Tống Văn Công - Kìa! Cái Tất Yếu đang lừng lững đi tới!

Tống văn Công
Chia sẻ bài viết này

I- VÌ SAO QUỐC HỘI KHÔNG THỂ NHẬN THỨC ĐƯỢC ”CÁI TẤT YẾU”?

Sau khi Hiến pháp được Quốc hội thông qua với số phiếu áp đảo, dư luận cả nước sôi hẳn lên. Các giáo sư, tiến sĩ Mác – Lê phân tích “Hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng được Quốc hội thông qua là thắng lợi của ý Đảng lòng dân”. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trong nói ”Hiến pháp mới nói lên tiếng nói của 90 triệu đồng bào”. Báo Nhân Dân đăng bình luận “Hiến pháp (sửa đổi) – một bước tiến lịch sử”.

Nhưng có sự phản ứng ngược lại. Nhà văn Võ thị Hảo kêu lên ngày thông qua Hiến pháp là ngày tang khốc của dân tộc. Đảng viên Lê Hiếu Đằng, người từng bị chế độ Sài Gòn kết án tử hình tuyên bố từ bỏ Đảng. Hôm sau, đảng viên tiến sĩ Phạm Chí Dũng một cây bút bình luận thời sự chính trị xuất sắc, gửi tâm thư xin ra Đảng, bởi “Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng chỉ mang hơi thở và bóng hình của các nhóm lợi ích”. Tiếp theo, đảng viên, bác sĩ Nguyễn Đắc Diên ra Đảng nhưng hứa hẹn ”Khi nào Đảng thực sự hoàn lương, nắm vững ngọn cờ dân tộc vứt bỏ ngọn cờ xã hội chủ nghĩa thì tôi lại phấn đấu xin vào”. Đảng viên Nguyễn Minh Đào gần 80 tuổi đời, gần 60 tuổi Đảng cảnh báo “Đất dưới chân Đảng đang rung chuyển, tôi mong Đảng hãy kịp thời hành động, đừng để quá muộn!”.

Lời nói đầu Hiến Pháp mới viết rằng, Hiến pháp này “kế thừa Hiến pháp 1946”. Nếu đúng như vậy thì cũng đã đáp ứng được phần lớn đòi hỏi của số khá đông đảng viên và nhân dân rồi, vậy tại sao vấp phải phản ứng dữ dội như vậy? Không đúng! Hiến pháp 1946 và Hiến pháp mới khác nhau về ý thức hệ, cho nên không có chuyện kế thừa ! Hiến pháp 1946 đề cao vai trò của nhân dân, đảm bảo các quyền cơ bản của nhân dân, quy định nhân dân tham gia quyết định các sự kiện trọng đại của đất nước bằng quyền phúc quyết sau khi đã được Quốc hội thông qua. Hiến pháp 1946 quy định nhà nước pháp quyền, với tam quyền phân lập, điều mà Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1879 ở Điều 16 viết: ”Ở một xã hội mà quyền con người không được đảm bảo, nguyên tắc tam quyền phân lập không được tôn trọng thì Hiến pháp có được ban hành hay không cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Khác với Hiến pháp 1946, Hiến pháp mới quy định cho một tổ chức chính trị được quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội mà không cần phải qua bầu cử của nhân dân, quy định lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với tổ chức chính trị ấy.

Giống như bào chữa cho việc bỏ phiếu thông qua Hiến pháp của Quốc Hội, tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội cho rằng: “Hai năm qua, những tư tưởng về chủ nghĩa lập hiến, về chủ quyền nhân dân, về quyền con người, về cơ chế kiểm soát quyền lực…đã tràn vào nước ta, thắp sáng khối óc và con tim của hàng triệu người Việt… Tuy nhiên, nhận thức về sự tất yếu như vậy nhiều khi khó đạt một cách dễ dàng. Một độ trễ nhất định của nhận thức so với thực tiễn đã đầy “đa nguyên” của đời sống kinh tế là rất khó tránh khỏi.” Lời bào chữa của ông không giúp được “hạ nhiệt” dư luận mà trái lại đã làm cho người đọc thêm bức xúc: “Tại sao những tư tưởng khai sáng tràn vào thắp sáng được khối óc, con tim của hàng triệu người Việt mà nó lại không thể thắp sáng nỗi đầu óc, con tim của gần 500 đại biểu Quốc hội, trong có hơn 90 % là đảng viên, và có mặt tất cả các ủy viên Bộ chính trị của Đảng tiên phong lãnh đạo, “những đại biểu ưu tú mang trí tuệ của dân tộc và thời đại”? Điều ấy gây khó cho những ai muốn bào chữa họ là những đại biểu ưu tú của nhân dân!

Mọi người đều biết “tất yếu và ngẫu nhiên” là một cặp phạm trù triết học phản ánh mối liên hệ khách quan giữa các hiện tượng trong quá trình biến đổi, phát triển của thế giới. Tất yếu là cái nhất thiết phải xảy ra trong những điều kiện nhất định, còn ngẫu nhiên là cái có thể xảy ra hay không thể xảy ra, có thể xảy ra thế này hay thế khác. Tất yếu gắn liền với những nguyên nhân bên trong, bản chất của hiện tượng, là xu hướng phát triển cơ bản của hiện tượng. Cái tất yếu mở đường đi cho nó thông qua vô số những cái ngẫu nhiên, còn cái ngẫu nhiên thì trở thành biểu hiện, bổ sung cho cái tất yếu. Cái tất yếu được chỉ ra trong các quy luật động học có độ xác định cao. (theo Từ điển Bách khoa).

Nhiều học giả trên thế giới và trong nước đều khẳng định rằng, tự do, dân chủ, nhân quyền là xu thế tất yếu của thời đại mà mọi quốc gia nhanh hay chậm đều phải đi đến. Vậy nếu đi ngược lại cái tất yếu thì điều gì sẽ xảy ra? Chắc chắn phía trước tiềm ẩn nhiều tai họa!

Đại văn hào Stephan Zweig cho rằng “Luôn có những con chim báo bão, sứ giả của trí tuệ, đi trước những tai họa lớn bằng sự bay của mình”. Tiếc thay tiếng chim báo bão ở nước ta không có người lắng nghe!

“ĐẾN HẾT THẾ KỶ NÀY CHƯA BIẾT ĐÃ CÓ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM HAY CHƯA”!

Trên đây là câu nói của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi góp ý sửa đổi Hiến pháp. Ông vốn là tiến sĩ về lý luận xã hội chủ nghĩa Mác – Lê, là người đứng đầu Đảng cộng sản nhận nhiệm vụ “đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH với nhận thức và tư duy đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam” (Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Vậy câu nói của ông nên hiểu là với “nhận thức và tư duy” thế nào?

Theo lý luận Mác- Lê thì ở thời kỳ quá độ, chuyên chính vô sản phải thi hành các chính sách nhằm tạo ra “điều kiện tiên quyết của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa hùng mạnh và tiến hành hợp tác hóa kinh tế nông dân. Thời kỳ quá độ kết thúc sau khi đã tiêu diệt thành phần tư bản chủ nghĩa ở thành thị và nông thôn, chủ nghĩa xã hội thắng lợi trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.” (Từ điển kinh tế, Nhà XB CTQG Liên Xô năm 1958, NXB Sự thật in lại 1962, trang 565). Về thời kỳ quá độ, Đại hội 11 kết luận:”Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.” Nội dung này trung thành với nguyên lý nói trên và không gây cảm giác “chuyện ấy còn lâu”.

Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới bác bỏ khả năng thực hiện “quá độ xã hội chủ nghĩa” nói trên. Nhưng có lẽ sự bác bỏ có sức thuyết phục mạnh nhất là việc các nước SNG trong Liên Xô cũ và các nước Đông Âu vứt bỏ hoàn toàn lý thuyết nói trên để thực hiện nền dân chủ pháp quyền, kinh tế thị trường hiện đại và xã hội dân sự.

Nguyên nhân khiến cho chủ nghĩa xã hội không thể vượt qua được chiếc cầu “quá độ” là vì nó mang nhiều khuyết tật không thể khắc phục, trong đó có hai vấn đề lớn nhất:

Một là chế độ độc tài toàn trị từng bước làm thoái hóa Đảng cộng sản cách mạng, vốn đặt mục đích vì lợi ích người lao động, cuối cùng lại trở thành Đảng quan liêu, đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, đứng trên nhân dân. Tình trạng này không thể khắc phục được, bởi như nhận định của lý thuyết gia chính trị Lord Acton “ Quyền lực dẫn tới tha hóa. Quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối.” Các Đảng cộng sản đều kêu gọi đảng viên gần dân, dựa vào dân, nhưng mọi quyền lợi của họ đều do Đảng quyết định, cất nhắc, phân công cho nên không có đảng viên nào thấy cần phải dựa vào dân. Hơn nữa, những điều người dân đòi hỏi mà trái với Nghị quyết của Đảng thì họ phải nhân danh Đảng bác bỏ, thậm chí trù giập, để bảo vệ quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là “Đảng cử dân bầu”.

Hai là chế độ xã hội chủ nghĩa triệt tiêu quyền sở hữu tài sản cá nhân tức là quyền tự do về kinh tế, khiến cho con người mất động lực lao động sản xuất và sáng tạo. “Cha chung không ai khóc”, “của chung là của chùa” khiến cho “làm thì nhác, chia chác thì siêng”. Lê Nin cho rằng quyết định cuộc đấu tranh “ai thắng ai” là ở năng suất lao động bên nào cao hơn. Nhưng kết cục, năng suất lao động ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa đều thấp, hàng hóa làm ra vừa ít, vừa kém chất lượng. Đời sống vật chất không được cải thiện, trong khi đời sống tinh thần không có tự do, nhân dân không thể mãi cúi đầu cam chịu.

Đảng cộng sản Việt Nam may mắn hơn các Đảng cộng sản khác ở 2 điều: Nhân dân ta nhạy bén, dám phản ứng khi nhìn thấy khuyết tật lộ ra sau cải tạo xã hội chủ nghĩa; Đảng có nhiều nhà lãnh đạo biết lắng nghe nhân dân, âm thầm cùng họ “xé rào”(tức là vượt qua các nguyên lý xã hội chủ nghĩa), như Võ Văn Kiệt, Trần Phương, Đoàn Duy Thành, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Văn Hơn, Bùi Văn Giao… Nhờ đó, Đảng có thể lãnh đạo cuộc đổi mới kinh tế của Đại hội 6 năm 1986. Với cách nói né tránh là “xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp”, thực ra đó là xóa bỏ cơ chế xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác-Lê mà nội dung đã trích dẫn ở trên. Chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có thành phần kinh tế tư bản, nhưng né tránh tên cúng cơm để gọi là doanh nhân. Tuy nhiên về mặt chính trị thì hầu như 28 năm qua không có sự tự giác đổi mới đáng kể, chỉ vì sợ mất vị trí độc quyền toàn trị. Ngay trong khóa 6, ông Trần Xuân Bách, ủy viên Bộ chính trị chỉ vì đề nghị đổi mới chính trị song song với đổi mới kinh tế đã lập tức bị sa thải!

Đại hội 7, Đại hội 8 vẫn nhắc lại đổi mới kinh tế là “điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới chính trị”, nhưng lại “bác bỏ lợi dụng dân chủ, nhân quyền nhằm quấy rối về chính trị”. Đại hội 9 rút ra 4 bài học đổi mới không nhắc gì đến đổi mới chính trị. Điều lạ lùng là Đại hội này khẳng định “Con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta bỏ qua chủ nghĩa tư bản”. Thật là cố bám lấy mớ lý luận giáo điều một cách hết sức nông nổi, dù rằng thừa nhận “tình trạng tham nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng.”, bởi vì không nhân thức được nguyên nhân suy thoái là do không đổi mới chính trị. Đại hội 10, quyết định,“Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, và phát triển văn hóa tinh thần”; đồng thời cảnh báo tình trạng suy thoái đa dạng và nghiêm trọng hơn khóa trước: “Suy thoái chính trị, đạo đức lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng thiếu sức chiến đấu.” Trước thềm Đại hội 11, nhiều đảng viên, trong đó có nguyên ủy viên Bộ chính trị và Ủy viên Trung ương, kiến nghị phải đổi mới chính trị. Ý kiến các đồng chí này không được nghe, họ còn bị quy chụp là suy thoái chính trị, “tự diễn biến”! Đại hội 11 nhắc lại ”Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp…”. Nhưng không nêu ra được những nội dung tự do, dân chủ của thời đại vào lộ trình đổi mới chính trị. Các văn kiện vẫn tiếp tục khái niệm “mở rộng dân chủ” mà mấy mươi năm trước, Trần Xuân Bách đã bác bỏ:” Dân chủ không phải do lòng tốt của những người lãnh đạo muốn ban ơn cho dân, thấy thuận lợi thì mở rộng thấy bất tiện thì thu hẹp. Dân chủ không có chỗ cho những ai muốn lợi dụng”. Thực hiện nghị quyết Đại hội 11, Hội nghị TƯ 4 ra Nghị quyết xây dựng Đảng, tìm biện pháp khắc phục tình trạng mà một nhà lãnh đạo Đảng đã chẩn đoán”Tình trạng suy thoái trong Đảng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư đã di căn”. Đáng buồn là biện pháp chủ yếu để trị “ung thư đã di căn” được HN TƯ 4 đề ra chỉ là “tự phê bình và phê bình chân thành xây dựng.” Nhà văn Vũ Tú Nam xót xa bình luận”Đảng như con cá ngúc ngoắc trong ao cạn!”

Đến đây, đã có thể hiểu được vì sao Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt mục tiêu xã hội chủ nghĩa xa vời đến thế. Ông đã thấy “Tham nhũng tổ chức thành đường dây chứ không phải từng người ăn mảnh….họ đua nhau tham nhũng”. Đảng viên có chức, có quyền, “một bộ phận không nhỏ” là những “tư bản đỏ” nắm quyền vận hành nền kinh tế theo thứ “chủ nghĩa tư bản hoang dã”. Ông không thấy không thể nào “cải tạo xã hội chủ nghĩa” đối với họ. Vậy thì, làm sao biết hết thế kỷ này đã có chủ nghĩa xã hội hay chưa! Ông thấy bất lực trước thực tế, nhưng tiếc thay tại sao vẫn cố buộc cả dân tộc phải đi “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!”?

