơ chế sửa sai. Ngược lại, một đảng vô dụng, láu cá, cơ hội, chuyên nghề đứng giữa hưởng lợi sẵn sàng liên minh đôi khi chỉ vì những toan tính riêng của họ. Hết lợi là họ phá liên minh. Khi xã hội dân sự chưa đủ mạnh, công đoàn độc lập chưa đủ vững, không có đồng minh dân chủ mạnh chống lưng, xã hội đầy rẫy mafia thì cơ chế liên minh đảng là mảnh đất màu mỡ cho nạn đầu cơ chính trị.

Trần Hữu Cách (khách viếng thăm) gửi lúc 03:23, 02/03/2013 - mã số 80520
Chú Duy viết:
1. Sợ lưỡng cực. Nhưng ít người giải thích rõ: Lưỡng cực thì sao? Dẫn đến độc tài? Bóp chết đa nguyên?

Tôi ở Mỹ, nơi tình trạng lưỡng cực đã trở thành địa hình của chính trường, cho nên được chứng kiến tận mắt những tiêu cực của nó. Có thể kể:

1. Chính khách cực đoan vươn lên mạnh trong đảng, và rất có thể đắc cử chỉ dựa trên cử tri một đảng cùng với rất ít cử tri trung dung. Trong khi đó, chính khách trung dung có thể bị dìm trong đảng mình, bất kể đó có thể là người sẽ tạo ra được sự đồng thuận quốc gia rộng lớn.

2. Đảng nào cũng mạnh xấp xỉ 50% cho nên hễ vừa chiếm được thế đa số liền tìm cách đảo ngược các chính sách của nhau -- rất mất thì giờ. Trong một chính trường đa cực, các thế liên minh tự nó hạn chế khả năng đảo ngược chính sách. Thí dụ đảng A và đảng B liên minh cầm quyền và ban hành chính sách X. Nhiệm kỳ sau, đảng C và B liên minh đánh bại A, nhưng có nhiều khả năng sẽ không hủy bỏ X, do nó từng có dấu ấn của B.

3. Tiếng nói của các đảng nhỏ từ thứ ba trở xuống hầu như không có sức nặng. Ngay cả báo chí cũng thường làm ngơ các ứng viên đảng nhỏ. Họ chỉ còn cách ngồi đợi đến lúc các chính khách đảng lớn tiếp thu ý tưởng của mình.

Chú Duy viết:
3. Sợ tổng thống được sùng bái, chính trị ủy mị duy tình. Nhưng ít người dám hiểu khác đi: Trái tim con người vốn bằng thịt, bộ óc con người cũng bằng thịt, cử tri quyết định bầu cho ai thì suy cho cùng là vì "có cảm tình" với người đó. Chính trị lành mạnh không nhằm triệt tiêu tình cảm của con người. Tuy nhiên, dù được sùng bái đến đâu thì sau tối đa hai nhiệm kỳ ông ta vẫn phải về vườn, không có chuyện ngồi cả đời vì "nhân dân yêu quý tôi". Hơn nữa thời nay việc mị dân trở nên quá khó, bị phát hiện ngay chứ không cần "độ lùi lịch sử".

Nói chuyện cảm tính, thuở nhỏ tôi có ấn tượng khá mạnh với Tổng thống Ngô Đình Diệm. Về sau này xem phim tài liệu thấy càng thán phục ông hơn, vì thấy lúc mới nhậm chức, ông xuất hiện trong một trụ sở tồi tàn trông không khác mấy với Tổng thống Somalia(!), nhưng chỉ sau một năm, miền Nam Việt Nam thay đổi hẳn. Nhưng tôi hơi ớn kiểu tung hô "Ngô Tổng thống" của nhiều người vẫn còn kéo dài cho đến nay! Chuyện tung hô này làm tôi luôn cảnh giác về một lề thói khó bỏ nào đó của người Việt Nam.

Chú Duy (khách viếng thăm) gửi lúc 15:53, 01/03/2013 - mã số 80450
Trần Hữu Cách viết:
Về sau, do cần tránh thế đảng tranh lưỡng cực và bệnh tôn sùng lãnh tụ, Việt Nam nên chuyển sang hình thức đại nghị với một thủ tướng có quyền hành pháp nhưng chịu trách nhiệm trước quốc hội.

