Mai Thái Lĩnh - Sự thật về Thác Bản Giốc: ai là người nhận thức sai lầm?

Mai Thái Lĩnh
Chia sẻ bài viết này

Ngày 3-9-2013 vừa qua, báo điện tử Giáo dục Việt Nam đã đăng bài “Sự thật về Thác Bản Giốc và nhận thức sai lầm về chủ quyền lịch sử”[1], thực ra là một bài phỏng vấn ông Tiến sĩ Trần Công Trục (nguyên Trưởng ban Biên giới chính phủ, người trực tiếp tham gia đàm phán hoạch định biên giới Việt Nam – Trung Quốc nói chung, khu vực Thác Bản Giốc nói riêng) do phóng viên Hồng Thủy thực hiện. Vì bài phỏng vấn nhằm vào cá nhân tôi và bài viết của tôi nhan đề “Sự thật về Thác Bản Giốc”[2], tôi thấy cần phải làm rõ một số điểm được nêu trong bài phỏng vấn, nhằm tránh sự hiểu lầm cho người đọc.

1) Bài phỏng vấn được mở đầu như sau: “Thời gian gần đây một số hãng truyền thông phương Tây và các trang mạng xã hội đăng tải bài viết “Sự thật về Thác Bản Giốc” của ông Mai Thái Lĩnh, trong đó có những nhận định và quy chụp hết sức chủ quan khi cho rằng Việt Nam đã bán đất cho Trung Quốc khiến dư luận có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó nhiều người vẫn cảm thấy mơ hồ khi nhắc tới địa danh này”.

Ngay từ lời giới thiệu này, Tòa soạn báo Giáo dục Việt Nam đã tỏ ra không sòng phẳng và thể hiện sự “quy chụp”.

Trước hết, nói “thời gian gần đây” là không đúng sự thật. Bài viết của tôi hoàn thành xong đã gửi đăng trên một số trang mạng vào thượng tuần tháng 2 năm 2012 (trên trang Bauxite Vietnam là vào hai ngày 10 và 11-2-2012). Ngoài ra còn có nhiều trang mạng khác đã đăng lại, nhưng chậm nhất cũng chỉ trong tháng 3 năm 2012, như vậy là đã một năm rưỡi.

Khi rút ngắn thời gian một năm rưỡi bằng cụm từ “thời gian gần đây”, cả tòa soạn báo lẫn phóng viên Hồng Thủy đã cùng với ông Trần Công Trục tìm cách gán ghép bài viết của tôi với một sự kiện nóng hổi mới xảy ra gần đây. Đó là việc ông Sam Rainsy – lãnh đạo đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia, đang tố cáo phía Việt Nam lấy đất của Kampuchea. Đây là một dụng ý không tử tế nhằm đánh lạc hướng dư luận. Bởi vì bất cứ ai đọc kỹ các bài viết của tôi đều thấy rõ giữa quan niệm của tôi và quan niệm của ông Sam Rainsy, không có gì giống nhau. Điểm căn bản là ở chỗ: ông Sam Rainsy là một nhà chính trị, đứng đầu một đảng chính trị ở nước láng giềng, muốn lấy lòng cử tri nên kích động tinh thần dân tộc hẹp hòi, còn tôi tuy luôn luôn bàn đến chính trị, nhưng lại không liên quan đến một đảng chính trị nào, vì thế không có động cơ phe phái. Hơn thế nữa, tôi cũng không liên quan gì đến cái mà ông Tiến sĩ Trần Công Trục gọi là “quan niệm về chủ quyền lịch sử”, nghĩa là “ngày xưa cha ông ta ở đâu thì đất đó là của Việt Nam”. Hãy đọc kỹ các bài viết của tôi về vấn đề biên giới Việt-Trung. Bất cứ bài nào cũng chỉ nhằm để bảo vệ “đường biên giới lịch sử” đã tồn tại từ khi có các công ước Pháp-Thanh vào cuối thế kỷ 19. Mà đường biên giới lịch sử này thì chính các tiền bối của ông Tiến sĩ Trần Công Trục trong Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như trong ngành ngoại giao cũng đã từng coi là căn cứ quan trọng nhất trong các cuộc đàm phán với phía Trung Quốc.