Thưa Tổng bí thư, xin được nhắc lại lời của Alexander Ivanovich Herzen, một nhà tư tưởng Nga lỗi lạc:” Mục đích mà xa bất tận thì không phải là mục đích nữa,- nếu anh muốn, chỉ là mánh khóe thôi; mục đích thì phải gần hơn, ít nhất cũng như tiền lương hay khoái cảm trong lao động….Cuộc sống không thỏa mãn với những ý tưởng trừu tượng, không chịu vội vã, cứ chậm chạp….Cho phép tôi được hỏi anh, do đâu mà anh cảm thấy thế giới bao quanh chúng ta lại vững chắc và trường tồn đến thế?”.

II – TỪ BẢN KIẾN NGHỊ 1 NGƯỜI KÝ, ĐẾN “KIẾN NGHỊ 72”.

Đầu năm 1991, trước thềm Đại hội 7, tình hình kinh tế đã có chuyển biến khá, nhưng đất nước chưa thoát khỏi khủng hoảng. Một số lão thành cách mạng họp nhau nhận diện cuộc khủng hoảng và bàn bạc tìm lối ra. Các cụ nhất trí giao cho ông Nguyễn Kiến Giang, nguyên Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự thật chấp bút. Đến tháng 3-1991 bản kiến nghị viết xong với tựa đề là “Khủng hoảng và lối ra”. Các cụ họp lại đọc, tất cả đều tán thành, nhưng chỉ có cụ Lê Giản, nguyên giám đốc Nha Công an đầu tiên đồng ý ký tên, số còn lại mỗi người nêu một lý do để từ chối ký tên ! Bởi tháng 3 năm 1990 ông Trần Xuân Bách đã bị kỷ luật vì những luận điểm ná ná bản kiến nghị này. Thế mới biết ở thời ấy nỗi sợ hãi thật là ghê gớm. Trước tình hình đó, Nguyễn Kiến Giang đành xin phép các cụ một mình ông ký tên và gửi cho Bộ chính trị!

Bản kiến nghị Khủng hoảng và lối ra dài hơn 17 trang giấy A4, hơn 10.000 từ. Xin lược ghi những điểm quan trọng.

ĐẶT VẤN ĐỀ:

“Tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài là hiện thực cơ bản bao trùm toàn bộ đời sống xã hội nước ta không ai không thừa nhận….. Văn kiện Đảng gọi là khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhưng thực chất của nó là thế nào? Nguyên nhân chủ yếu của nó? Có khả năng ra khỏi khủng hoảng hay không? Thoát ra bằng lối nào?

KHỦNG HOẢNG:

Đây là khủng hoảng toàn diện, khủng hoảng tổng thể của xã hội: kinh tế và xã hội, tinh thần và đạo đức, tư tưởng và chính trị. Khủng hoảng ở mỗi lĩnh vực vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của khủng hoảng ở các lĩnh vực khác”

Các quan hệ sở hữu không phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, do đó vẫn tiếp tục kìm hãm và phá hoại những năng lực sản xuất xã hội. Rõ nhất là ở khu vực sở hữu nhà nước, đang biến thành ổ chứa những bệnh tật hiểm nghèo: Tham nhũng, buôn lậu và lãng phí vô tội vạ…. Những phần tử thoái hóa biến chất trong bộ máy nhà nước móc ngoặc với những phần tử lưu manh kết thành những mafia có thế lực khá lớn.

Sự phân hóa xã hội không lành mạnh đang diễn ra…. Nghèo khổ lạc hậu cộng với bất công xã hội làm cho tình hình xã hội rất ngột ngạt.

Trong hoàn cảnh đó, khủng hoảng về tinh thần là không thể tránh khỏi. Chưa bao giờ con người sống chông chênh và lo lắng như bây giờ. Chưa bao giờ đạo đức xã hội bị xói mòn và băng hoại như bây giờ. Tội ác xảy ra ngày càng tăng, mang những hình thức nghiêm trọng hiếm thấy… Các giá trị tinh thần bị lật ngược: Người ngay sợ kẻ gian, người lương thiện có năng lực sống khổ cực hơn kẻ cơ hội; xu nịnh trở thành “mốt” phổ biến.

Khủng hoảng có khía cạnh quốc tế của nó. Xu thế dân chủ hóa phát triển rộng rãi và mạnh mẽ. Trong khi đó nước ta vẫn sống trong thế cô lập với thế giới bên ngoài. Tính chất lạc hậu, lạc điệu của nước ta càng nổi bật lên,tạo thành một sức ép tinh thần lớn đối với nhân dân, nhất là lớp trẻ và giới trí thức..

Khủng hoảng ở nước ta hiện nay tập trung nhất ở khủng hoảng chính trị. Đảng duy trì địa vị độc tôn quá lâu, biến sự lãnh đạo của mình là một tất yếu khách quan trong đấu tranh giải phóng dân tộc thành chế độ đảng trị hiện nay là một áp đặt chủ quan… Đảng đã tự đánh mất uy tín vốn có. Trong điều kiện đó không thể nói tới một nhà nước pháp quyền. Xã hội gần như sống không có luật pháp. Chỉ cần nhắc tới một sự thật là đã phát hiện 10.000 vụ tham nhũng, nhưng chỉ đưa ra xét xử vài chục vụ mà cũng không xét xử đến nơi đến chốn.

LỐI RA:

Về mặt quốc tế: Quốc tế hóa kinh tế, tiến bộ khoa học – công nghệ, dân chủ hóa đời sống xã hội của nhân loại đang tạo cho chúng ta những điều kiện hòa chung vào trào lưu văn minh hiện đại.

Trong nước, những lực lượng ủng hộ đổi mới có khắp nơi, chỉ cần có sự lãnh đạo sáng suốt. Có 2 điểm cần làm rõ:

1- Bài học từ Đông Âu không phải là kìm giữ, bị động đối phó với dân chủ hóa và đổi mới chính trị mà phải là chủ động thực hiên dân chủ hóa và đổi mới chính trị từng bước vững chắc, triệt để.

2- Dân chủ hóa không đe dọa sẽ tước mất vai trò lãnh đạo của Đảng. Chỉ có đảng nào không gắn bó với nhân dân, biến sự lãnh đạo của mình thành chế độ đảng trị và cố bám giữ lấy nó thì mới bị sụp đổ.

Chuẩn bị mảnh đất tốt cho sự phát triển lâu dài của đất nước trên nền tảng văn minh chung của loài người đã được khảo nghiệm là: Xã hội dân sự (Nguyễn Kiến Giang dùng thuật ngữ “xã hội công dân”); kinh tế thị trường; nhà nước pháp quyền.

Phải tách Đảng ra khỏi các chức năng nhà nước, tách nhà nước ra khỏi chức năng quản lý, điều hành kinh tế, mới có thể vận hành có hiệu quả guồng máy kinh tế- xã hội.