Mình cũng thấy vụ này vui. Nghĩ mãi, mình có một số ý kiến sau:

1. Bản chất của tự nhiên là lưỡng cực. Dù đa nguyên, đa dạng, nhưng dần dần đều quy tụ về lưỡng cực: trắng - đen, tốt - xấu, sáng - tối... (triết lý phương Đông mô tả điều này bằng vòng tròn âm - dương xoay vần. Giáo sư thiên văn Trịnh Xuân Thuận mô tả trong Hỗn độn và Hài hòa. Nếu chỉ có đa dạng, hỗn độn mà không có thống nhất, quy tụ thì sẽ mãi hỗn loạn).

2. Thủ tướng chế, bản chất của việc liên minh chính đảng để đủ ghế lập chính phủ chính là quy tụ về lưỡng cực: phe cầm quyền - phe đối lập. Tổng thống chế, việc này được giải quyết hoàn toàn tự nhiên, tự động.

3. Thủ tướng chế, vì chính phủ theo kiểu "dân chủ trong đảng" nên thiếu sự dứt khoát, thừa sự nể nang, duy tình. Điều đó dẫn đến lập pháp và hành pháp nghi kỵ đâm thọc nhau nhiều hơn. Thủ tướng mệt mỏi, quốc hội mệt mỏi, hiệu quả chưa chắc cao. Tổng thống chế, lập pháp và hành pháp không những phân lập mà còn đối diện trực tiếp, nhìn thẳng vào mặt nhau: Yes or No. Nhanh gọn, hiệu quả. Tổng thống khỏe, quốc hội khỏe, quốc gia khỏe.

Nói chung mình nhận ra một số "nỗi sợ" mơ hồ sau:

1. Sợ lưỡng cực. Nhưng ít người giải thích rõ: Lưỡng cực thì sao? Dẫn đến độc tài? Bóp chết đa nguyên?

2. Sợ quốc hội chống tổng thống, cỗ máy bị ngưng trệ. Nhưng ít người đặt ngược vấn đề: Vậy thì tốt quá, nó buộc các chính đảng phải liên tục thanh lọc nội bộ. Những con sâu bọ thì đừng mơ bén mảng đến cái ghế tổng thống vì không ai ủng hộ, chỉ có ngồi đó mà khóc như anh hề gây xấu mặt đảng. Cơ chế này cũng tạo công bằng hơn cho các "đội bóng nhỏ" nếu đột nhiên có một ngôi sao xuất chúng hơn cả ngôi sao của các "đội bóng lớn".

3. Sợ tổng thống được sùng bái, chính trị ủy mị duy tình. Nhưng ít người dám hiểu khác đi: Trái tim con người vốn bằng thịt, bộ óc con người cũng bằng thịt, cử tri quyết định bầu cho ai thì suy cho cùng là vì "có cảm tình" với người đó. Chính trị lành mạnh không nhằm triệt tiêu tình cảm của con người. Tuy nhiên, dù được sùng bái đến đâu thì sau tối đa hai nhiệm kỳ ông ta vẫn phải về vườn, không có chuyện ngồi cả đời vì "nhân dân yêu quý tôi". Hơn nữa thời nay việc mị dân trở nên quá khó, bị phát hiện ngay chứ không cần "độ lùi lịch sử".

Trần Hữu Cách (khách viếng thăm) gửi lúc 12:37, 01/03/2013 - mã số 80440

Vì đã bày tỏ ủng hộ tác giả Nguyễn Gia Kiểng trong việc chọn thể chế dân chủ đại nghị với một thủ tướng thay vì tổng thống chế, tôi xin góp thêm vài ý kiến khá thô sơ sau đây với bác "Tổng thống vs Thủ tướng (khách viếng thăm) - 80230".

Việc khảo sát nhiều quốc gia để so sánh hiệu năng của hai loại thể chế có lẽ không hiệu quả, vì có quá nhiều chính thể để khảo sát mà kết quả cho thấy thành tích của chúng khá hỗn hợp, mà tôi cho phần lớn là do văn hóa và khí chất mỗi dân tộc một khác.