Tôi xin phép trích dẫn một đoạn văn trong cuốn “bị vong lục” (memorandum) do Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố vào năm 1979 để làm rõ vấn đề:

“Lập trường của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được nêu rõ trong Công hàm ngày 2 tháng 3 năm 1979 gửi Bộ Ngoại giao Trung Quốc: những người cầm quyền Trung Quốc đã gây chiến tranh xâm lược Việt Nam thì họ phải vĩnh viễn chấm dứt xâm lược; phải rút ngay, rút hết, rút không điều kiện quân đội của họ về phía bên kia đường biên giới do lịch sử để lại như hai bên đã thoả thuận; triệt để tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Ngày 6 tháng 3 năm 1979, phía Việt Nam đã tuyên bố:

“Nếu Trung Quốc thật sự rút toàn bộ quân của họ khỏi lãnh thổ Việt Nam như họ đã tuyên bố, thì sau khi quân Trung Quốc rút hết về bên kia đường biên giới lịch sử đã được hai bên thoả thuận tôn trọng, phía Việt Nam sẵn sàng đàm phán ngay với phía Trung Quốc ở cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao về việc khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước. Địa điểm và thời gian sẽ do hai bên thoả thuận.”

Nếu những người cầm quyền Trung Quốc tiếp tục chính sách xâm lược chống Việt Nam thì quân và dân Việt Nam sẽ dùng quyền tự vệ thiêng liêng, kiên quyết chiến đấu chống xâm lược để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới.

Nhân dân Việt Nam quyết tiếp tục làm hết sức mình gìn giữ tình hữu nghị truyền thống với nhân dân Trung Quốc. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiên quyết đòi nhà cầm quyền Trung Quốc:

[1] Vĩnh viễn chấm dứt xâm lược, phải rút ngay, rút không điều kiện quân đội của họ về nước; chấm dứt mọi hành động tội ác đối với nhân dân Việt Nam; triệt để tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; tôn trọng đường biên giới do lịch sử để lại như hai bên đã thoả thuận; phải chấm dứt ngay việc dời cột mốc biên giới và những hành động khác nhằm thay đổi đường biên giới đó.

[2] Cùng phía Việt Nam sớm mở cuộc thương lượng nêu trong Công hàm ngày 15 tháng 3 năm 1979 của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhằm đem lại hoà bình và ổn định ở vùng biên giới giữa hai nước, khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước.”[3]

“Đường biên giới lịch sử” mà văn bản này nói đến chính là đường biên giới được hoạch định bởi các công ước Pháp-Thanh ký hồi cuối thế kỷ 19.

2) Ngay trong lời giới thiệu bài phỏng vấn cũng như trong câu hỏi của phóng viên, câu trả lời của ông Tiến sĩ Trần Công Trục, đều có những sự xuyên tạc đầy ác ý nhằm kích động người đọc nghĩ xấu về tôi. Xin dẫn chứng một số ví dụ sau:

“- PV: Quay lại câu chuyện tài liệu “Sự thật thác Bản Giốc” của ông Mai Thái Lĩnh đưa ra các tài liệu lịch sử, chứng cứ lịch sử để khẳng định rằng toàn bộ ngọn thác này thuộc chủ quyền của Việt Nam và quy kết các nhà đàm phán, lãnh đạo Việt Nam đã nhân nhượng vô nguyên tắc, bán đất cho TQ. […]”

- “Câu chuyện về Sam Rainsy và một số nhóm chính trị đối lập tại Campuchia viện dẫn những quan điểm sai trái về chủ quyền lịch sử, bằng chứng lịch sử để đưa ra những tuyên bố vô lý về vấn đề chủ quyền, gây rối loạn xã hội Campuchia, chia rẽ quan hệ Campuchia – Việt Nam. Điều này không khác gì hiện nay trong dư luận đang sử dụng yếu tố lịch sử để lật lại vấn đề đàm phán biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và tung tin các nhà đàm phán Việt Nam, lãnh đạo Việt Nam bán đất cho Trung Quốc.” (Trích lời ông Trần Công Trục).

Đây là điều bịa đặt nhằm mục đích kích động dư luận. Trong toàn bộ bài viết của tôi, tuyệt nhiên không có chỗ nào nói “lãnh đạo Việt Nam bán đất cho Trung Quốc.” Chỉ có một đoạn như sau liên quan đến chữ “bán”: “Ở chỗ này, nếu nói chúng ta bán đất thì hoàn toàn vô lý. Pháp lý lẫn thực tiễn đều không cho phép chúng ta giữ chủ quyền trên toàn bộ thác Bản Giốc.” Nhưng câu này không phải là lời của tôi, mà chỉ là câu trích dẫn lời nói của ông Lê Công Phụng – nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

3) Ông Trần Công Trục nói: “Công ước Pháp – Thanh 1887 và Công ước Pháp – Thanh bổ sung 1895 cùng các văn kiện, bản đồ hoạch định cắm mốc kèm theo được công ước trên xác nhận và quy định mới được xem xét là có giá trị khi đưa ra đàm phán các khu vực có tranh chấp về chủ quyền. Tất cả các tài liệu, chứng cứ lịch sử như bản đồ, thư tịch, sách giáo khoa, bưu ảnh, ghi chép cá nhân nằm ngoài phạm vi của 2 bản Công ước trên đều không được chấp nhận, kể cả là ta hay TQ.”