Thay đổi quan hệ sở hữu: Chuyển sở hữu nhà nước thành sở hữu cổ phần và sở hữu tư nhân những phần còn lại. Đối với nông dân thực hiện quyền có (droit de possession) về ruộng đất lâu dài, kể cả quyền thừa kế và chuyển nhượng.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng xây dựng xã hội dân sự, nhà nước pháp quyền sát chuẩn mực quốc tế.

Phát huy năng lực trí tuệ của giới trí thức. Tôn trọng tự do tư tưởng, tự do sáng tác, tự do báo chí. Xóa bỏ độc quyền chân lý là một yêu cầu bức bách về chính trị.

Chuyển quyền lực chính trị từ các cơ quan Đảng sang các cơ quan đại diện quyền lực nhân dân. Tuyên bố xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp quy định vai trò của Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội chỉ được thực hiện bằng phương pháp thuyết phục.

Mặt trận Tổ Quốc đứng ra triệu tập một Đại Hội quốc dân mới theo kinh nghiệm Đại hội quốc dân ở Tân Trào trước khởi nghĩa Tháng 8 1945 để bàn và quyết định Một chương trình khắc phục khủng hoảng.

Theo tinh thần hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc, Đảng chỉ cần bảo đảm cho mình một nửa số đại biểu, hoặc một đa số tương đối trong Quốc hội.

Bản kiến nghị với những điều đặt ra hết sức thiện chí đã bị xếp xó. Do đó mà sau 22 năm, tình trạng khủng hoảng toàn diện của đất nước đã tăng lên theo cấp số nhân! Thực tế đất nước và nguyện vọng bức xúc của nhân dân đã hun đúc đưa tới sự ra đời của Bản kiến nghị 72. “Kiến nghị 72” là liều thuốc mạnh chữa một bệnh trạng của Đảng độc quyền lãnh đạo “ung thư đã di căn”, gồm các điểm quan yếu:

- Theo nguyên tắc chủ quyền nhân dân, không định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc một tổ chức chính trị.

- Quy định quyền con người theo đúng tinh thần Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 và các Công ước quốc tế.

- Đất đai thuộc nhiều quyền sở hữu: tư nhân, tập thể, cộng đồng, nhà nước.

- Nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập.

- Quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân.

- Quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc.

Trí tuệ và tầm vóc lớn lao của kiến nghị lần này không phải ở con số gấp 72 lần, cũng không phải 15.000 lần tương ứng với số người đã hưởng ứng ký tên. Điều quan trọng là nó mang sức mạnh tỉnh thức của nhân dân, nhận ra cái tất yếu nhất thiết phải xảy ra! Một số nhà lý luận “phò chính thống”(theo cách nói của Nguyễn Kiến Giang) cố cãi chày cãi cối rằng, 72 hoặc 15000 vẫn là thiểu số. Các ông không nhớ rằng, Kim Ngọc, người khai sinh khoán 10 là rất thiểu số! Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945 với 5000 đảng viên là rất thiểu số! Vấn đề không phải là ít hay nhiều mà là tiềm năng có thể nhân lên nhanh chóng để chiến thắng, hoặc ngược lại thì, dù là một thực thể khổng lồ nhưng rất dễ bị thoái hóa, lụi tàn. Điều quyết định là ở chỗ thuận theo lòng dân và hợp với xu thế tất yếu của thời đại.

Tiếc thay, bản Hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh vừa được thông qua, chẳng những không đếm xỉa góp ý của nhân dân mà còn bác bỏ nhiều điều đã được chính Chính phủ gồm có ủy viên Bộ chính trị, ủy viên BCH TƯ đã thảo luận và biểu quyết !

III. XIN CHỚ VỘI REO MỪNG, CŨNG ĐỪNG BUỒN TANG KHỐC!

Vô cùng trân trọng sự âu lo của nhà văn Võ thị Hảo khi nghe bà đau đớn kêu lên, ngày thông qua Hiến pháp là ngày tang khốc của dân tộc! Xin đừng quá đau buồn, hãy nhìn kìa, sự tất yếu vẫn cứ đang lừng lững đi tới!

Biên soạn bản Hiến pháp này, người ta đã rất dày công, khéo léo chọn từng câu, tìm từng chữ để hóa trang cho nó có bộ mặt dân chủ, nhân quyền. Trước kia, Stalin, Mao Trạch Đông không cần điều đó. Nói chi xa, Hiến pháp 1980 không cần điều đó. Nghĩa là thời đại đã dần dần buộc dù muốn toàn trị cũng không được ngang nhiên, mà phải khéo diễn đạt bằng ngôn từ tự do dân chủ! Và khi đã đóng vai ông Thiện thì không thể vung dùi cui bạt mạng được!

1 – “Viết hoa chữ Nhân dân”

Ngày 9-12 2013 họp báo công bố Hiến pháp, ông Phan Trung Lý chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho biết “Lần đầu tiên trong Hiến pháp, chúng ta viết hoa chữ “Nhân dân nâng lên một bước vai trò của Nhân dân, Hiến pháp trước hết khẳng định chủ quyền của Nhân dân”.

Viết hoa chữ nhân dân là học cách nói của nhà văn Maksim Gorky khi ông nói “Con người viết hoa” để tỏ ý trân trọng con người lao động và tự do, chứ không phải ông viết hoa chữ con người trong các tác phẩm của mình! Tuy vậy, không vì cách nói của ông mà làm cho nhà nước xô viết Stalin tôn trọng con người, để nhờ đó mà tránh khỏi diệt vong. Các nhà ngôn ngữ sẽ cho ý kiến cách viết đó có đúng ngữ pháp hay không, nhưng vấn đề cần nói là liệu viết hoa tất cả chữ nhân dân trong Hiến pháp có tạo ra được điều kiện để khẳng định chủ quyền nhân dân trong thực tế? Xin nêu 2 điểm sau đây để cùng suy nghĩ:

- Khiếu kiện là một hình thức tỏ bày ý kiến rất cao so với những kiến nghị ở các cuộc họp, hoặc góp ý của cử tri. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói”Không ai thích thú gì đi khiếu kiện”. Vậy thì tại sao người dân bắt đầu khiếu kiện suốt hơn 10 năm qua mà cho đến nay nguyên nhân chính của nó là lời hứa “người cày có ruộng” từ những năm 30 và trước cuộc cải cách ruộng đất ở thế kỷ trước, vẫn chưa được ghi nhận trong Hiến pháp này? Chắc chắn rồi đây, người nông dân sẽ không thể câm lặng!

– Chủ quyền nhân dân nằm trong cái khung của Cương lĩnh! Đại biểu Dương Trung Quốc khi trả lời chuyện ông không bỏ phiếu tán thành Hiến pháp :“Khi đặt lên bàn thì phải nói là các nhà lãnh đạo Quốc hội cũng rất muốn mở rộng dân chủ để mọi người tham gia. Có lẽ cuộc thảo luận đó nó đã khá rộng rãi và nó đi quá giới hạn mà theo tôi quan niệm, là vượt quá xa Cương lĩnh của Đảng cộng sản cho nên về sau họ điều chỉnh lại”. Như vậy “chủ quyền nhân dân” không thể vượt qua cái khung mà Đảng đặt ra trước đó!