Do đó, ta có thể cân nhắc những điều kiện, hệ quả, và nhu cầu trước mắt để có vài khái niệm về những ưu khuyết điểm của hai loại thể chế đối với riêng trường hợp Việt Nam.

"Thủ tướng chế" hay dân chủ đại nghị có ưu điểm là thủ tướng do đảng cầm quyền bầu ra và quốc hội phế đi. Thủ tướng làm việc sát cánh với phe đa số trong quốc hội cho nên không gặp nhiều trở ngại.

Trong khi đó, tổng thống do dân bầu có thể thuộc một đảng khác với đảng đang kiểm soát quốc hội. Gặp trường hợp này, tổng thống gần như không làm được việc.

Có một đặc điểm của tổng thống chế là luật pháp thường đòi hỏi một tổng thống, muốn giữ được tư thế tổng thống của dân, phải giành được trên 50% phiếu bầu trong một cuộc bầu cử, hoặc trong vòng 2 bầu cử khi chỉ còn đối mặt với một đối thủ duy nhất. Điều này gián tiếp thúc đẩy chính trường đi dần đến tình trạng chỉ còn hai đảng lớn. Như thế tình trạng lưỡng cực sẽ diễn ra, và ngày càng ít cơ hội để hai ba đảng liên minh với nhau lập thành thế đa số trong giai đoạn.

Dưới tổng thống chế, quốc hội dường như không phải làm việc nhiều bằng dưới chế độ nghị viện, vì tổng thống có thực quyền độc lập với quốc hội và sẽ thi hành nhiều chính sách bằng pháp lệnh.

Trong giai đoạn đầu, có thể vì Việt Nam cần tốc độ cải cách như Miến Điện, có lẽ một tổng thống mạnh sẽ thích hợp, vì quốc hội chắc chắn vẫn còn mang nhiều tính tập sự và không chuyên. Thật tình mà nói, tôi nghĩ nếu Việt Nam muốn có một quốc hội thật sự là của dân, thì chức đại biểu trước hết phải là công việc toàn thời gian -- bất kể thủ tướng hay tổng thống đứng đầu ngành hành pháp.

Về sau, do cần tránh thế đảng tranh lưỡng cực và bệnh tôn sùng lãnh tụ, Việt Nam nên chuyển sang hình thức đại nghị với một thủ tướng có quyền hành pháp nhưng chịu trách nhiệm trước quốc hội.

Tổng thống vs Thủ tướng (khách viếng thăm) gửi lúc 15:56, 27/02/2013 - mã số 80230

Có vẻ ông Nguyễn Gia Kiểng quá tự tin với những lập luận của mình về mô hình Thủ tướng mà ông viết đã lâu. Tôi cũng từng tin rằng những gì ông viết là... duy nhất đúng. Nhưng đến lúc này tôi cho rằng những lập luận đó đã lạc hậu, không còn thuyết phục. Ngay cả hai mô hình tổng thống Mỹ và Pháp ông lấy ra để bác bỏ mô hình Tổng thống cũng đã cổ điển và lạc hậu.

Ai dám nói mô hình Thủ tướng thì khó độc tài hơn Tổng thống? Chỉ cần nhìn xung quanh Việt Nam, những nước châu Á có nhiều nét tương đồng, mô hình Thủ tướng bộc lộ đầy đủ những ưu điểm và nhược điểm của nó.

Singapore khá ổn nhưng quá tập quyền, Thủ tướng không khác nhà độc tài là mấy.

Ấn Độ, Thủ tướng ngồi lỳ, mọi mặt đời sống xã hội dù có phát triển nhưng thấy rõ sự ì ạch, mệt mỏi, lộn xộn, kém linh hoạt, bất xứng và chưa thể gọi là văn minh.

Còn ở Ý thì sao? Ở Đức thì sao? Hai mặt đối lập. Mô hình Thủ tướng ở Đức khá ổn, ở Ý bát nháo và phức tạp.

Rõ ràng không đủ bằng chứng để nói mô hình Thủ tướng luôn hoàn hảo nếu không muốn nói là nhược nhiều hơn ưu trong thời đại này. Nó thường phù hợp hơn với các Vương Quốc mà hiện nay vẫn còn hoàng gia nhiều uy tín. Nếu không thì sẽ rơi vào ngay trường hợp Việt Nam: Triều đình cộng sản mất uy tín thì lập tức Thủ tướng biến thành thú dữ. Ông Kiểng dùng hình ảnh Nguyễn Tấn Dũng để dìm hàng mô hình Tổng thống thì thật bi hài, tự tát má mình.