Đúng là một số tài liệu tôi nêu ra chỉ là tài liệu dùng để tham khảo, không phải là căn cứ pháp lý. Nhưng nêu những tài liệu đó là điều cần thiết để chứng minh một sự thật: ít nhất là từ khi nhà Thanh và người Pháp ký các công ước về biên giới vào cuối thế kỷ 19 cho đến khi có hiệp định 1999, toàn bộ Thác Bản Giốc vẫn thuộc về nước ta.

Mặc dù ông Trục khoe rằng “đã đọc kỹ bài viết này của ông Mai Thái Lĩnh”, trong thực tế ông đã không đọc kỹ bài viết đó. Vì vậy ông đã không nhận ra “những bằng chứng lịch sử có giá trị pháp lý”. Trong phần kết luận, tôi đã viết như sau:

“Trước hết, về căn cứ pháp lý để chứng minh chủ quyền của nước ta đối với Thác Bản Giốc, Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng có trong tay ít nhất là 4 hồ sơ: [1] Tài liệu về việc Trung Quốc “sửa bản đồ” vào năm 1955-56 để âm mưu chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc, [2] Tài liệu về việc xây dựng trạm thủy văn trên cồn Pò Thoong vào thập niên 1960, [3] Tài liệu về việc Trung Quốc lấn chiếm cồn Pò Thoong vào năm 1976 và [4] Hai tờ bản đồ Trùng Khánh số hiệu 6354-IV do Quân đội Nhân dân Việt Nam in vào những năm 1976 và 1980.”

Và tôi đã đặt câu hỏi: “… tại sao các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng đã bỏ qua, không sử dụng những tài liệu này trong đàm phán?”.

Nếu ông Trục không coi đây là những bằng chứng lịch sử có giá trị pháp lý thì ông phải nói rõ lý do, chứ không nên lờ đi, vì các bằng chứng này có liên quan đến chính quyền mà ông Trục phục vụ, và cả Đảng Cộng sản Việt Nam – mà ông Trục là một thành viên.

4) Ông Trần Công Trục luôn mồm rao giảng về sự khác nhau giữa một bên là “chủ quyền lịch sử, bằng chứng lịch sử, quan điểm lịch sử” và bên kia là “các chứng lý lịch sử có giá trị pháp lý trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ theo luật pháp quốc tế”. Tự coi mình là người am hiểu và nắm vững vấn đề hơn người khác, ông luôn mồm chê bai người khác là “nhầm lẫn”, là “nhận thức hạn chế”, v.v. và v.v.

Vì vậy, tôi thấy cần nhấn mạnh đến “những chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý” trích từ cuốn Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc xuất bản năm 1979, mục II (Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay), nói về việc “nhà cầm quyền Trung Quốc đã lần lượt lấn chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt Nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế”:

“[3] Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.

Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20 tháng 2 năm 1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.” (tr. 11-12)

“[7] Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới.

Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.” (trang 14)

Đề nghị ông Tiến sĩ Trần Công Trục cho biết: những hồ sơ nêu trên có phải là “những chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý” hay không?

Riêng tôi thì tin rằng khi viết những dòng chữ này trong bản “bị vong lục” năm 1979, Bộ Ngoại giao do cố Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch[4] lãnh đạo đã có sẵn những chứng cứ pháp lý cụ thể kèm theo. Nếu ông Trần Công Trục thật sự có “tinh thần tôn trọng sự thật khách quan, bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc và có lợi cho việc gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển đất nước” thì ông nên đề nghị ông đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh mở kho lưu trữ để công bố các hồ sơ nêu trên cho toàn dân biết. Trong các hồ sơ đó, dĩ nhiên có cả những bản đồ chi tiết về cột mốc 53, về cồn Pò Thoong, v.v… – nhất là chứng cứ về việc Trung Quốc đã sửa bản đồ tỷ lệ 1/100.000 như thế nào nhằm “chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong”.