2 – Ở các nước dân chủ, Hiến pháp là quyền lực tối thượng.

Các Đảng cầm quyền ở các xã hội dân chủ phải xây dựng cương lĩnh của Đảng sao cho nhân dân thấy rằng Cương lĩnh đó có chất lượng thực thi Hiến pháp hiệu quả nhất. Khi quyền con người được Hiến pháp ghi nhận thì nhân dân cứ theo đó mà thực hiện, không phải “theo quy định của pháp luật”để cắt xén vô lối. Ngay dưới chế độ thực dân Pháp, ngày 22-7-1938, Đảng cộng sản Việt Nam đã ra báo Dân chúng không xin phép tại số nhà 43- đường Hamelin (nay là Lê thị Hồng Gấm, quận 1, TP HCM). Chính quyền thực dân Pháp đã chấp nhận. Chẳng lẽ sau nửa thế kỷ đổ bao xương máu để giành độc lập, tự do, người Việt Nam thực hiện quyền tự do ngôn luận theo Hiến pháp lại bị trấn áp bởi Đảng cộng sản mà mình đã cưu mang? Chẳng lẽ người Việt Nam có một nhà nước “dân chủ gấp vạn lần hơn” như lời bà Phó chủ tịch nước, lại không thể tự do lập ra một cái Hội nhà văn cỡ như Tự lực Văn đoàn dưới nanh vuốt của thực dân Pháp? Nhà nước Việt Nam vừa đắc cử vào Hội đồng Nhân quyền thế giới với số phiếu cao tuyệt đối. Vậy thì thế giới nhìn vào Việt Nam, họ sẽ nghĩ sao? Và nhân dân Việt Nam nhìn ra thế giới sẽ nghĩ sao về thân phận của mình? Xin đừng quá bi quan! Một sự kiện có tính lịch sử: ngày 23 tháng 9-2013, Diễn đàn xã hội dân sự đã ra đời với một Ban cố vấn gồm có 8 vị có uy tín đã công khai danh tính. Diễn đàn xã hội dân sự thành lập trang mạng với bài vở nhiều chiều, phong phú, do Tiến sĩ Nguyễn Quang A và nhóm trị sự điều hành, qua 2 tháng có hàng triệu khách ghé thăm. Sự kiện này có hai ý nghĩa: Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam muốn chứng minh quyền con người được ghi trong Hiến pháp là có thực; mặt khác, người Việt Nam cũng đã bắt đầu hiểu rằng quyền con người là do “tạo hóa ban tặng”, không phải cúi xin và chờ được cho. Rồi từ đó, quyền dân chủ của công dân cũng sẽ được hiểu như thế, phải đòi hỏi một chế độ bầu cử tự do để có một Quốc hội thực sự của dân, do dân, vì dân.

3- “Đảng phải như thế nào mới là Đảng lãnh đạo chứ!”

Để chứng minh Đảng cộng sản Việt Nam xứng đáng là Đảng lãnh đạo, TBT Nguyễn Phú Trọng nói: “Một Đảng gần dân, liên hệ mật thiết với nhân dân, bảo vệ quyền lợi của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Đảng như thế mới là Đảng lãnh đạo chứ!”.

Như vậy là từ nay nhân dân sẽ đòi: Không thể để cho một ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh bất chấp việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, ngang nhiên khẳng định Trường Sa, Biển Đông là của họ, vẫn cứ sang Tàu cam kết đưa họ lên vùng đất Tây nguyên có ý nghĩa chiến lược về an ninh, để khai thác bô xít, tàn phá môi trường, đe dọa nguồn nước sông Đồng Nai, bán alumina cho họ dưới giá thành, mà không bị gọi ra tòa! Từ nay, Đảng sẽ phải chịu trách nhiệm về việc “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” ghi trong Hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh”, nếu nó tiếp tục gây thất thoát cỡ Vinashin. Đảng sẽ phải chịu trách nhiệm về việc từ chối nội dung nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, nếu nạn tham nhũng tiếp tục hoành hành không thể ngăn chặn. Nhân dân phải có tiếng nói của mình khi câu “tình trạng tham nhũng diễn biến phức tạp, chưa ngăn chặn được” cứ lặp đi lặp lại từ nghị quyết Đại hội này sang Đại hội khác. Mới đây, ngày 13-12- 2013, Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Việt Nam tham nhũng đứng thứ 4 Châu Á, chỉ khá hơn 3 nước đại tham nhũng là Bắc Triều Tiên, Apganistan, Somalia. Đảng sẽ phải chịu trách nhiệm, nếu như năm 2014, Tổ chức Minh bạch thế giới lại tiếp tục có đánh giá tương tự ?

Cái tất yếu sẽ đến một cách hòa bình như vậy. Trong xu thế hội nhập quốc tế không có điều gì bưng bít được, cũng không có điều gì bị kiêng kỵ cho rằng chỉ phù hợp với Phương Tây. Bởi ông cha ta ngày xưa đã dám cắt bỏ cái búi tóc mà theo văn hóa truyền thống “ cái tóc là gốc con người”, tức là các cụ đã theo phương Tây đấy!

Lịch sử cho thấy thấy xu thế tất yếu nhất thiết phải xảy ra, không có thế lực nào ngăn chặn được. Nhưng tùy hoàn cảnh, điều kiện, nó sẽ đến nhanh hay chậm và với hình thức nào. Con người có thể tác động để tạo ra điều kiện tương ứng. Nếu các thế lực độc tài, bảo thủ điên cuồng ngăn chặn bằng vũ lực thì cái tất yếu sẽ đến cùng với gươm và súng. Đó là bài học Lybia, Syria. Tuy không cưỡng chế nhân dân bằng vũ lực, nhưng lại cố chần chừ, không chịu mau chóng cải cách chính trị thì, nó sẽ đến với cách mạng hoa cam, hoa nhài, như ở Ucraina. Dù không đổ máu, nhưng nó cũng gây xáo trộn, ngưng trệ sự phát triển đất nước. Sẽ rất may mắn nếu như đất nước có những nhà cầm quyền sáng suốt cùng nhân dân cải cách chính trị, thực hiện tự do, dân chủ thì “cái tất yếu” sẽ đến với nụ cười và niềm vui hòa hợp, hòa giải. Đó là cuộc Đổi mới kinh tế,(có thể gọi là “cải cách một nửa”!) của Đại hội 6 ở Việt Nam và cải cách triệt để như Myanmar mới đây. Cải cách triệt để, toàn diện để đất nước không phải qua cách mạng hoa cam, hoa nhài đang là tâm nguyện của người Việt Nam yêu nước. Có thể tin rằng, cuối cùng các nhà lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hôm nay sẽ vận dụng tốt nhất bài học từ Đại hội 6 của Đảng cộng sản Việt Nam để đón “cái tất yếu” đang hòa bình đi tới với nụ cười hòa hợp, hòa giải, đại đoàn kết dân tộc!

Ngày 17-12- 2013

T.V.C.

* Ông Tống Văn Công nguyên là Tổng biên tập báo Lao động.