Còn như Hàn Quốc, Đài Loan, Indonesia và ngay cả Myanmar, nhà nước theo mô hình Tổng thống non trẻ hơn Pháp Mỹ nhiều, mô hình Tổng thống ở những nước này có ổn không? Hoàn toàn ổn, nếu không muốn nói là rất năng động, rất quyết đoán, rất mạnh mẽ. Tổng thống được tập trung quyền lực rất mạnh thúc đẩy quốc gia phát triển thần tốc nhưng cũng bị giám sát rất mạnh cùng lúc từ mọi hướng, từ xã hội dân sự tới nghị viện, từ trực tiếp tới gián tiếp. Ngày nay với mạng lưới internet, quyền lực thứ 4 mạnh chưa từng thấy, giám sát trực tiếp, phế truất trực tiếp dễ dàng hơn bao giờ hết. Quyền lực chính trị thực sự về tay nhân dân. Nếu một ông Thủ tướng có nhiều cơ hội để ê a mị dân giải thích lỗi lầm, mua chuộc quốc hội, cầu cứu hoàng gia... thì ông Tổng thống có rất ít các cơ hội đó.

Trên thực tế từ xưa mô hình Tổng thống luôn là lựa chọn đầu tiên của các nước Cộng Hòa vì nó tự nhiên, rành mạch, ít phức tạp hơn mô hình Thủ tướng. Nếu một nước không còn hoàng gia cố nặn một ông Tổng thống lên ngồi làm biểu tượng bù nhìn thì chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí luôn thấy bấp bênh, phiền toái vì mấy ông này rất dễ gây scandal (Tổng thống Đức, Tổng thống Ý...).

Thế kỷ 20, người ta nhìn thấy nhiều ông Tổng thống trở thành độc tài và sợ hãi. Điều này không khác gì Marx nhìn thấy chủ nghĩa tư bản hoang dã và muốn đào mồ chôn nó. Chủ nghĩa tư bản cần thời gian để hoàn thiện, và thời kỳ Tổng thống hoang dại cũng đã qua.

Tóm lại:
- Một khi đã phi chính trị hóa công an quân đội
- Người đứng đầu lực lượng vũ trang thuộc thành phần dân sự
- Quyền lực thông tin mạnh hơn quyền lực dùi cui
- Tổng thống được dân bầu trực tiếp theo nhiệm kỳ không có khả năng thâu tóm nghị viện
- Tư pháp độc lập, thẩm phán uy tín suốt đời

thì không bao giờ lo sợ Tổng thống biến chế độ thành độc tài như Gaddafi, Mugabe ở Châu Phi. Tổng thống hoàn toàn có thể là những nữ trí thức tài năng, ôn hòa, được nể trọng như ở Chile, Brazil, Hàn Quốc và sắp tới là ở Myanmar. Các nữ Tổng thống này có thể trở thành những Võ Tắc Thiên thời nay? 99,9999% không bao giờ có chuyện đó.

hanh dao (khách viếng thăm) gửi lúc 12:20, 27/02/2013 - mã số 80222

Bài phân tích rất hay.
Kiến nghị 72 kích lệ, vận động sự quan tâm của người dân, đây là 1 bước tiến lớn. Tuy nhiên, vấn đề xung quanh nó cũng không nhỏ.
Những điều bác NGK phân tích thiếu sót của bản kiến nghị là những vấn đề căn bản. Người người viết hiến pháp, nhà nhà soạn hiến pháp, từ những người không chuyên, chưa hẳn là chuyện tốt.
Dù biết không thể có hoàn hảo ở bước đầu tiên, & cần được bổ sung, như nó hay còn ở dạng phát thảo & mong rằng các bác nhân sĩ, trí thức, "chủ nhân" Kiến Nghị 72 này, ngoài việc vận động gom góp chữ ký, sẳn lòng tiếp nhận những ý kiến đóng góp & thay đổi, như còm của bác Trần Hữu Cách: Tôi rất mong mỏi các quý vị trí thức trong nước bỏ thời giờ ra đọc trang ethongluan.org, ít ra là trang Tìm hiểu Tập hợp Dân chủ Đa nguyên với các phần Đề cương Chính trị của họ. Không nhất thiết quý vị phải đồng ý với họ, mà trước tiên là để quý vị khỏi phải tự mình nhọc công làm lại công việc đã có người làm rồi, mà rõ ràng là quý vị làm chưa đến nơi đến chốn.
Hòa giải, hòa hợp...thực tế nói thì dễ, làm thì cực khó!