Cũng cần nhấn mạnh đến ý kiến của ông Tiến sĩ Trần Công Trục cho rằng chỉ có “các văn kiện, bản đồ hoạch định cắm mốc kèm theo” hai công ước Pháp-Thanh và được hai công ước ấy “xác nhận và quy định” mới được xem xét là có giá trị khi đưa ra đàm phán, còn tất cả các chứng cứ khác (kể cả bản đồ) “nằm ngoài phạm vi của 2 bản Công ước trên” đều không được chấp nhận. Theo tôi, một khi đã chấp nhận điều kiện này, ông Trục và những người tham gia đàm phán về phía Việt Nam đã rơi vào bẫy của phía Trung Quốc.

Vì sao? Vào cuối thế kỷ 19, khi ký kết các công ước giữa Pháp và nhà Thanh, trình độ kỹ thuật chưa cho phép người ta vẽ bản đồ với độ chính xác cao, nhất là chưa có tọa độ địa lý. Vì vậy nếu chỉ dựa vào những bản vẽ ấy, không thể xác định được chính xác các cột mốc biên giới. Chính phía Trung Quốc cũng biết rõ như thế cho nên họ mới tìm cách “sửa bản đồ”, “dời cột mốc”, và sau khi đã ký được hiệp định 1999, hoàn thành việc cắm mốc, họ đã vội vàng dỡ bỏ mọi cột mốc lịch sử để “phi tang”, xóa dấu tích nhằm che giấu những việc làm ám muội của họ.

Vì thế, cần phải căn cứ vào các tài liệu – nhất là bản đồ của thời Pháp thuộc, để xác định đường biên giới Pháp-Thanh đã được thể hiện rõ ràng trên thực tế. Cho đến nay, các nhà ngoại giao tham gia đàm phán (kể cả ông Trần Công Trục) đều cố tình lờ đi hai tài liệu quan trọng: bản đồ gốc tỷ lệ 1/100.000 (tức là bản đồ do người Pháp in trước năm 1954) và bản đồ in lại đã bị Trung Quốc sửa chữa. Chính sự mờ ám đó khiến cho nhân dân hoài nghi vào “lòng yêu nước”, “tính trung thực” của những người tham gia đàm phán hiệp định biên giới Việt-Trung, chứ không phải là do những bài viết của tôi và các nhà nghiên cứu khác.

Điều mà các bài viết của tôi nhắm tới chính là “đường biên giới do lịch sử để lại” mà bản “bị vong lục” năm 1979 đã nhiều lần nhắc tới. Đường biên giới lịch sử ấy chính là đường biên giới do các công ước Pháp-Thanh quy định vào cuối thế kỷ 19. Đường biên giới lịch sử ấy có thật sự được tôn trọng hay không? Hiệp định biên giới trên bộ năm 1999 có bảo đảm được “đường biên giới lịch sử” ấy hay không? Đó mới thật sự là điều những người Việt Nam yêu nước băn khoăn, lo nghĩ.

Vì vậy, không thể đánh lận con đen, quy tôi vào quan niệm “chủ quyền lịch sử” theo kiểu của Tòa soạn báo Giáo dục Việt Nam và ông Tiến sĩ Trần Công Trục. Tôi đâu có đòi lại đất Quảng Tây hay Quảng Đông mà bảo tôi “nhận thức sai lầm về chủ quyền lịch sử”?

Cuối cùng, tôi đọc được câu sau đây trên trang mạng Giáo dục Việt Nam – cơ quan ngôn luận của “Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng ngoài công lập”: “Mọi ý kiến nhận xét, phản biện về các nội dung trong bài viết trên tinh thần tôn trọng sự thật khách quan, bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc và có lợi cho việc gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển đất nước, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam sẵn sàng đăng tải. Tiến sĩ Trần Công Trục sẵn sàng trao đổi để làm rõ những thắc mắc, nghi vấn xung quanh vấn đề này.”

Dựa trên tinh thần đó, tôi chính thức đề nghị báo điện tử Giáo dục Việt Nam đăng tải bài viết này cùng với toàn văn bài viết “Sự thật về Thác Bản Giốc” bên cạnh bài trả lời phỏng vấn của ông Trần Công Trục để độc giả tiện so sánh, đánh giá, phản biện.