Admin gửi hôm Thứ Tư, 18/12/2013
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Mai Thái Lĩnh - Làm thế nào để Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Dân?

Tùng Lâm - "Văn hóa từ chức" trên một nền tảng "không còn gì và chưa có gì"?

Nhật Ký Yêu Nước - Nước vẫn trẻ con

Nguyễn Huỳnh Khôi Nguyên - Trời KHÔNG tạo ra người đứng trên người!

Hồng Ngọc - Dân chủ, bầu cử, và không khí chính trị


Nguyễn Nghĩ (khách viếng thăm) gửi lúc 18:31, 21/12/2013 - mã số 106448

"- Lực lượng Công an phải trung thành với Tổ Quốc , Nhân dân đã rồi mới trung thành với đảng," (CKKNSG)
Đất ở của tổ quốc, cơm ăn áo mặc là tiền thuế của dân, hỏi không trung thành sao được?

Thế Hệ Bills Jobs (khách viếng thăm) gửi lúc 17:24, 20/12/2013 - mã số 106364

Thực tình chúng iem thấy rằng có những chuyện chúng iem vẫn nghĩ là rất đời thường mà sao nghe các cụ 'lão thành cách mạng' như cụ Công này nói ra có vẻ gì ghê gớm, to tát lắm, tỉ dụ như 'đổi mới', 'dân chủ', 'thị trường' ... Thú thật thời các cụ lúc trước chả biết ra sao, chứ thời nay bọn chúng iem cảm nhận mấy chuyện đó rất bình thường, đương nhiên là phải như thế, cũng như đương nhiên là phải có Internet, Google, Facebook, Youtube mobile phone, laptop, ...

Ở hàng trăm nước khác thiên hạ vẫn đang sinh sống như thế chứ có gì kỳ lạ đâu. Thế mà các cụ nhà ta cứ phải dằn vặt khổ sở, tâm tư đong đầy tâm trạng nặng nề quá, làm như phải 'đấu tranh tư tưởng' cam go lắm mới 'bứt phá ' được.

Các cụ còn tư duy cái kiểu trì trệ như này, chắc muộn quá rồi không kịp bỏ được nữa, mà cứ đòi 'dẫn dắt' chúng iem tranh đua với bọn cùng thế hệ ở các nước khác thì thật thiệt thòi cho chúng iem quá :(

thichkhach (khách viếng thăm) gửi lúc 16:20, 20/12/2013 - mã số 106362
Khách Tôn Kính Đảng viết:

.....

gọi cụ Hồ là chủ tịch thì rõ là nước ta theo XHCN (tức CS).....

Hồi ấy người dân biết cụ Hồ theo CS thì người ta đã chẳng theo. Trò tinh quái của cụ Hồ là né tránh những điều cần rõ ràng minh bạch, mà cứ để u u minh minh, lập lờ thế thôi.

....

LỪA NGƯỜI KHÁC VÀ LỪA CẢ CHÍNH BẢN THÂN MÌNH.

.....

ĐỔI MỚI:

MỘT LÀ QUAY VỀ CÁI CŨ và
HAI LÀ BẮT CHƯỚC CÁC NƯỚC TƯ BẢN.

......

Điều này ý tôi khác ý ông TVC đấy. ....

Tớ khoái còm nì của cụ.

Ngon lành. Tớ éo có tin các cụ cách mạng lão thành. Các cụ còn bận tính sổ hưu. Các cụ sợ đảng ngủm thì sổ hưu không cánh mà bay lên thiên đàng.

B&W (khách viếng thăm) gửi lúc 11:17, 20/12/2013 - mã số 106351

Không phải Cái Tất Yếu đang lừng lững đi tới, mà đảng ta đang lừng lững đi ngày càng đến gần Cái Tất Yếu.

Cái Tất Yếu đó chính là thứ được người ta gọi "thùng rác lịch sử".

Khách Tôn Kính Đảng (khách viếng thăm) gửi lúc 22:42, 19/12/2013 - mã số 106316

Lâu lắm mới thấy một bài viết hay như thế này, văn phong nhẹ nhàng, dễ hiểu, lập luận khá sắc xảo, cùng một vấn đề, nhưng bài viết này thể hiện rành rọt. Bài này không có nhiều ý mới, nhưng với cách trình bày của tác giả thì dễ tiếp thu hơn. Thế nhưng vẫn có một vài chi tiết cần bàn thêm và cần bàn lại.

Trước hết đi vào một vài chi tiết râu ria, không phải trọng tâm:
- Ngay phần mở đầu tác giả đã viết: "Sau khi Hiến pháp được Quốc hội thông qua với số phiếu áp đảo, dư luận cả nước sôi hẳn lên." Cuộc bầu cử quốc hội vừa qua thì bên ta bỏ phiếu cho bên mình, không có năm bè bẩy phái, tức là Đảng CS không có đối thủ thì làm gì có ai "áp đảo" ai.
- Đến phần chữ "Nhân dân" viết hoa thì tác giả có lời bình như sau: "Các nhà ngôn ngữ sẽ cho ý kiến cách viết đó có đúng ngữ pháp hay không", đây thuộc lĩnh vực chính tả chứ đâu thuộc về ngữ pháp. Còn nếu xét một vài câu trong HP thì không sai ngữ pháp nhưng lại sai lô gíc, nghĩa là nói không rành mạch, ngôn từ chồng chéo và có chỗ còn mâu thuân, ví dụ nói ta theo chủ nghiã Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giải thích tư tưởng HCM là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Như vậy chủ nghĩa Mác Lê nin khác gì CNXH. Mặt khác đã độc lập dân tộc thì làm sao còn CNXH, CNXH là thế giới đại đồng, xóa nhòa biên giới quốc gia. Rồi có chỗ nói Đảng mang lại quyền lợi cho giai cấp công nhân và những người lao động và cả dân tộc. Thế thì nói mang quyền lợi cho cả dân tộc thì đã bao gồm tất cả mọi giai cấp mọi tầng lớp trong xã hội rồi. Rồi còn nói (điều này chỉ có trên ngôn từ chứ không có trong thực tế) ta phát triển kính tế thị trường định hướng XHCN. Kinh tế thị trường là kinh tế tư bản làm sao lại định hướng XHCN là nền kinh tế có kế hoạch, áp đặt từ trên xuống dưới (đã phá sản từ lâu).
Tác giả có so sánh HP 2013 với HP pháp 1946 và cho rằng HP 1946 tiến bộ hơn, điều này đúng nhưng tác giả không thấy HP 1946 có chỗ thiếu cơ bản, gây ra hệ lụy sau này, đó là không quy định nhiệm kỳ của nguyên thủ quốc gia, cũng như không nêu rõ chức danh của nguyên thủ quốc gia là gì (điều này chưa thấy ai nêu ra). Đây là một hạn chế và cũng là một sai lầm nghiêm trọng của HP 1946, điều này thì có nhiều nguyên nhân nhưng nếu bàn đầy đủ thì quá dài, nhưng có thể tóm tắt là hồi đó những người làm HP không ngờ đến hậu quả, còn ông HCM thì (như nhiều cụ già đã nhận xét)là con người cực kỳ tinh quái, xảo trá và lật lọng. Nếu như HP 1946 quy định nhiệm kỳ người đứng đầu nhà nước là 4 hoặc 5 năm thì làm gì có việc ông già Hồ gữ chức chủ tịch từ 1946 đến 1969, gần một phần tư thế kỷ, ông Hồ còn kiêm luôn cả chức thủ tướng một thời gian kahs dài để chủ động điều hành bộ máy nhà nước theo ý ông ta, mãi năm 1949 ông Phạm Văn Đồng mới được làm phó thủ tướng và đến năm 1955 ông Đầng mới lên làm thủ tướng cho đến năm 1987. Nên nhớ là ông Mandela có công lớn trong việc hình thành nhà nước Nam Phi hiện nay và trở thành con người vĩ đại của cả hành tinh, nhưng ông ta cũng chỉ làm tổng thống một nhiệm kỳ mà thôi. HP 1946 lại không quy định chức danh người đứng đầu quốc gia là gì, nếu là nhà nước quân chủ lập hiến thì là vua, nếu là nước tư bản thì là tổng thống, còn quốc hiệu là VN DÂN CHỦ CỘNG HÒA, thế nhưng không rõ nhà nước đó là tư bản hay CS mà gọi cụ Hồ là chủ tịch thì rõ là nước ta theo XHCN (tức CS). Hồi ấy người dân biết cụ Hồ theo CS thì người ta đã chẳng theo. Trò tinh quái của cụ Hồ là né tránh những điều cần rõ ràng minh bạch, mà cứ để u u minh minh, lập lờ thế thôi.