danluan13 (khách viếng thăm) gửi lúc 08:21, 27/02/2013 - mã số 80193

Bánh xe lịch sử không đi lùi.

Tại sao không viết Hiến Pháp mới theo ý dân cho hoàn hảo với thời đại mà cứ quay lại bám víu quá khứ? Hay là không đủ tài năng? Chắc chắn không phải vậy. Hay nhà nước cộng sản không muốn thay đổi mà chỉ muốn lừa dân? Chắc chắn là vậy, vì hơn 80 năm cầm quyền là một chuỗi dài qua 3 thế hệ chỉ toàn là lừa bịp lừa bịp và lừa bịp, và nay vẫn còn lừa bịp. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam chưa bao giờ tôn trọng dân, nói thật với dân một lần ngay cả trong sự an nguy của đất nước và dân tộc.

Tác giả viết "Hiến pháp là hợp đồng". Theo tôi, Hiến Pháp không phải là hợp đồng mà là luật tối cao của quốc gia mà người Công Dân ủy nhiệm Quốc Hội thông qua để thành Luật, và chính quyền thông qua đó sẽ theo Luật để điều hành đất nước. Tất cả mọi công dân đều phải tuân theo và đứng dưới pháp luật. Luật không những bắt buộc mọi công dân phải tuân theo Hiến pháp mà còn yêu cầu công dân của quốc gia khác phải tuân thủ khi được phép đi vào quốc gia đó.

Tác giả lại đặt vấn đề hòa giải hòa hơp và cho là "Hòa giải và hòa hợp dân tộc là điều tối cần thiết" . Theo tôi, muốn hòa giải với dân thì việc đầu tiên là phải trả lại quyền làm chủ đất nước cho dân. Xin hỏi người dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam có thù oán gì với nhau mà phải cần hòa giải hòa hợp? Nếu cần thì chỉ là giữa chính quyền và người dân, và vấn đề là từ chính quyền chứ không phải người dân. Chính quyền có muốn hòa hợp hòa giải với dân? Nếu ai trả lời có thì đúng là mị dân. Qua quá khứ chúng ta thấy, đảng cộng sản Việt Nam lúc chưa nắm được chính quyền thì kêu gọi hòa giải hòa hợp dân tộc, và khi nắm được quyền hành trong tay thì cai trị dân như nô lệ; đàn áp dân, bỏ tù dân, đánh dập dân, và thậm chí giết luôn cả dân. Hãy nhìn đất nước ngày nay, chính quyền sẵn sàng ra tay bỏ tù những ai lên tiếng muốn xây dựng tự do dân chủ, những người yêu nước xuống đường biểu tình chống Tàu xâm lược. Tại sao? Tại sao nhà nước không cùng toàn dân đoàn kết tạo sức mạnh để chống ngoại xâm? Tại sao lại bắt dân bỏ tù khi dân bày tỏ lòng yêu nước? Nhà nước đã tự gây chia rẽ và hận thù với chính người dân mình. Vậy chính quyền này là của ai?

Xin mạn phép nhắc lại lời tổng thống Thiệu: "Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm"; và cộng sản đã và đang làm gì với đất nước và dân tộc? Chúng đang bán nước bán dân.

kbc

Phong Vân (khách viếng thăm) gửi lúc 08:16, 27/02/2013 - mã số 80191

Tiến từng bước một, chậm rãi nhưng vững chắc, dễ dàng hơn. Còn hấp tấp thực hiện một cú đại nhảy vọt thì e rằng sức người không kham nổi.

Trần Hữu Cách (khách viếng thăm) gửi lúc 08:02, 27/02/2013 - mã số 80190

Tôi rất đồng ý với phân tích của ông Kiểng về vấn đề tổng thống chế và tản quyền.