Đà Lạt ngày 5-9-2013

Mai Thái Lĩnh

___________________________________

[1] “Sự thật về Thác Bản Giốc” và nhận thức sai lầm về chủ quyền lịch sử, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, Thứ ba 3-9-2013:

http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Su-that-ve-Thac-Ban-Gioc-va-nhan-thuc-sai-lam-ve-chu-quyen-lich-su/315145.gd

[2] Mai Thái Lĩnh, Sự thật về Thác Bản Giốc,

https://danluan.org/tin-tuc/20120211/mai-thai-linh-su-that-ve-thac-ban-gioc-phan-i

https://danluan.org/tin-tuc/20120211/mai-thai-linh-su-that-ve-thac-ban-gioc-phan-ii

[3] Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1979, trang 34-36. Những đoạn gạch dưới là do tôi nhấn mạnh (MTL).

[4] Theo Wikipedia bản tiếng Việt, ông Nguyễn Cơ Thạch (tên thật là Phạm Văn Cương) là thân sinh của ông Phạm Bình Minh – Bộ trưởng Ngoại giao hiện nay.

Thuốc Lá gửi hôm Thứ Sáu, 06/09/2013
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?
Nhà máy điện hạt nhân

Bài 1: Điện hạt nhân và những câu hỏi để ngỏ

Cuốn Khuyến học xuất bản tại Việt Nam

Fukuzawa: Trách nhiệm của "người đứng trên người"

Việt Nam nên làm gì trước khủng hoảng? (phần 2)

Mười tiêu chí để truyền đạt thông tin y tế tốt hơn

Tư Bản và Xã Hội: Hai mặt của một vấn đề


DVM2013 (khách viếng thăm) gửi lúc 08:28, 09/09/2013 - mã số 97027

Đã là bản chất và là căn bệnh trầm kha rồi, mãn tính rồi. Trong bà con ai là bác sĩ giỏi mà chữa được những con người đã mắc bệnh mãn tính này? Cái lý đúng không làm tỉnh ngộ được những con người này. Sự thật về biên giới đã ổn định từ thời Pháp xâm lược nước ta, còn tại sao TQ nó đánh chiếm,lấn chiếm, và không từ bỏ tư tưởng đó, một phần cũng là vì nó hiểu được cái ngu cái yếu, cái tham nam cá nhân của những người mắc bệnh lại sợ bị mất đi cái hàng ngày đang được huởng lợi.
Vậy đó, nếu bà con có những tài liệu chứng cứ trước đây, hoặc có những nội dung gì đó thể hiện được chủ quyền quốc gia thì hãy chưng ra để mọi người dân biết, hạn chế tranh luận với những con người đang mắc bệnh trầm kha mãn tính đang cố sống để mà hưởng thụ.

Hồ Gươm gửi lúc 14:00, 08/09/2013 - mã số 96982

Thư trao đổi giữa ông Mai Thái Lĩnh và Ban quản trị báo Giáo dục Việt Nam

Đôi lời: Sau khi trang Boxit Việt Nam đăng bài Sự thật về Thác Bản Giốc: ai là người nhận thức sai lầm? của ông Mai Thái Lĩnh, phản hồi bài phỏng vấn TS Trần Công Trục trên báo Giáo dục Việt Nam, một độc giả của trang Ba Sàm đã chủ động liên lạc với báo Giáo dục VN để giới thiệu bài viết của ông Mai Thái Lĩnh. Rất nhanh chóng, báo Giáo dục VN và ông Mai Thái Lĩnh đã có thư trao đổi.

Được sự đồng ý của báo Giáo dục VN và theo thiện ý của ông Mai Thái Lĩnh, chúng tôi xin đăng tải những ý kiến trao đổi này. Thiết nghĩ đây cũng là một tín hiệu tốt cho sự đối thoại thẳng thắn, minh bạch, cần được khích lệ, nhất là giữa báo giới với mạng xã hội, lại liên quan tới một vấn đề rất hệ trọng của đất nước.

1- Thư độc giả:

Kính gửi Ban quản trị trang Basam,

Hôm nay, sau khi xem bài về phản hồi của ông Mai Thái Lĩnh, tôi đã chuyển tiếp đến địa chỉ của Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam và họ đã trả lời như sau:
.
Vì không biết địa chỉ mail của ông Mai Thái Lĩnh nên tôi nhờ Ban quản trị trang Basam chuyển mail này tới cho ông Mai Thái Lĩnh.
.
Xin cảm ơn.
.
Quang Vinh 098335[...]
.
———————
.
.
2- Thư của báo Giáo dục VN (6/9/2013):
.
Kính gửi ông Mai Thái Lĩnh,

Chúng tôi đã nhận được e-mail đề ngày 5/9/2013 của ông Mai Thái Lĩnh phản hồi về bài báo “Sự thật về thác Bản Giốc” và nhận thức sai lầm về chủ quyền lịch sử, do phóng viên Hồng Thủy phỏng vấn ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ và đăng trên Báo Ðiện tử Giáo dục Việt Nam ngày 3/9.