Nhà văn Võ Thị Hảo có gọi ngày quốc hội vừa thông qua HP là "ngày tang khốc", nhưng thực ra quốc hội chưa thông qua HP mới thì dân ta cũng đã bị "tang khốc" từ lâu rồi, tức là từ khi Đảng CS lên cầm quyền, thế nhưng ông Tống Văn Công vẫn còn hy vọng Đảng CS có thể sửa đổi để đủ tín nhiệm lãnh đạo dân tộc ta. Phải nói rằng ông TVC không có thái độ dứt khoát và quyết liệt đối với Đảng CS. Nhiều người trước kia theo Đảng và cho rằng trước đây mình mù quáng và sai lầm, thì nay ông TVC lại vẫn còn sai lầm nữa ư?

Đảng đề ra ta theo CNXH, nhưng có ai biết CNXH là cái gì đâu? Cả Hội đồng lý luận trung ương và các vị GSTS giảng dạy, nghiên cứu ở trương Đảng cao cấp (tức học viện chính trị quốc gia HCM) cũng không biết CNXH là cái gì. Những người CS nêu chiêu bài CNXH thực ra là để

LỪA NGƯỜI KHÁC VÀ LỪA CẢ CHÍNH BẢN THÂN MÌNH.

Nay thì đến chính TBT cũng nói đến hết thế kỷ này thì chưa chắc đã có CNXH hoàn thiện. Đảng vừa u mê vừ lừa dối mà ông TVC còn hy vọng vào Đảng nữa ư? Ông viết: "Có thể tin rằng, cuối cùng các nhà lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hôm nay sẽ vận dụng tốt nhất bài học từ Đại hội 6 của Đảng cộng sản Việt Nam để đón “cái tất yếu” đang hòa bình đi tới với nụ cười hòa hợp, hòa giải, đại đoàn kết dân tộc!" Đây là điều không tưởng. Ông còn ca ngợi Đảng thực hiện cuộng "đổi mới", nhưng ông lại không nhận ra rằng

ĐỔI MỚI:

MỘT LÀ QUAY VỀ CÁI CŨ và
HAI LÀ BẮT CHƯỚC CÁC NƯỚC TƯ BẢN.

Thế nhưng Đảng lại vận dụng những điều CNTB manh nha mà nay người ta gọi đó là thứ tư bản cao bồi hay tư bản lưu manh, ở nước ta thì gọi đó là tư bản hoang dã, lại còn dùng quyền lực để cho loại tư bản này lên ngôi, HÌNH THÀNH LOẠI TƯ BẢN ĐỎ, vừa lưu manh vừa bạo ngược còn nguy hại hơn loại tư bản lưu manh ở các nước tư bản. Đã như vậy nhưng Đảng lại vẫn hô hào theo CNXH, trong khi đó thì chỉ công hữu đất đai để làm nguồn ăn cướp của dân nghèo, còn lại cổ phần hóa các cơ sở kinh tế quốc doanh, TỨC LÀ TƯ NHÂN HÓA. Nghĩa là có cái thì Đảng cố hướng theo tư bản, có cái lại "tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH", tạo ra một nên kinh tế quái thai, dị dạng để có lợi cho Đảng. Đảng chỉ bắt dân làm theo ý mình chứ Đảng có nghe ý dân đâu.

Nếu nhìn về những biến đổi ở nước ta trong thời gian trên dưới nửa thế kỷ qua thì thấy rõ những sự biến đổi ở nước ta đều do các yếu tố nước ngoài chi phối. Thế nhưng muốn lợi dụng những yếu tố nước ngoài thì không phải người dân ta cứ ngồi chờ, mà phải đấu tranh hạn chế dần dần quyền lực của Đảng, phải đòi tách Đảng ra khỏi nhà nước, Đảng tôn trọng dân thì HP phải do dân định đoạt và Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, mọi người đều bình đẳng và phải thực hiện tam quyền phân lập. Mọi hoạt động của Đảng chỉ được giới hạn trong tiền đảng phí, chứ không được bắt người dân dóng góp, trong khi đó thì rõ ràng Đảng chỉ đem lại quyền lợi cho một số đảng viên. Từ trước đến nay bao giờ Đảng cũng ở vào vị trí thiểu số nhưng quyền lợi lại chiếm đa số. Ngày nay sau gần cả thế kỷ Đảng lên cầm quyền nhưng số đảng viên chỉ chiếm có hơn 3,5% dân số. Đa số nuôi thiểu số thì Đảng giàu có là phải. Trước kia còn hai miền, còn phe XHCN, Đảng hướng dân miền Băc theo chế độ XHCN để đối trọng với miền Nam theo chế độ tư bản. Nay thống nhất rồi, phe XHCN cũng đã tan tành thì Đảng phải điều chỉnh lại sự lãnh đạo, trước kia lãnh đạo nửa nước không nổi, nay thêm cả nước thì lại làm rối tinh cả lên. Điều chỉnh lại sự lãnh đạo là Đảng phải để cho người dân quyền lựa chọn lãnh đạo, không thể độc tôn mãi được. Việc "phê và tự phê" là chuyện điều chỉnh trong nội bộ của Đảng, không liên quan gì đến đại đa số nhân dân không cần Đảng. Phải để nhà nước của dân lãnh đạo nhân dân. Điều này ý tôi khác ý ông TVC đấy. Còn ý các vị khác thế nào thì xin các vị phát biểu trên trang mạng không gian mở này.