Tôi rất mong mỏi các quý vị trí thức trong nước bỏ thời giờ ra đọc trang ethongluan.org, ít ra là trang Tìm hiểu Tập hợp Dân chủ Đa nguyên với các phần Đề cương Chính trị của họ. Không nhất thiết quý vị phải đồng ý với họ, mà trước tiên là để quý vị khỏi phải tự mình nhọc công làm lại công việc đã có người làm rồi, mà rõ ràng là quý vị làm chưa đến nơi đến chốn.

Riêng về đòi hỏi "hòa giải hòa hợp" đối với nhóm "Kiến nghị 72" thì tôi thấy không cần thiết.

Điều mà dân tộc Việt Nam đang cần là một ý thức sở hữu trong từng người dân về tương lai của đất nước trong đó có chính mình -- đối nghịch với thái độ phó thác tất cả cho một đảng chính trị. Vì vậy, tôi hoàn toàn thông cảm với những người và những nhóm hoàn toàn hăng say trong việc vạch ra một hiến pháp "của mình" thay vì "của bà con" ở hải ngoại!

Tôi cho rằng người Việt hải ngoại đến một lúc nào đó, tự họ sẽ cảm thấy rất dễ dàng hòa hợp vào một cộng đồng quốc nội có chung một số quan điểm cốt lõi về một xã hội nhân bản và công bằng.

Visiteur (khách viếng thăm) gửi lúc 04:23, 27/02/2013 - mã số 80183
Trích dẫn:
Cuối cùng thì ích lợi thực sự của Kiến Nghị 72 có lẽ là một báo động. Còn rất nhiều ngộ nhận trên những điểm rất cơ bản, về mức độ đoạn tuyệt với quá khứ phải có để hòa giải dân tộc, về những khái niệm chính trị, cũng như về những chọn lựa cho tương lai. Phong trào dân chủ cần một cuộc thảo luận rốt ráo và thẳng thắn để đạt tới đồng thuận nếu không muốn bị chia rẽ và tê liệt vào lúc mà lịch sử đang có dấu hiệu sắp sang trang.

Theo tôi Kiến Nghị 72 là một đề nghị khởi đầu quan trọng vì nó là một báo động cho xã hội, cho nhà nước VN và cho đảng CSVN. Có ai bảo Kiến Nghị 72 là hoàn toàn hoàn chỉnh đâu ?

Lịch sử đang có dấu hiệu sắp sang trang, vậy bác Nguyễn Gia Kiểng cùng các bạn của ông, các đảng phái, các nhóm, tất cả hãy nhanh chóng liên lạc, tổ chức những cuộc thảo luận rốt ráo và thẳng thắn để đạt tới đồng thuận cao.

Bác Nguyễn Gia Kiểng cùng các bạn của ông hãy ra chương trình hành động ngay, liên hệ đề nghị đến các nhóm trong và ngoài nước để có thể tổ chức những cuộc thảo luận

Quả Sung (khách viếng thăm) gửi lúc 01:26, 27/02/2013 - mã số 80173

Lại thêm một người muốn "một phát ăn ngay".

Ông Kiểng kính mến, ông và cái tổ chức mạnh của ông hoàn toàn có quyền thảo ra một bản hiến pháp hoàn hảo nhất thế giới, cờ màu cỏ úa, sao hình thiên thạch... rồi kêu gọi mọi người trong ngoài nước ủng hộ cơ mà?

Tôi không cho rằng Bản kiến nghị 72 cùng mẫu hiến pháp đi kèm được soạn thảo vội vã. Dù có khiếm khuyết thế nào thì đó cũng là công sức làm việc nghiêm túc của những người có trí tuệ trên nhiều lĩnh vực nhất là chính trị và luật pháp. Cũng không loại trừ những người viết ra nó đã tham khảo cả những bài viết của ông và thai nghén ra bản mẫu này từ 10 năm trước sau khi chắt lọc những điều đáng giá.

Lúc thì thấy ông thúc giục phải nhanh lên, lúc lại thấy ông bảo phải từ từ. Ngoài kia bánh xe lịch sử vẫn cứ quay chẳng đợi ai.