Chúng tôi hoan nghênh và đánh giá cao sự trao đổi thẳng thắn của ông trong bài phản hồi này gửi ông Trần Công Trục. Chúng tôi sẵn sàng trao đổi cùng ông để làm rõ những vấn đề khác biệt ông nêu ra trong nội dung e-mail phản hồi ngày 5/9. Ðể quá trình trao đổi được thuận lợi cũng như đảm bảo thông tin được chính xác, xin ông cung cấp một số thông tin cá nhân để chúng tôi có thể xác nhận người gửi e-mail phản hồi đế ngày 5/9/2013 chính là ông Mai Thái Lĩnh, tác giả bài viết “Sự thật về Thác Bản Giốc” mà bài báo của chúng tôi đề cập hôm 3/9.

Ngoài ra, những vấn đề ông nêu ra và phản biện lại quan điểm của ông Trần Công Trục còn liên quan đến một bên thứ 4, đó là Bộ Ngoại giao Việt Nam, cơ quan chủ quản về các vấn đề biên giới, lãnh thổ hiện nay. Do đó, những tài liệu một khi chúng tôi trích dẫn và đưa lên mặt báo phải đảm bảo khách quan và chính xác và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Vì vậy xin ông vui lòng gửi cho chúng tôi bản tài liệu phô tô có xác nhận của ông mà ông đã đề cập trong nội dung phản biện, bao gồm cuốn “bị vong lục” (memorandum) do Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố vào năm 1979 và cuốn Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc xuất bản năm 1979, mục II (Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay).

Chúng tôi và cá nhân ông Trần Công Trục sẵn sàng trao đổi trên tinh thần khách quan, tôn trọng sự thật và làm sao để có lợi nhất cho việc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, lợi ích hợp pháp của quốc gia, duy trì hòa bình, ổn định. Chúng tôi hiểu rằng những việc mình đang làm cũng như ông hay bất cứ ai quan tâm đến vấn đề biên giới lãnh thổ đều xuất phát từ tình cảm yêu nước chân thật, nhưng có sự khác nhau trong quan điểm và nhận thức, vì vậy chúng tôi mong muốn được trao đổi và làm rõ những sự khác biệt. Qua quá trình trao đổi, nếu chúng tôi có sai sót chỗ nào, chúng tôi sẽ thành thực nhận lỗi và đính chính.

Xin gửi ông lời chào trân trọng!

Phan Doãn Phúc

Trưởng ban Quốc tế

Báo Ðiện tử Giáo dục Việt Nam.

.

———————

.

3- Thư của ông Mai Thái Lĩnh (7/9/2013):

Kính gửi: Ông Phan Doãn Phúc

Trưởng ban Quốc tế – Báo điện tử Giáo dục Việt Nam.

Tôi có nhận được lá thư của ông do một độc giả chuyển tới qua trang mạng Ba Sàm. Trước hết, tôi xin lỗi về việc đã không đợi quý báo phản hồi mà đã cho đăng trước ý kiến của tôi trên trang Bauxite Vietnam và các trang mạng khác.

Nhưng thú thật với ông từ năm 2000 đến nay, tôi không còn chút tin tưởng nào đối với quyền tự do báo chí trong nước – mặc dù từ khoảng 1987 cho đến năm 1995, tôi thường xuyên viết bài cho các tờ báo lớn như: Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, v.v… và một số bạn bè tôi từng là Phó tổng biên tập, Tổng biên tập các tờ báo lớn trong nước.

Đầu năm 2001, sau khi nhà báo Nguyễn Như Phong (lúc đó là trung tá công an) viết bài xuyên tạc, nói xấu tôi và tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ (tức Hà Sĩ Phu) trên tờ An ninh Thế giới, tôi đã viết bài phản bác gửi cho Tòa soạn báo bằng đường bưu điện, yêu cầu phải đăng lại trên trang báo theo đúng quy định của Luật báo chí, nhưng họ lờ đi. Sau đó, căn cứ vào Luật báo chí, tôi cũng đã gửi thư khiếu nại đến các vị lãnh đạo cao cấp nhất của chính quyền (trong đó có cả ông Nông Đức Mạnh – lúc đó là Chủ tịch Quốc hội đang chuẩn bị lên chức Tổng bí thư), nhưng họ cũng lờ đi không giải quyết và cũng không thèm trả lời (mặc dù tôi đã từng là Phó hiệu trưởng Trường PTTH Thăng Long trong 13 năm, sau đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân TP. Đà Lạt từ 1989 đến 1995).