Nhiên Tuệ gửi lúc 12:05, 19/12/2013 - mã số 106289

Bạn Rạng Đông cho rằng bài viết này là tuyệt vời, "không thiếu, không thừa một ý nào". Tôi thì tôi cho rằng bài viết đã thừa, ít nhất là câu này:

Tên tác giả viết:
Có thể tin rằng, cuối cùng các nhà lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hôm nay sẽ vận dụng tốt nhất bài học từ Đại hội 6 của Đảng cộng sản Việt Nam để đón “cái tất yếu” đang hòa bình đi tới với nụ cười hòa hợp, hòa giải, đại đoàn kết dân tộc!

Đến bây giờ mà vẫn còn ảo tưởng thế này thì không thể hiểu nổi cái trí tuệ của người viết đã trốn đi đâu mất rồi?

Khách CKKNSG (khách viếng thăm) gửi lúc 08:05, 19/12/2013 - mã số 106274

Trong Ngẫu nhiên có tất nhiên:
"Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa."(ND)
Cũng là đảng viên trực tiếp tham gia CCRĐ vừa cướp của ,vừa giết dã man nhiều người dân vô tội. Đến ngay nay lần lượt các vụ án tham ô, tham nhũng cũng tử hình toàn các đảng viên ưu tú của đảng mới giao cho quyền quản lý KT. Họ là bí thư các chi bộ luôn trong sạch và vững mạnh...
- Đã biết "quyền lực sinh ra tham nhũng" (NPT) mà vẫn cố giữ lấy điều 4 HP. Vậy phải thực hiện cái đuôi gán vào điều 4 là "đảng phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình". Nghĩa là dân muốn sau khi nhiều đv bị tử hình, tù chung thân và thất thoát lớn tài sản quốc gia này, đảng phải có động thái thể hiện trách nhiệm của mình về những vụ việc đó cụ thể như thế nào đi chứ! Hay là HP không có giá trị?
- Lực lượng Công an phải trung thành với Tổ Quốc , Nhân dân đã rồi mới trung thành với đảng, càng không phải chỉ trung thành với lời nói của TBT(vì ông này do năng lực có thể bị cách chức, thậm chí còn bị quy trách nhiệm hình sự vì để xảy ra nhiều vụ hình sự nặng)
-"Thế lực thù địch" mà TBT hay dùng để nghi binh chính là thế lực không giám nhận thức đúng, làm sai, ngạo mạn (thể chế hóa cương lĩnh...),làm suy yếu nội bộ , suy yếu quốc gia, gây tiếng tăm xấu cho cộng đồng QT về hình ảnh VN qua những vụ án bị phô ra!

Rạng Đông (khách viếng thăm) gửi lúc 22:02, 18/12/2013 - mã số 106222

Tuyệt vời! Bài viết không thiếu không thừa một ý, một chữ nào.

Tống Văn Công viết:
Đầu năm 1991, trước thềm Đại hội 7, tình hình kinh tế đã có chuyển biến khá, nhưng đất nước chưa thoát khỏi khủng hoảng. Một số lão thành cách mạng họp nhau nhận diện cuộc khủng hoảng và bàn bạc tìm lối ra. Các cụ nhất trí giao cho ông Nguyễn Kiến Giang, nguyên Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự thật chấp bút. Đến tháng 3-1991 bản kiến nghị viết xong với tựa đề là “Khủng hoảng và lối ra”. Các cụ họp lại đọc, tất cả đều tán thành, nhưng chỉ có cụ Lê Giản, nguyên giám đốc Nha Công an đầu tiên đồng ý ký tên, số còn lại mỗi người nêu một lý do để từ chối ký tên ! Bởi tháng 3 năm 1990 ông Trần Xuân Bách đã bị kỷ luật vì những luận điểm ná ná bản kiến nghị này. Thế mới biết ở thời ấy nỗi sợ hãi thật là ghê gớm. Trước tình hình đó, Nguyễn Kiến Giang đành xin phép các cụ một mình ông ký tên và gửi cho Bộ chính trị!

Cảm ơn cụ Tống Văn Công rất nhiều. Cháu đi tìm câu trả lời này rất lâu rồi. Cháu thắc mắc mãi tại sao hồi đó những tinh hoa, những trí thức trốn đi đâu hết mà lại để ông Trần Xuân Bách, Nguyễn Kiến Giang cô đơn như vậy. Hàng vạn trí thức có đầu óc mà lại khiếp nhược một ông lú lẫn... thiến heo.

MP (khách viếng thăm) gửi lúc 21:22, 18/12/2013 - mã số 106216

Đảng CSVN nhận thức được cái tất yếu, nhưng nhận thức của đảng CSVN nó khác với ông đấy ông Tống Văn Công ạ.

Gửi phản hồi mới (xin gõ tiếng Việt có dấu và tuân thủ Nguyên tắc Dân Luận để được chấp nhận)

Bạn có thể bịa một địa chỉ email bất kỳ, ví dụ test@gmail.com. Thông tin này sẽ không xuất hiện công khai khi phản hồi được đăng.
  • Bạn có thể sử dụng các thẻ BBCode trong bài. Các địa chỉ URL sẽ được tự động chuyển thành liên kết.
  • Bạn có thể trích bài của người khác bằng thẻ [quote], ví dụ: [quote]Nội dung muốn trích dẫn[/quote]
  • Bạn có thể sử dụng những thẻ HTML sau: <a> <em> <strong> <ins> <b> <i> <u> <br> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd> <h1> <h2> <h3> <h4> <h5> <table> <tbody> <td> <tr> <pre> <img> <div> <span> <object> <hr> <center> <font> <blockquote> <strike> <embed> <param> <del> <ins> <sub> <sup>
  • Bạn có thể chèn video vào bài viết bằng thẻ [video:địa_chỉ_url_của_video]
  • Cách dòng và cách đoạn sẽ được tự động chuyển thành xuống dòng.

Nhấn vào đây để biết thêm chi tiết về cách định dạng bài viết...

To prevent automated spam submissions leave this field empty.
CAPTCHA
Bạn bắt buộc phải trả lời câu hỏi kiểm tra dưới đây. Nó giúp chúng tôi nhằm lọc bỏ các nội dung spam do robot tự động thực hiện.
11 + 4 =
Giải bài toán đơn giản này và nhập kết quả vào ô phía trên. Ví dụ, nếu thấy 1+3, thì hãy nhập 4.

Bấm vào đây để xem thể lệ cuộc thi sáng tác video Quyền Con Người và Tôi 2013

Suy ngẫm

Một xã hội không cho mọi người tự do trình bày ý kiến của mình là một xã hội chết rồi. Trong quá khứ, chúng ta mắc quá nhiều sai lầm bởi không ai cho chúng ta được tự do trình bày ý kiến riêng của mình, trong tất cả các lĩnh vực, từ lớn đến bé, từ quân sự đến kinh tế. Không phải không biết mà không dám nói, nhiều người biết nhưng không dám trình bày.

— Nghệ sĩ Nhân dân Trần Văn Thuỷ

Mới Mới Mới

Thống kê truy cập

Hiện có 1 thành viên603 khách truy cập.

Thành viên online

Tâm Như

Kỷ lục: Có 2315 người ghé thăm vào 11-03-2013 lúc 13h29.

Thực đơn của bạn