Thành Ca (khách viếng thăm) gửi lúc 00:15, 27/02/2013 - mã số 80164

Theo tôi thì Kiến nghị 72 là một bước đệm cần thiết.
Tôi nghĩ rằng, những người soạn thảo và ký tên đầu tiên chắc chắn họ cũng đã tính đến những hạn chế của bản kiến nghị, bởi tư tưởng họ đưa ra đã khác hẳn tư tưởng của chế độ đương quyền. Nhưng một thực tế là hiện nay trong nước còn rất trì trệ về tư tưởng, bao gồm cả cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhiều người họ có thể phê phán cá nhân nọ, cá nhân kia trong các vụ tham nhũng hay ra quy định bất công nhưng căn bản họ vẫn ủng hộ chế độ, đội ĐCSVN, "bác Hồ" lên đầu. Tôi đã tiếp xúc rất nhiều người, nhiều thành phần, nhiều tầng lớp, nhiều địa phương trong các hoàn cảnh khác nhau đều thấy như thế. Một ví dụ đơn giản thường thấy: đa số người dân, cán bộ, đảng viên họ đang sử dụng từ "phản động" với nghĩa hàm ý là "những kẻ chống lại chính quyền". Rõ ràng đây là cách hiểu sai nhưng cực kỳ khó để làm họ hiểu lại cho đúng với nghĩa "chống lại sự tiến bộ". Kể cả một vài trường hợp tôi có cơ hội dẫn đúng nghĩa từ này trong Từ điển tiếng Việt thì họ cũng tỏ ra không đồng tình dù là giấy trắng mực đen, nói có sách, mách có chứng bày ra trước mặt.
Chính vì thế cần thiết phải có một bước đệm.

HyVăn (khách viếng thăm) gửi lúc 22:37, 26/02/2013 - mã số 80143

Khi bàn với một số người bạn, tôi cũng có nói rất nhiều về vấn đề tản quyền, tập quyền ở hiến pháp 72, rồi vấn đề dân tộc thiểu số, một khi đã xem là dân chủ và bình đẳng thì không có chuyện phân biệt lá phiếu (chúng ta hướng đến những ông nghị tài năng chứ không phải sắp xếp chỗ ngồi). Một vấn đề nữa mà ý nguyện của người dân một cách ôn hòa không bao giờ bị ngăn cản bằng pháp luật bởi cái gọi là 'đại đoàn kết'... Văn hóa dân tộc là văn hóa gì? rất dễ bị suy diễn và lạm quyền khi dùng trên một hệ quy chiếu của số đông nào đó áp chế số ít...
Hiến pháp, đúng như ông Kiểng có nêu, nó nên được viết một cách cẩn trọng và từ một vài người tinh hoa nhất rồi đưa ra thẩm định từ hội đồng lập hiến, sau mới trưng cho dân phúc quyết. Quốc hội lập hiến cũng nên tồn tại trong thời gian lập hiến pháp, sau đó giải tán, nếu cần thiết có thể định chế luôn là nhóm soạn thảo hiến pháp mới không được tham gia vĩnh viễn vào hành pháp. Lên tiếng ủng hộ HP 72 tôi đã ký, nhưng mà là về tinh thần, còn hiến pháp đó thực sự đảm bảo được quyền con người chưa thì phải đánh giá lại.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
3 + 2 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Bấm vào đây để xem thể lệ cuộc thi sáng tác video Quyền Con Người và Tôi 2013

Suy ngẫm

Từ trước tới nay, đi đâu cũng chỉ thấy các bảng hiệu nêu "đóng thuế là trách nhiệm và nghĩa vụ của nhân dân", nhưng lại không thấy bảng biển gì bảo nhà nước phải có trách nhiệm khi tiêu các đồng tiền đó, ví dụ như là "Ngân sách nhà nước là thuế do dân đóng, tiêu tiền đúng mục đích, tiết kiệm, không lãng phí, không tham ô là trách nhiệm, nghĩa vụ và vinh dự của Nhà nước"...

— Thành viên Phong Son, Tathy

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 1 thành viên652 khách truy cập.

Thành viên online

Thuốc Lá

Kỷ lục: Có 2315 người ghé thăm vào 11-03-2013 lúc 13h29.

Độc giả Dân Luận từ đâu