Kể từ đó, tôi tự nhủ: từ nay sẽ đăng bài ở bất cứ đâu, không cần phải xin phép ai cả.

Kể dông dài như thế để thấy rằng trước khi nhận được thư của ông, tôi không tin rằng quý báo có thể đăng bài viết phản biện của tôi. Vì vậy tôi đã mạn phép công khai bài viết của tôi trên khắp thế giới. Mong ông thông cảm.

Theo yêu cầu của ông, tôi gửi lại bài viết của tôi, trong đó có sửa một chi tiết: việc TQ chiếm cồn Pò Thoong là vào ngày 29 tháng 2 năm 1976 chứ không phải ngày 20 tháng 2 năm 1970. Về chi tiết này, trong bài “Sự thật về Thác Bản Giốc” tôi viết đúng, nhưng khi viết bài phản biện này, tôi dựa trên một bản điện tử trước đây đăng trên trang Bauxite Vietnam do một độc giả đánh máy lại nên có sự nhầm lẫn (do chữ in trong cuốn sách không rõ lắm).

Ngoài ra, còn có một số tài liệu sau:

(1) Một số trang có liên quan (bản scan) trích từ cuốn “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”;

(2) Ngoài ra còn có toàn văn của cuốn sách nói tên từ một bản khác mà tôi lưu từ trên mạng (có lẽ sao từ một bản sách trong một thư viện ở nước ngoài); bản scan này mờ hơn bản trước. *

Hai bản này có nội dung giống hệt nhau, vì cuốn sách nói trên đã phát hành rộng rãi vào năm 1979.

Như đã giới thiệu ở trang 4: “Cuốn sách gồm toàn bộ bản ‘Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lấn lãnh thổ Việt nam ở vùng biên giới’ công bố ngày 15 tháng 3 năm 1979 tại Hà Nội.” Nói cách khác, bản bị vong lục (memorandum, trong miền Nam trước 1975 thường gọi là Giác thư) và cuốn “Vấn đề biên giới giữa VN và TQ” chỉ là một. Vì đây là một cuốn sách được xuất bản công khai, Tòa soạn có thể kiểm tra lại ở các thư viện lớn tại Hà Nội hay tại Bộ Ngoại giao.

Gửi thư này, tôi cũng hy vọng quý báo có thể giúp làm sáng tỏ được phần nào một vấn đề đã làm cho nhân dân, và cả các cán bộ, đảng viên thắc mắc từ lâu nay. Tất nhiên đó là mong ước, còn việc mong ước đó có thực hiện được hay không còn phải qua một chặng đường chông gai nữa.

Dù sao, tôi cũng thành thật cảm ơn thiện chí của ông cũng như của quý báo.

Chúc sức khỏe ông Trưởng ban và toàn thể Tòa soạn báo Giáo dục Việt Nam.

MAI THÁI LĨNH

Số 31 đường 3/2 thành phố Đà Lạt

Điện thoại: 0903937322 (nên hạn chế sử dụng vì số ĐT này thường xuyên bị nghe lén từ hơn 15 năm nay).

T.B.: Quý báo có thể cho phép tôi công bố nội dung lá thư email của ông Trưởng ban trên trang Bauxite Vietnam? Tôi cho rằng công bố lá thư này sẽ góp phần giảm bớt bầu khí căng thẳng ban đầu – ít nhất là giữa tôi và Tòa soạn báo.

———————

.

4- Thư trả lời của báo Giáo dục VN (7/9/2013):
.
Kính gửi ông Mai Thái Lĩnh,

Chúng tôi đã nhận được email xác nhận và tài liệu ông gửi kèm theo như đề nghị, một lần nữa chúng tôi bày tỏ sự hoan nghênh và đánh giá cao tinh thần trao đổi thẳng thắn và cởi mở của ông.

Chúng tôi không cảm thấy phiền lòng khi ông cho đăng tải nội dung phản hồi trên các trang mạng xã hội trước khi gửi nó chính thức cho chúng tôi, chúng tôi thấy rằng vấn đề gây tranh cãi là sự quan tâm của đông đảo dư luận, nên thông tin minh bạch, công khai sẽ càng tốt hơn.

Về phía cá nhân PV Hồng Thủy, ông Trần Công Trục hay Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam không có mâu thuẫn hay thành kiến gì đối với ông cũng như bất kỳ ai bày tỏ sự quan tâm đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia, có thể giữa chúng ta còn những khác nhau trong nhận thức về từng vấn đề cụ thể, nhưng đó là hệ quả tất yếu của một giai đoạn lịch sử nhiều biến động. Chúng tôi tin rằng khi có thiện chí trao đổi với nhau một cách thẳng thắn và sòng phẳng, những khác biệt trong nhận thức, suy nghĩ về vấn đề chủ quyền sẽ ngày càng được thu hẹp.

Do đó, chúng tôi đồng ý để ông công khai email trả lời của tôi để dư luận quan tâm và tiện theo dõi, tránh những thắc mắc không cần thiết.

Quay trở lại nội dung chính, có thể do cách đặt vấn đề của PV Hồng Thủy dễ khiến dư luận hiểu lầm là chúng tôi quy chụp ông, bằng email này tôi xin khẳng định chúng tôi không có ác ý nào nhằm vào cá nhân ông, chỉ do muốn nêu bật vấn đề về CHỦ TRƯƠNG giải quyết tranh chấp dựa vào “chủ quyền lịch sử, quan điểm lịch sử, bằng chứng lịch sử” với CHỦ TRƯƠNG giải quyết tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế trong đó sử dụng các chứng lý lịch sử có giá trị pháp lý để bảo vệ tuyên bố, yêu sách chủ quyền nên chúng tôi gắn vấn đề thời sự biên giới Tây Nam để độc giả dễ hình dung. Và sự so sánh giữa 2 NHẬN THỨC về cách giải quyết tranh chấp chứ không có ý so sánh 2 TRANH CHẤP. Cách đặt vấn đề như vậy có thể khiến người khác hiểu lầm, chúng tôi thành thực xin lỗi ông và xin rút kinh nghiệm nghiêm túc.

Chúng tôi đã trao đổi với ông Trần Công Trục, ông Trục sẵn sàng gửi bài trả lời các chất vấn ông nêu ra xung quanh vấn đề chủ quyền thác Bản Giốc. Qua email ông vừa gửi, chúng tôi thấy rõ cả ông và chúng tôi đều rất có thiện chí muốn làm rõ vấn đề, vì vậy trong đầu tuần tới chúng tôi sẽ đăng bài ông Trục trả lời cụ thể từng câu hỏi chất vấn của ông liên quan đến nội dung, còn phần chất vấn về cách đặt vấn đề của PV Hồng Thủy trong bài báo trước, chúng tôi xin phép trao đổi như trên và không đăng lại, tránh gây những đồn đoán, căng thẳng trong dư luận.

Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là vô cùng thiêng liêng đối với mỗi người Việt Nam, ở góc độ của mình, mỗi người có cách nghĩ, cách bày tỏ khác nhau. Chúng tôi cho rằng thời điểm hiện nay cần cố kết khối đại đoàn kết dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế, muốn như vậy chúng ta phải công khai, minh bạch và sòng phẳng dần đối với từng vấn đề tồn tại, cái gì chúng ta đúng, chúng ta kiên quyết bảo vệ, cái gì chúng ta sai, chúng ta phải sửa.

Chúng tôi chân thành cảm ơn ông đã sớm phản hồi, và chúng tôi chờ đợi ý kiến của ông về những vấn đề đã nêu phía trên.

Xin gửi tới ông lời chào trân trọng!

Phan Doãn Phúc

Trưởng ban Quốc tế

Báo Ðiện tử Giáo dục Việt Nam.

———-

* Tài liệu ông Mai Thái Lĩnh gửi báo Giáo dục VN:








Nguồn; Ba Sàm

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
8 + 7 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Bấm vào đây để xem thể lệ cuộc thi sáng tác video Quyền Con Người và Tôi 2013

Suy ngẫm

“Nếu không có quyền nói (viết) tất cả những điều mình muốn, thì ít ra cũng giữ cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói". Đó là câu của cụ Huỳnh Thúc Kháng, người sáng lập đồng thời là chủ nhiệm tờ báo Tiếng Dân, sau này cụ được Hồ Chí Minh cử làm quyền Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

— Nhà báo Trương Duy Nhất

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 0 thành viên608 khách truy cập.


Kỷ lục: Có 2315 người ghé thăm vào 11-03-2013 lúc 13h29.

Độc giả Dân Luận từ đâu đến?

Locations of visitors to this page

Quỹ Dân Luận

Hãy bấm để ủng hộ tài chính cho Dân Luận. Thu chi quỹ Dân Luận được công bố công khai tại đây!